13.1 C
Da Lat
Thứ Ba, 13 Tháng 1, 2026

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
Trang chủ Blog Trang 90

[THĐP Review] Lược Sử Vạn Vật, Bill Bryson – Say mê từ một hạt nguyên tử đến những dải thiên hà

0

thđp review

(2364 chữ, 9.5 phút đọc)

722 trang, sách khoa học, lúc mới xem qua cuốn Lược sử vạn vật là tôi đã thấy e ngại cho việc đọc của mình. Không phải vì nó dày cộp mà vì cảm giác đầy ứ trong quãng đời đi học phổ thông và đại học của tôi ùa về với rất nhiều những bài thi, bài vấn đáp về các tầng khí quyển, chu kỳ bán rã của các chất phóng xạ hay số vi khuẩn chen chúc nhau trong một viên đất. Nên dù được mua cách đây vài tháng bởi sự cao hứng nhất thời, cuốn sách rất thành công của Bill Bryson vẫn bị tôi để xó không dám chạm vào.

Và đến hôm nay, sau khi đọc xong nó, tôi mới nhận ra cảm giác dè dặt trước kia là một trong những đánh giá hồ đồ, trẻ con nhất mà tôi từng có.

Về nội dung, Lược sử vạn vật trình bày một cách ngắn gọn lịch sử nghiên cứu khoa học tự nhiên, những thành tựu khoa học trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên chính. Đây là cuốn sách khoa học phổ thông bán chạy nhất nước Anh năm 2005 với hơn 300.000 bản in. Nó đã được nhận xét bởi nhà phê bình người Anh, Craig Brown, rằng tác phẩm này xứng đáng bán được 500 tỷ cuốn (bằng với số proton có trong một dấu chấm câu.)

Không hề giống như những sách khoa học khác, Lược sử vạn vật kể câu chuyện từ những hạt nguyên tử đến những dải ngân hà, từ những con vi khuẩn đến những bầy khủng long một cách vô cùng duyên dáng, thông minh và hóm hỉnh. Bằng vô số những so sánh những hiện tượng khoa học với những điều bình dị gần gũi của đời sống thường ngày mà những thông tin trong sách được đón nhận trong sự thích thú. Khi đọc Lược sử vạn vật, trí tưởng tượng của tôi được mở rộng liên tục cũng không khác gì khi xem một bộ phim khoa học viễn tưởng.

 “Chỉ cần chệch đi một li khỏi những mắt xích tiến hóa này, giờ đây có thể bạn đang liếm tảo trong các hang, lang thang như những con hải mã trên các bãi đá ven biển, hay phun không khí từ một lỗ thở trên đỉnh đầu trước khi lặn sâu 60ft để đớp một miệng đầy sâu biển.”

Hay:

“Vì thế tôi có thể nói rằng nó (hằng số Avogadro) tương đương với số hạt bỏng ngô cần thiết để bao phủ toàn bộ nước Mỹ dưới độ sâu 9 dặm. Đó cũng là số các đồng xu Mỹ đủ để khiến tất cả mọi người trên thế giới này trở thành triệu phú đô-la.”

Thay vì xếp hàng đánh số, gạch đầu dòng những thông tin cơ bản về thế giới một cách tẻ nhạt, Bill Bryson biến hóa tất cả khối thông tin khổng lồ vào trong một cuộc hành trình phát triển của thế giới – nơi mọi thứ đều có sự liên kết nhịp nhàng. Ta có thể được chứng kiến câu chuyện về sự nhẫn nại của đám địa y, sự mưu mẹo của lũ vi khuẩn, sự duyên dáng của hệ mặt Trời và bên cạnh đó là sự lập dị đến mức điên rồ của các nhà khoa học đang nghiên cứu những thực thể đó.

Tôi đã rất ngạc nhiên khi người viết nên cuốn sách này lại không phải một nhà khoa học. Ông Bill Bryson chỉ đơn thuần có một sự tò mò to lớn với thế giới và muốn trả lời những câu hỏi của bản thân mà những cuốn sách giáo khoa không hề đề cập tới, hoặc có thì chúng lại chẳng hề đúng như thực tế. Với hơn ba năm vùi đầu vào các tác phẩm khoa học và thảo luận với nhiều nhà khoa học tên tuổi trên thế giới, Bill Bryson đã tìm ra được những đáp án cần thiết. Khi đọc cuốn sách này, nếu may mắn, bạn có thể nhận được câu trả lời cho một nỗi băn khoăn nào đó của mình, như một cân sắt có thật sự nặng bằng một cân gỗ không chẳng hạn.

Đùa thôi, Bill Bryson không đề cập gì đến vụ cân đong này đâu, nhưng đây cũng là một câu hỏi đáng để tìm hiểu đấy nhỉ?

Cuốn sách này mang văn phong rất linh hoạt, lôi cuốn, cùng sự liên tưởng, so sánh dồi dào. Nhưng nếu bạn không quen với những thuật ngữ khoa học đại cương từ trước thì Lược sử vạn vật sẽ vẫn là một món “nặng đô” khó nuốt. Nếu muốn nắm bắt triệt để những gì tác giả đang cố gắng tường thuật hoặc mỉa mai, bạn sẽ phải liên tục xoắn não với hàng loạt các định luật, lý thuyết, khái niệm, nguyên lý từ đủ các bộ môn vật lý, toán học, sinh học, hóa học, địa chất, khí tượng thủy văn, hải dương học; cùng với đó là hàng tá tên tuổi những nhà khoa học mang đa dạng tính cách và số phận nối từ năm này sang năm nọ như một hội thi tiếp sức. Quả thực, mới hình dung như vậy thôi đã đủ thấy được sự khổng lồ về thông tin của cuốn sách và bộ óc lỗi lạc của tác giả trong việc sắp xếp và xử lý chúng để đưa đến độc giả một sản phẩm sống động.

Trước kia, hồi còn đi học cấp hai, tôi thường theo dõi những những cuốn truyện, tạp chí hay chương trình TV kể về cuộc đời của những nhà khoa học, giải mã các hiện tượng tự nhiên hay khám phá thế giới động vật hoang dã. Sau này khi lên đại học, theo đuổi một ngành khoa học tự nhiên, đôi lần may mắn tôi cũng gặp được những giảng viên mang trong mình niềm say mê với thế giới. Vào những tiết học ngắn ngủi, họ đã truyền cảm hứng cho những sinh viên qua những câu chuyện về mối liên quan giữa entropy và tính kỷ luật của con người, sự tương đồng giữa việc ghép đôi của các electron trong obitan và tình yêu nam nữ, hay đơn giản họ lý giải sắc đỏ của hoàng hôn từ đâu mà thành khiến sau này tôi thích ngắm mặt trời lặn hơn bao giờ hết. Có thể nói, tình yêu và sự tò mò với thế giới trong tôi đã được cuốn sách này khơi lại không hề nhỏ.

Thật sự, thế giới này rất đẹp đẽ, màu nhiệm, và khoa học là một lĩnh vực vô cùng quyến rũ. Nhưng khi mục đích của người đến trường là đạt được điểm số lớn hay cầm trên tay tấm bằng đỏ để đệm lót cho một sự tiến thân về mặt xã hội thì những sắc màu sống động của khoa học ở trong những cuốn sách giáo khoa hay giáo trình không còn được chăm chút nhiều nữa. Những công thức được người ta học thuộc một cách máy móc để hòng tính cho ra nhanh nhất kết quả sinh năng lượng của một bước nhảy electron hay sự thay đổi chiều dài tương đối của một đoàn tàu khi nó dịch chuyển với vận tốc bằng 60% tốc độ ánh sáng. Rồi họ vội vàng khoanh tròn đáp án A hoặc C gì đó trước khi huy động một công thức tiếp theo trong trí nhớ. Dần dà, khoa học bị mang tiếng rằng khô khan, tẻ nhạt, và thế giới hữu hình này chẳng còn mấy ai ngắm nhìn say sưa nữa.

Đọc cuốn Lược sử vạn vật, tôi thật sự thấy xúc động, không chỉ bởi sự kỳ vĩ và bí ẩn của thế giới, hay sự hiện diện quý giá với xác xuất cực thấp bản thân, mà còn vì tình yêu lớn lao của tác giả đối với khoa học được thể hiện qua từng trang viết tỉ mỉ đến kinh ngạc. Và sâu trong những câu chuyện là sự khao khát khám phá thế giới tự nhiên cùng ý chí, nghị lực phi thường của con người. Trong quá trình dấn thân ấy, họ đã phải đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả tính mạng của mình.

Người ta bảo rằng khoa học không thể giải thích được chân lý hay chạm tay vào Thượng đế, nhưng tôi cho rằng nó có thể làm được việc đó, tương tự như văn học, âm nhạc, hội họa hay triết học. Chỉ là, chúng được diễn đạt bằng những công thức – thứ con người khó hình dung hơn so với một lời thơ hay một bức họa. Ví dụ như phương trình nổi tiếng của nhà vật lý người Đức Albert Einstein, E=mc2, được người ta nói rất nhiều ở trong những lớp học hay những giảng đường, nhưng có mấy ai để ý rằng nó ám chỉ về một năng lượng tiềm năng bên trong một con người ngang với sức công phá của 30 quả bom nguyên tử cỡ lớn. Chuyện này cứ như thể Einstein hóa thân vào nhân vật Yoda trong loạt phim Star Wars để nói về Thần Lực (The Force) có mặt trong vạn vật, hay các bậc chứng ngộ nói về tình yêu bên trong mỗi con người – thứ sức mạnh choáng ngợp khổng lồ chưa được khai phóng và tận dụng.

Cá nhân tôi cho rằng nếu tôn giáo nghiên cứu trải nghiệm của con người thì khoa học đi sâu vào trải nghiệm của thế giới. Những nhà khoa học cũng là những shaman – người đang tiến gần hơn với bản chất của thế gian hay của chính mình. Cuốn sách Lược sử vạn vật không chỉ kể những câu chuyện về nguyên tử, vũ trụ, đất đai, đại dương, các loài động thực vật, tổ tiên của con người, v.v… mà còn lồng ghép không ít những chiêm nghiệm sâu xa của tác giả về mục đích, sự vận hành của sự sống và những bằng chứng nhằm trả lời câu hỏi mà con người trên trái đất vẫn đau đầu tranh cãi, đó là Chúa có chơi trò xúc xắc không?

“Và chúng ta tồn tại trong vũ trụ này là vì chỉ trong vũ trụ này chúng ta mới có thể tồn tại.”

Nếu chỉ được dùng một từ duy nhất để mô tả cuốn sách kinh điển này thì tôi chọn từ “vĩ đại.” Không chỉ ở tầm nhìn hay sự hiếu kỳ của tác giả, mà còn ở trong chính đối tượng mà ông đã “liều lĩnh” kể chuyện – thế giới. Cuốn sách vĩ đại đến mức đối với ai đang quay cuồng với một vấn đề “to đùng” của bản thân, người đó chỉ cần với tay lật giở vài trang Lược sử vạn vật. Ngay lập tức, họ sẽ vươn mình ra như vũ trụ quảng đại, hoặc vấn đề của họ sẽ thu nhỏ lại như một hạt nguyên tử tí hon. Rồi sau đó, khi đã vui vẻ với kích thước được thay đổi của các thứ, họ sẽ hiểu được thông điệp mà nhà thiên văn học, vật lý thiên văn, vũ trụ học, sinh học vũ trụ, tác giả sách, nhà phổ biến khoa học, nhà phát ngôn khoa học người Mỹ, Carl Sagan muốn nói trong bài phát biểu về cái chấm xanh nhạt (Pale Blue Dot) dưới đây.

https://www.facebook.com/TrietHocDuongPho2.0/videos/2190741544492857/

Còn tôi, lúc này, ngồi lơ lửng trên mặt ghế với khoảng cách 1 angstrom (1/100,000,000 của 1cm) tại một hành tinh đầy khả kính đã tồn tại 4.54 tỷ năm, thấy mình như vượt lên trên mọi chuyện nhỏ nhặt thường ngày, thấy khả năng xuất hiện giữa vũ trụ của bản thân bằng với khả năng xuất hiện của một vì tinh tú. Dường như tôi có thể chạm tay vào những tia sáng Mặt trời và hiểu được câu chuyện gặp gỡ giữa chúng và những tầng mây phiêu bạt. Tất cả chỉ bằng việc đọc một cuốn sách.

Tôi không thể chấm điểm được tác phẩm kỳ công này, mà chỉ có thể gửi đến tác giả một lời cảm ơn chân thành nhất. Không chỉ bởi vì ông đã gợi mở ra rất nhiều nguồn cảm hứng về việc khám phá thế giới bằng con mắt khoa học, mà hơn tất thảy, với một lòng trắc ẩn sâu sắc, Bill Bryson không quên nhắc nhở độc giả về việc tôn trọng sự sống quý giá của mình và của muôn loài. Hiển nhiên rằng, sự tiến bộ về mặt khoa học không thể thiếu đi sự phát triển tương đương về mặt nhân văn. Có lẽ, đây là nội dung khiến cho cuốn Lược sử vạn vật vượt lên trên tầm mức một cuốn sách khoa học thông thường. Nó không chỉ có kiến thức, mà còn có trí tuệ. Tôi xin kết thúc bài viết này với một đoạn tâm tư trầm lắng của tác giả, sau khi ông vừa trình bày một loạt những thông tin về sự tuyệt chủng của động vật và thực vật trên khắp thế giới do sự tác động của con người.

“Tôi đề cập tất cả những điều này vì muốn nói rằng nếu chọn một sinh vật để chăm nom sự sống trong vũ trụ cô đơn này, nhằm dõi theo những nơi nó đang đi tới và ghi lại những nơi nó đã đi qua, hẳn bạn sẽ không chọn con người. Nhưng điều rất quan trọng là: chúng ta đã được lựa chọn, do số phận, do tạo hóa, hay bạn muốn gọi là gì cũng được. Chỉ có thể nói rằng, chúng ta là sự lựa chọn tốt nhất. Cũng có thể chúng ta là sự lựa chọn duy nhất. Thật đáng sợ khi nghĩ rằng chúng ta chính là thành tựu tối cao còn tồn tại của vũ trụ, lại cũng là cơn ác mộng tồi tệ nhất.”


Tác giả: Vũ Thanh Hòa

Ảnh minh họa: Sadie Pices

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

Psychedelics, Thức Thần, Cần Sa, Thứ High và Ảo Giác

1. Trải nghiệm cần sa ở Hà Lan

Psychedelics và những tập tục tâm linh là hai trong số những dự án nghiên cứu thực tế của tôi trong hai hơn hai năm vừa qua sau khi trở về Việt Nam. Nhấn mạnh cụm từ “nghiên cứu thực tế” bởi vì tôi sẽ không đề cập nhiều đến những nghiên cứu “khoa học” hay những lý thuyết giấy. Gần như tất cả đều là trải nghiệm bản thân. Các lý thuyết giấy và giấy tờ khoa học, xin mời các bạn Wikipedia hay Google Scholar.

Nếu như Psychedelics, các chất thức thần, cần sa là những điều phương Tây ưa chuộng và tin rằng giúp họ thấy được, hiểu được, và nhìn thấy được những điều mà người thường không thấy thì những tập tục tâm linh như bói toán, tử vi, phong thuỷ được phương Đông sùng bái và mang hết lòng tin.

Mục đích và nguyên nhân tôi muốn nghiên cứu hai dự án này tôi sẽ nói sâu hơn trong những phần sau. Lý do tôi viết những bài này là vì với tôi, tôi đã trải nghiệm đủ về Psychedelics, những tập tục tâm linh và trong tương lai gần, tôi không có dự định tiếp tục, nên tôi muốn chia sẻ những gì đã trải nghiệm và nghiên cứu trong thời gian vừa rồi.

Tuy nhiên tôi muốn bạn hiểu rằng, tôi không sùng bái hay hoàn toàn tin vào tập tục nào cả. Nhưng chắc chắn tôi đã bị ảnh hưởng ít nhiều và thay đổi bản thân trong quá trình nghiên cứu. Bởi vì không ai vào hang cọp bắt cọp và trở ra không trầy xước, và không có cảnh sát ngầm nào vào hang mafia mà không biến chất.

Psychedelics và các chất thức thần trong bài viết của tôi phần lớn sẽ là weed (cỏ, cần sa tự nhiên), LSD, nấm (mushroom), DMT. Các loại kẹo, ma tuý, cocaine hay các chất kích thích khác không phải là những thứ tôi muốn nói đến.

Tôi biết đến Psychedelics và các chất thức thần đầu tiên là khi tôi du học bên Hà Lan. Tất cả mọi người đều nói về “weed”, cần sa, hoặc nấm bởi vì nó hợp pháp, và có một cái gì đó rất bí ẩn và hấp dẫn về nó. Đối với tôi, tôi chẳng quan tâm lắm. Tôi chỉ nghĩ đó là một “văn hoá” mới và chẳng có gì đặc biệt.

Hơn nữa, trong 4 năm ở Hà Lan, những lần trải nghiệm cần sa của tôi chẳng dẫn tới đâu vì… tôi không biết hút. Chỉ cho đến khi gần hết năm 4, gần tốt nghiệp, có đúng một lần, lần đầu tiên tôi hiểu “thứ high” là gì. Mọi thứ rất chậm, lặp đi lặp lại, và tôi nói những điều rất ngớ ngẩn… nhưng rất thật, và tôi cười rất nhiều.

Bạn gái cũ của tôi từng khuyên tôi khi tôi mới sang Hà Lan rằng: “Nếu như anh có sử dụng cần sa, hãy sử dụng với bạn bè thân thiết trong lần đầu tiên.” Đó cũng là lời khuyên của tôi với những bạn có ý định trải nghiệm. Tôi khá may mắn khi “những lần đầu” của tôi đều trải qua với những kỉ niệm đẹp chứ không có “bad” trip.

cần sa

Bad trip, không giống như “say quắc cần câu” như dân uống cồn hay nói, bad trip đơn giản là một “thứ high” tồi tệ, một chuyến đi tồi tệ. Có thể là nôn ói, khóc lóc, buồn bã cực độ, quay cuồng, và vân vân. Tôi bad trip một lần, khi ở Việt Nam. Và đó là lần khá ngu ngốc.

Mục đích chính tôi nghiên cứu về Psychedelics có lẽ xuất phát từ cuốn sách Flow của Mihaly Csikszentmihalyi, một trong top 5 cuốn sách hay nhất tôi từng đọc. Hơn nữa, Tim Ferriss, một tác giả và nhân vật ảnh hưởng tôi rất nhiều, cũng nói rất nhiều về Psychedelics.

Trong cuốn sách Flow của Mihaly, ông nói:

“Bạn không cần sử dụng các chất kích thích để vào trạng thái flow, trạng thái sống và làm việc một cách mượt mà và hiệu quả.”

Hay hiểu đơn giản hơn, Mihaly nói:

“Bạn không cần Psychedelics để get high. Psychedelics chỉ giúp đảo lộn mọi thứ, và tạo ra ảo giác tạm thời.”

Ngược lại, Tim Ferriss, nghiên cứu, gặp gỡ, trải nghiệm Psychedelics cùng những bậc thầy và nhà nghiên cứu khoa học về ngành Psychedelics bên Mỹ. Tóm tắt, Tim Ferriss nói: “Mày nên thử. Và thử một cách có khoa học và nghiêm túc.”

Tôi nghĩ: “Thôi được rồi, cách duy nhất để hiểu đó là trải nghiệm. Trăm nghe không bằng mắt thấy.”

Đối với tôi, Psychedelics, cần sa, hay các chất thức thần không phải là một thú vui. Nó là một việc nghiên cứu nghiêm túc, và mỗi session là một “chuyến đi” nghiêm túc. Tôi không phải là dạng đi du lịch ngắm cảnh và chill. Tôi “đi” để “khám phá.”

cần sa
Russell Cobb

Tuy nhiên, tôi không muốn quá khắt khe thời gian đầu. Chúng ta nên ngu ngốc một chút khi còn trẻ, và lớn dần với mỗi trải nghiệm.

Tôi có hai “người dẫn đường, hay nói ngắn gọn là guide. Guide là người dẫn “trip” cho tôi. Mỗi “chuyến đi”, bạn cần có một guide kinh nghiệm, người đã từng trải với Psychedelics và các chất thức thần. Hay hiểu đơn giản, mỗi khi đi phượt, bạn cần có một người dẫn đường kinh nghiệm.

2 Guides của tôi có hai cách trải nghiệm khác nhau. Một người, tôi gọi là Ph, rất khoa học, rất nghiêm túc, nhưng cũng rất chill. Người còn lại, là Z, chill hoàn toàn. Tôi được trải nghiệm cả hai loại chuyến đi khác nhau, và tôi đều thích cả hai. Bạn có thể đi để khám phá, hoặc đi để chill, ít nhiều bạn sẽ học được một điều gì đó mới. Tuy nhiên, tôi vẫn khuyên bạn nên “trip” một cách có khoa học và nghiêm túc.

Lần đầu tiên tôi trip với Ph, cậu ấy gửi tôi tài liệu đọc kỹ trước, những gì tôi phải chuẩn bị, cộng hiểu biết cần thiết về Psychedelics và trip. Với tôi, tôi luôn tìm hiểu ít nhiều về những sự thực hành trước khi quyết định tham gia. Tất nhiên là tôi không đọc nhiều lắm đâu, bởi vì khi bạn nghiên cứu và biết quá nhiều trước khi hành động, thường là bạn sẽ không làm, và chỉ giỏi nói về nói thôi.

Tôi khuyên các bạn nên tìm hiểu ít nhiều trước khi thực hành và thử nghiệm Psychedelics và các chất thức thần. Tôi thấy không chỉ ở Việt Nam, mà cả ở phương Tây, Psychedelics và các chất thức thần vẫn còn được sử dụng một cách bừa bãi, và mang tính “nghệ thuật.”

Tất nhiên là không có gì sai cả, vì Psychedelics không phải như ma tuý. Bạn đi sai, bạn chưa chắc chết. Bạn may mắn, có khi lại tạo ra một “tác phẩm nghệ thuật.” Tuy nhiên, nếu Psychedelics tràn lan và không được thực hành và trải nghiệm đúng sau này, rất dễ dẫn đến những ảo giác, bad trip, cũng như những cái nhìn xấu mà Psychedelics không đáng có.

2. Bạn đã sẵn sàng chưa?

Tưởng tượng bạn nhảy dù ở độ cao hàng ngàn mét, hoặc tàu lượn đang lao ở tốc độ cao, chắc chắn bạn sẽ không còn là chính mình như khi ngồi ở nhà cầm điện thoại lướt FB hay ở trường học, công ty chán nản với công việc của mình. Mọi giác quan của bạn sẽ kích hoạt tột độ, hay hiểu đơn giản, bạn thức tỉnh. Và tất nhiên, đây vẫn chỉ là 50% những gì giác quan của bạn có thể thấy, bởi vì bạn vẫn chỉ nhìn thấy những thứ ở bên ngoài giác quan.

Nếu như các giác quan của bạn nhìn vào bên trong, cảm giác nó sẽ như thế nào? Đó là lúc Psychedelics xuất hiện. Psychedelics là tấm vé lên tàu bay của bạn khám phá thế giới bên trong, thế giới bên ngoài, và cả những thế giới bạn không thể thấy.

Nếu như Thiền là phương pháp luyện tập tự nhiên để chúng ta có thể quan sát thế giới bên trong, bên ngoài, và vạn vật xung quanh, thì Psychedelics như khi chúng ta đeo kính VR vào và cảm nhận mọi thứ một cách nhanh nhất, và không mất công phải đi đâu, luyện tập gì cả. Nếu như bạn sẽ phải mất chục năm luyện tập Thiền liên tục để có thể kích hoạt hết tất cả các giác quan, thì Psychedelics sẽ làm điều đó trong 30 phút.

Tuyệt vời phải không? Không hẳn. Không có gì là miễn phí, và khi đã đụng đến tâm linh, tất cả mọi thứ đều công bằng.

Có bao giờ bạn đi du lịch đến một đất nước tuyệt vời và khi trở về nơi bạn sinh sống, bạn cảm thấy nơi mình ở thật nhàm chán hoặc quá xấu xí? Sau khi xài Psychedelics xong, bạn sẽ như rơi từ chín tầng mây xuống hố sâu. Bạn nhận ra cái thế giới bạn đang sống nó xấu xí và đôi khi, tầm thường, nhàm chán đến cỡ nào. Thiền thì không. Nhưng tôi sẽ không nói về Thiền trong bài này.

Vậy thì tại sao lại sử dụng Psychedelics và sử dụng như thế nào?

Một trong những điểm chung của Thiền và Psychedelics, và cũng là bước đầu tiên cả hai việc thực hành tác động lên chúng ta đó là chúng tắt hết bộ não “hàng ngày” của các bạn. Đây là một trong những lợi ích lớn nhất mà các nhà khoa học ngành Tâm lý học và ngành Psychedelics phát hiện ra. Nó cũng là “tác động” ít nguy hiểm nhất mà các nhà khoa học có thể chấp nhận được. Đó cũng là lý do việc dùng cần sa trồng tự nhiên để sử dụng cho các liệu pháp tâm thần ngày càng được ưa chuộng, hơn là các liều thuốc an thần.

Cần sa tự nhiên, hay thường được biết tới là cỏ dại (weed), cũng là một loại cỏ cây, nếu sử dụng ngôn ngữ của phương Đông, thì nó là một loại thảo dược “Tây y.” Cần sa mọc với các yếu tố tự nhiên, ánh nắng mặt trời, nước, gió, và sỏi đất. Duy chỉ là, khác với những loại cỏ tự nhiên khác, lá cần sa có những tác dụng đến thần kinh của chúng ta. Trong các loại Psychedelics, cần sa (weed) có lẽ là loại chất thức thần tự nhiên nhất, an toàn nhất, và có thể sử dụng kèm với Thiền để tăng các khả năng luyện tập tâm linh.

Nói vậy để biết các chất Psychedelics khác như LSD, DMT cũng là từ tự nhiên nhưng là các chất Psychedelics chiết xuất tổng hợp từ nguồn gốc tự nhiên, chứ không phải xài trực tiếp như cần sa hay nấm.

Nếu như các bạn mất ngủ, hay suy nghĩ nhiều, căng thẳng tột độ, bồn chồn lo lắng, tâm thần bất ổn, một microdose của cần sa có thể giúp thư giãn bộ não của bạn, thư giãn các dây thần kinh, giúp bạn trở về trạng thái nhẹ nhàng, bình tĩnh, và dễ ngủ (và phải chọn đúng loại cần sa.) Microdose, tức một liều nhỏ, khác với Macrodose, một liều lớn. Khi bạn mới xài Psychedelics, bạn chỉ nên bắt đầu với một microdose, tức một trip nhỏ.

cần sa

Cũng giống như các bạn du học sinh chưa đi du lịch bao giờ, lần đầu các bạn đến một nền văn hoá xa lạ như Mỹ hay Châu Âu, tức là các bạn đang xài macrodose. Các bạn rất dễ bị shock “văn hoá” nặng, hay từ ngữ của Psychedelics, bạn sẽ có “bad trip.” Bad trip tôi đã giới thiệu trong phần 1.

Microdose giúp bạn làm quen với Psychedelics, giúp bạn có một chuyến đi nhẹ nhàng, tìm hiểu các nền “văn hoá” gần, chuẩn bị cho một “trip” lớn. Làm sao để biết thế nào là một Microdose? Có hai cách chính, một là bạn phải có một Guide, như tôi đã giới thiệu trong phần 1, và hai là bạn phải tìm hiểu.

Guide, “người dẫn trip”, sẽ biết liều lượng phù hợp với bạn, cũng như kiến thức cá nhân sẽ giúp bạn. Microdose với mỗi người là khác nhau. Có người với cùng một microdose có một chuyến đi tuyệt vời, có người vẫn nôn ói “bad trip” là chuyện bình thường. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Thần kinh bạn có mạnh không, bạn có ăn uống gì trước khi trip không, vân vân.

Ví dụ, một microdose khi sử dụng cần sa có thể là 1 đến 2 hơi cho lần đầu tiên, hoặc nếu LSD thì là 1 góc tam giác nhỏ tầm 5mm (0.5cm).

Macrodose, hay big trip, là những “chuyến đi” lớn, những bước nhảy lớn. Như tôi có nói, nếu bạn từng rời xa gia đình, đi du học, hoặc đi học, đi làm ở xa, hay đi phượt, đi bụi tới một nền văn hoá hoàn toàn khác với nơi bạn sinh ra và lớn lên, tức là bạn đang có một “cú nhảy định mệnh.”

Ít hay nhiều, sau những cú nhảy lớn như thế này, bạn sẽ “chết” ở bên trong, và bạn sẽ không nhìn thế giới như cũ nữa. Khi bạn đã đi đến một nền văn hoá khác, nhìn mọi thứ bằng ánh mắt khác, học cách mưu sinh, tự lập, và học cách sinh tồn, bạn sẽ “thay đổi”, lớn lên, và học cách cảm nhận mọi thứ theo cách khác bình thường. Trong Psychedelics, nấm, LSD, và DMT là các lựa chọn cho “chuyến đi” lớn đó. Trong đó, DMT thường được coi là “last trip”, chuyến đi lớn cuối cùng – cái chết ngắn.

Và tất nhiên, lần đầu đi “big trip”, hãy nên có một “người dẫn trip.” Nếu không, bạn sẽ đánh cược 50-50 cho sự sống của mình. Bạn sẽ không chết theo nghĩa đen, nhưng có thể bạn sẽ không bao giờ muốn trở lại một lần nữa.

Tôi hiểu được điều này vì tôi đã từng đi du học mà không có một người dẫn trip đúng nghĩa. Cảm giác sẽ rất kinh khủng khi một mình bạn phải đối chọi với mọi thứ trong sự cô đơn. Trong Psychedelics cũng vậy, tuyệt đối không nên “big trip” một mình nếu bạn không tự tin về khả năng kiểm soát thần kinh của mình, cũng như cuộc sống của bạn đang không phải ở trạng thái tốt nhất.

Có một lần tôi “big trip” trong trạng thái cơ thể không phải là tốt nhất, và tôi đã cảm thấy choáng váng, suýt ngất xỉu vào sáng hôm sau. Nếu sau khi big trip xong và bạn cảm thấy không được không được khoẻ, hãy nghỉ ngơi, và đừng hoạt động hay đi lại mạnh.

Với Microdose, các bạn có thể sử dụng hàng ngày, hoặc hàng tuần, hay theo tháng. Với Macrodose, mỗi trip nên cách nhau khoảng 6-12 tháng để bạn có thể “tiêu hoá” hết lượng thông tin và hình ảnh bạn nhìn thấy. Với tôi, microdose hàng tuần là hợp lý nhất, và macrodose nên cách nhau tầm 12 tháng.

Hiểu rõ về Microdose và Macrodose để các bạn lựa chọn liều lượng cũng như cách xài hợp lý với bản thân. Mục đích bạn xài là gì? Thể trạng của bạn như thế nào? Thần kinh bạn có tốt không? Bạn muốn khám phá điều gì?

Cũng như khi bạn quyết định di du học hay đi làm xa. Nếu bạn chưa xác định được mục đích đi để làm gì, hoặc ai đó bắt ép bạn phải “đi”, tôi khuyên bạn có hai lựa chọn:

1) Hãy nói không, và suy nghĩ kĩ hơn.
2) Fasten your seatbelt, and get ready for the trip of your life. (Thắt đai an toàn, và đừng ngoảnh đầu lại.)

3. Chuyến đi cuộc đời

Psychedelics chính là cỗ máy thời gian mà cả thế giới đã tưởng tượng và kể về nó trong truyền thuyết. Psychedelics cũng chính là tàu vũ trụ đi xa hơn bất kì nơi đâu bạn có thể tưởng tượng được. Nhắm mắt lại, và trong 5 giây, tôi đã trở về với tuổi thơ của mình. “Cho tôi một vé đi tuổi thơ.” Chẳng phải chúng ta muốn vậy sao? Bạn sẽ nhìn lại hết những gì đã từng xảy ra với bản thân. Tất cả sẽ lặp lại trước mắt của bạn.

Bạn là ai? Bạn đã thay đổi thế nào? Con người nào chính là bạn? Bạn sẽ có câu trả lời cho riêng mình. Hay đơn giản là bạn chẳng cần câu trả lời gì cả, mà chỉ muốn khám phá một thế giới mới.

Psychedelics, cần sa, và những “chất kích thích” mang một tiếng xấu, đó là “nghiện.” Điều này đúng và không đúng. Không đúng bởi vì thực sự nó không phải chất gây nghiện. Ngược lại, các loại chất kích thích mạnh như ma tuý đá, cocaine hay các loại kẹo tổng hợp, có hàm lượng gây nghiện rất cao.

Psychedelics, cần sa tự nhiên, với hàm lượng phù hợp và sử dụng có trách nhiệm, sẽ kích thích hoạt động của não, kích thích sự sáng tạo, cũng như được sử dụng cho các công dụng thư giãn, giảm stress (trong Phần 2.) Đúng là Psychedelics và cần sa có khả năng gây “nghiện.” Nhưng không phải nghiện chúng, mà chúng ta nghiện khám phá, nghiện chạy trốn thực tại hay nghiện quá khứ và tương lai.

Khi thế giới không còn hoang dã, và đầy khám phá như thời tiền sử, chúng ta sống trong một vòng tròn cuộc sống, trong những toà nhà cao tầng, lặp đi lặp lại những kiến thức giấy vở từ đời này qua đời khác. Chúng ta đi đến những vùng đất mới với chiếc điện thoại, máy ảnh trên tay, sẵn sàng up ảnh “mạng xã hội”, khi hiện tại quá nhàm chán, và có vẻ như mọi thứ lặp đi lặp lại không lối thoát.

Psychedelics sẽ giải thoát bạn, giải thoát những giác quan, giải thoát những “luật lệ” và “định nghĩa” về thế giới xung quanh mà bạn bị nhồi vào đầu từ bé đến lớn. Bạn có chắc là bạn đã hiểu và nhìn thấy hết những gì bạn đang thấy? Hay tất cả chỉ là những gì người khác bảo nó phải như vậy? Lý do các nghệ sĩ sử dụng các chất kích thích đơn giản bởi vì họ không thể tìm thấy sự sáng tạo trong thế giới hiện tại – thế giới của những bộ máy, của những chuỗi và hệ thống, của sự tôn thờ các chuẩn mực đạo đức xã hội.

Một trong những lý do lớn nhất Psychedelics, cần sa từng hợp pháp và sau đó bị giới hạn dần bởi vì những bộ máy không muốn con người thức tỉnh và nổi loạn, cũng như không muốn con người “lười biếng”, như vậy sẽ dễ kiểm soát và tốt cho kinh tế hơn. Nhưng các nhà khoa học và nhà kinh tế cũng phát hiện ra Psychedelics và cần sa không nguy hiểm đến tính mạng như các chất kích thích mạnh khác, và lại “tốt cho kinh tế”.

Chính bởi điều này mà việc hợp pháp hoá hay không hợp pháp hoá Psychedelics và cần sa vẫn đang là vấn đề tranh cãi như hôn nhân đồng giới vậy. Có những nơi hợp pháp, và có những nơi không, tuỳ vào “văn hoá”, tôn giáo, và nền chính trị của quốc gia đó.

Đúng là nếu sử dụng Psychedelics không có trách nhiệm và không có liều lượng điều độ, chẳng khác nào bạn là bợm nhậu, hay kẻ nghiện game không hơn không kém. Bạn không thể thoát ra được thế giới ảo và không dám đối mặt với thế giới thực.

Nước Mỹ từng muốn cấm việc kinh doanh rượu, thuốc lá, cần sa, và mới đây là súng, nhưng tất cả đều là tranh cãi và đều không thành công. Chúng có lợi cho kinh tế, một hình thức thư giãn, giảm stress, hoặc là một hình thức tự vệ. Tất cả phụ thuộc vào trách nhiệm sử dụng của mỗi cá nhân.

“If it doesn’t break, don’t fix it.” (Nếu nó không hư, đừng sửa.)

Việc của chính phủ đó là nếu như những vấn đề nào gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quốc gia, sức khoẻ và an toàn của người dân, họ sẽ phải đưa ra những điều luật mới để ngăn chặn. Ma tuý, mại dâm, kẹo cao su, mỗi đất nước định nghĩa cho riêng họ sản phẩm nào là tội ác và không phù hợp với văn hoá và tôn giáo chính của quốc gia.

Psychedelics, cần sa chắc sẽ phải mất mấy chục năm nữa mới được chấp nhận ở Việt Nam, hoặc có thể không bao giờ. Bây giờ chỉ cần một bài báo nói các bạn trẻ xài kẹo hay ma tuý và chết hay ngất xỉu ở các bữa tiệc cũng đủ đến người ta e ngại về các chất kích thích.

Nhưng họ phải phân biệt được các loại chất kích thích, nguồn gốc và tác động của nó. Để cần sa có thể hợp pháp ở Hà Lan hay Mỹ không phải dễ, và vẫn cần sự kiểm soát chặt chẽ từ chính phủ. Dù gì đi nữa, tôi vẫn buồn là thuốc lá, rượu bia, súng ống được hợp pháp trong đa phần các quốc gia trên thế giới, trong khi một thứ khiến con người vui vẻ, yêu đời, yêu người và trả họ về với tự nhiên lại là một thứ “nguy hiểm.”

Bản thân tôi không thích sử dụng các chất kích thích, từ rượu bia cho tới Psychedelics. Việc sử dụng Psychedelics và cần sa là một trải nghiệm khó quên, nhưng đối với tôi, chặng đường đến với Psychedelics và cần sa tạm dừng ở đây. Mục tiêu của tôi vẫn là làm sao sống một cuộc sống “high” tự nhiên, với mỗi “thứ high” không chán nản, sợ hãi khi nghĩ về việc đi làm, và trở lại thực tại sau một cuối tuần nghỉ ngơi.

“High”, một cảm giác sống một cuộc sống trong mơ, như mơ, nhưng tất cả mọi thứ là thật. Đó mới là mục tiêu đáng sống. High trong công việc khi làm những thứ mình yêu thích. High trong các mối quan hệ khi tất cả những gì cho đi là tình yêu, và không nghi ngờ. High trong những phút giây cuộc sống, khi mỗi người, mỗi sự kiện, mỗi khung cảnh chúng ta gặp đều đáng để chúng ta nhìn và trân trọng kĩ hơn.

Có lẽ cái duyên đến với Psychedelics cũng giúp tôi nhìn thấy rõ hơn thế nào thực sự là “high”, là biết nhìn thế giới khác đi, hiểu hơn về các giác quan, hiểu hơn về cách “thả lỏng” và thực sự thư giãn. Tiền không thể mua được hạnh phúc. Psychedelics cũng vậy. Chẳng có gì mua được hạnh phúc. Tất cả những gì chúng ta mua được là những công cụ, một sự “high” ngắn hạn để quan sát sự hạnh phúc rõ hơn trong chốc lát mà thôi.

Đừng bao giờ quên những gì làm mình thực sự cảm thấy hạnh phúc trong cuộc sống này, từ lúc còn bé cho tới gần đây. Hàng ngày, chúng ta đều có thể lựa chọn làm những việc, gặp những con người khiến bản thân hạnh phúc cho tới cuối đời. Make bold, daring choices.

This life is a big trip.
And you will see it all once again at your last breath.
Make sure it’s god damn great movie.
No regret. No wishy washy. No coming back.
It’ll be over before you know it.

Wake up.


Tác giả: Ngô Nam Nguyên

Edit: THĐP

Tạp chí Aloha Volume 3

 

nd

Nội dung Volume 3

🧠 [Hỏi-Đáp] Làm sao để kết nối với Thượng Đế?
🧠 [Bài dịch] Nhựa là nguồn khí thải nhà kính khổng lồ lâu nay chúng ta không biết
🧠 [Bài dịch] 25 tựa phim cực đỉnh (có thể) bạn chưa xem
🧠 [Bài dịch] Elon Musk: “Hãy nhớ lời tôi, A.I nguy hiểm hơn nhiều so với vũ khí hạt nhân.”
🧠 [Truyện dài] Người chém cá kình – Hồi 3 | Hai Le
🧠 [Truyện dài] Tuổi trẻ cô đơn – Chương 1 | Ni Chi
🧠 [Truyện ngắn] Cô Bé Hạt Tiêu – Quyển 2, Tập 3 – Lễ thành hôn của Tanna và Hulk | Vũ Thanh Hòa
🧠 [Thơ dài] Thiên đường trần gian – Phần 3 | Vũ Thanh Hòa
🧠 [Triết lý] Đứa bé bên trong bạn giờ đang ở nơi đâu? | Nguyễn Hồng Quý
🧠 [Zen Pencils] John Green – Làm thế nào để trở thành một nhà văn (hay bất cứ ai)?

📌 Link đăng ký THĐP Exclusive Membership để đọc magazine >>> http://bit.ly/THDPmembership


📌 Magazine Aloha Volume 1. Download miễn phí ➡️ http://bit.ly/2ED11Ks

📌 Đơn vị tài trợ: Đông Hưng Group ➡️ http://bit.ly/2sbcd9E

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

📌 Đơn vị cá nhân tổ chức nào muốn tài trợ cho dự án thì nhắn tin cho page hoặc liên lạc với ad LX (https://www.facebook.com/LX.Production)

[THĐP Vietsub] Aldous Huxley, Những Cánh Cửa Nhận Thức – “Drugs” có tốt cho bạn không?

“Đa số mọi người đều có cuộc sống nằm trong khoảng thước bậc từ tệ nhất là đau đớn cho tới tốt nhất là đơn điệu, nghèo nàn và giới hạn. Mong muốn được thoát ra, khát khao được vượt lên bản thân dù chỉ trong một vài khoảnh khắc, đã và đang luôn là một trong những mong mỏi cốt lõi của linh hồn.”

– Aldous Huxley, The Doors of Perception and Heaven and Hell, Trang 6


Biên dịch: Lê Gia Khiêm
Vietsub: Lê Gia Khiêm
Nguồn: Are Drugs GOOD For You? (Kirby + Aldous Huxley) – 8-Bit Philosophy

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

[Review] Bird Box – Con quái vật vô hình trong tâm trí

2

(1069 chữ, 4 phút đọc)

Đã khá lâu rồi tôi không còn cảm hứng cho những bài review về sách hay phim nữa. Khoảng chục bộ phim gần đây tôi xem toàn là những phim rất có tiếng vang như Fight Club, Mr.Nobody, Old BoyForrest Gump,… Nhưng những triết lý trong các bộ phim tôi đã được chiêm ngưỡng từ khá nhiều bài review, nên sau khi xem xong chúng, tôi thật sự chỉ biết ngậm ngùi chiêm nghiệm. Không có bất kỳ từ ngữ nào được diễn tả. Lần này, vô tình, tôi tìm một bộ của Netflix để giải trí chứ không nghĩ rằng sẽ xem để dùng nó làm nguồn cảm hứng cho một bài review. Nhưng thật sự sau khi xem xong Bird Box tôi thật sự ngạc nhiên với một bộ phim đầy tinh tế và tỉ mỉ đến từng chi tiết.

Bộ phim mô tả về sự diệt vong của thế giới. Ngày tận thế, mọi người tự tử hàng loạt và dẫn đến viễn cảnh vô cùng xơ xác, hoang tàn. Chỉ còn lại vài người sống sót và họ phải bịt mắt không để mình bị nhìn vào “con quái vật.”

Khi những người còn sống hoảng loạn, họ tìm wifi đầu tiên. Tín hiệu wifi mất, sự kinh hoàng tăng tột độ. Sau đó họ mới nghĩ đến đồ ăn và đi tìm kiếm thức ăn.

Trong căn nhà, mỗi người một hoàn cảnh không ai quen biết ai nhưng nhờ có tận thế họ kết nối với nhau, yêu thương và đùm bọc nhau hơn. Trong phim có câu Malorie nói với Tom khi Tom thổ lộ rằng anh ta thích cô: “Chỉ vì sắp tận thế nên anh mới nói vậy?”

Bởi khi thế giới càng phát triển, sự kết nối giữa con người càng suy giảm. Họ có thể yêu một đôi giày, một chiếc xe, một thứ vật chất hơn một con người. Họ có thể bỏ hàng trăm triệu mua quần áo nhưng khi một người ăn xin cần giúp đỡ thì họ phủi tay làm ngơ. Đoạn này làm tôi nhớ đến bộ phim Her – khi thời kì của trí thông minh nhân tạo lên ngôi. Loài người càng nghĩ mình thống trị thế giới thì càng trở nên ngu ngốc khi bại lụi trên chính công nghệ mà mình tạo ra.

Quay lại bộ phim Bird box. Thật đáng buồn cho những người thích xem phim quái vật, thích ngắm nhìn sự hùng vĩ của những con quái vật. Bởi xuyên suốt từ đầu đến cuối phim sẽ chẳng có con quái vật hữu hình nào mà mắt thường có thể nhìn thấy được. Con quái vật tác giả muốn đưa vào chính là một con quái vật vô hình: tâm trí – tập hợp các phần nhỏ hơn là suy nghĩ, nhận thức, tưởng tượng,…

Chi tiết Gary lôi những bản vẽ đủ mọi hình thù khác nhau cho thấy hình dạng con quái vật không cố định. Loài người đang bị rất nhiều các con quái vật khác nhau chi phối và dẫn dắt. Nó giống như con quỷ của Napoleon Hill nhắc đến, hoặc bất kỳ con quái vật nào chúng ta có thể tưởng tượng ra được. Nó đại diện cho những nỗi sợ hãi của chúng ta, đại diện cho sự tha hoá của thế giới hiện đại. Và cách duy nhất để không bị “con quái vật” chi phối là phải “bịt mắt”, nhìn sâu vào bên trong chính linh hồn chúng ta.

Chúng ta cảm thấy mình tự do khi có nhiều lựa chọn trong cuộc sống. Mình có thể chọn chơi game này thay vì game kia, chọn mua áo này thay vì áo kia, điện thoại này thay vì laptop kia. Nhưng tất cả những sự chọn lựa tự do đó đều nằm trong sự kiểm soát nhất định. Chúng ta sẽ phải đi làm cái này cái kia để mua cái kia cái nọ. Vui vẻ khi được mua sắm, khi được vui chơi, làm quần quật để mua sự vui vẻ ấy tiếp và bùm đến một ngày chúng ta chết.

Mấy ai sẽ vượt qua được những nỗi sợ hãi, suy nghĩ, tưởng tượng, “con quái vật”, “con quỷ” của bản thân?

Chính là những kẻ tâm thần, chẳng có quá nhiều điều phức tạp để làm, IQ có thể đủ xài hoặc không. Họ chẳng quan tâm quá nhiều về vấn đề của thế giới hay của bản thân, cứ sống ngày qua ngày, vui vui buồn buồn bộc lộ theo đúng cảm xúc.

Chính là những đứa trẻ. Tại sao khi Gary nhìn hai đứa trẻ vừa sinh ra đời nhưng chúng không bị thôi miên? Vì chúng trong sạch như một tờ giấy trắng. Chưa từng bị nhồi nhét bất kỳ điều gì vào tâm trí.

Chính là những người có tâm lý vững chắc như Malorie. Đoạn cuối khi ở trong rừng, con quái vật hiện lên chính là tâm trí của Mal – đầy cám dỗ, suy nghĩ, tưởng tượng, tình cảm. Chúng moi móc điểm yếu của cô nhưng cô đã chống chọi đến cùng bằng cách vô cùng đơn giản là tĩnh lại.

Bạn có đang đọc bài review này, sau khi đọc xong bạn hãy tắt điện thoại đi, lắng nghe mọi tiếng động xung quanh mình và gạt bỏ những dòng suy nghĩ sang một bên. Tĩnh lặng.

Nếu nói sâu về chiều hướng tâm linh thì việc ngồi thiền cũng giống như tất cả những gì Mal trải qua và thế giới trong Bird Box. Những người tâm lý yếu sẽ khó vượt qua những buổi tập đầu tiên bởi việc kiểm soát tâm trí là việc làm cả đời.

Tại sao phải kiểm soát tâm trí? Đôi lúc mình làm một việc mà không biết tại sao mình làm. Tự nhiên làm việc đó mình vui mà không biết tại sao mình vui. Cuộc đời chúng ta sẽ tốt hơn khi nhận biết được những điều mình đang làm và tại sao mình lại làm điều mình đang làm.

Tóm lại, Netflix dạo gần đây rất tuyệt vời, Bird Box là một bộ phim đáng xem. Khi xem, bạn có thể chưa hiểu nội dung phim muốn truyền tải vì nó hơi trừu tượng. Nhưng bên cạnh đó, phim có nhịp độ cao, chuyển cảnh hay và lôi cuốn.


Tác giả: Bà Năm

Ảnh minh họa: hdqwalls

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

[THĐP Review] Marcus Aurelius, Suy tưởng (Meditations)

thđp review

Marcus Aurelius là ai?

marcus aurelius

Nhắc đến Marcus Aurelius là người ta nhắc đến vị hoàng đế La Mã cổ đại theo trường phái Khắc kỷ (Stoicism) được nhân dân yêu mến, ngưỡng mộ bởi lòng nhân đức, sự tận tâm, giản dị trong đời sống cũng như trong cách cai trị đất nước. Ông được người đời tôn kính gọi bằng cái tên Ông vua triết gia hay Vị Phật của La Mã. Tất nhiên, bản thân ông không tự nhận mình là một triết gia. Ngay cả ngôi vị Hoàng đế cũng đến với ông một cách bất ngờ.

cần sa

https://www.facebook.com/TrietHocDuongPho2.0/videos/1924684594315455/

Review tác phẩm Suy tưởng (Meditations) của Marcus Aurelius

Tác phẩm Suy tưởng (Meditations) của Marcus Aurelius là tập hợp những chiêm nghiệm của ông về tự nhiên, hành vi của con người và những quy luật của cuộc sống. Ông đúc rút những ý tưởng hay suy nghĩ của mình không phải với mục đích để xuất bản và cuốn Suy tưởng vốn dĩ cũng không phải là một trước tác triết học.

Những nội dung trong đây không theo một hệ thống suy luận hay triển khai văn bản nào nhất định mà là những dòng “tự răn” chính mình được Marcus Aurelius tập hợp lại một cách ngẫu hứng – tương tự như nhật ký hay journal. Sau này người đời lưu giữ và đặt tên (gần đây nhất) là Meditations.

Chữ “Meditations” này theo cách hiểu dưới thời đại La Mã cổ đại thì đúng là Suy tưởng, chiêm nghiệm. Còn theo lối tiếp cận hiện đại ngày nay thì nó có nghĩa là Thiền định. Nhưng khi đào sâu quan sát tác phẩm, ta có thể nhận ra không ít những chi tiết Marcus Aurelius mô tả sự thiền, quán chiếu thân thể hay suy nghĩ, và hình dung về cái chết.

“Dù tôi là cái gì, thì cũng là xác thịt với một linh hồn và một trí thông minh bé nhỏ. Ném sách vở đi; đừng để anh bị quẫn trí nữa. Điều ấy không được phép. Trái lại, như thể ngay lúc này đây anh đang hấp hối, khinh thường xác thịt của anh. Một đống hỗn độn nào máu, những mẩu xương, một búi nhằng nhịt dây thần kinh, tĩnh mạch, động mạch.

Xem xét linh hồn là cái gì: không khí, và không bao giờ là cùng thứ không khí ấy, nhưng mỗi khoảnh khắc cứ nôn ra rồi lại nuốt vào. Cuối cùng: trí thông minh. Hãy nghĩ về nó theo cách này: Bạn là một ông già. Không cho phép trí óc bạn làm nô lệ, để nhảy giật lên vì những thôi động ích kỷ, để đá trả số phận và hiện tại, và để ngờ vực tương lai.”

Việc tiếp cận cuốn sách này mang đến cho tôi một cảm giác vừa mới lạ vừa thân mật khi nó trong hình hài một cuốn nhật ký. Chưa kể, đây còn là những suy tư từ một vị vua – người gánh vác trăm công ngàn việc ở địa vị tối cao và có cả thế gian rộng lớn để tiếp quản và cai trị.

Việc ông vẫn dành thời gian để tự quán chiếu và rèn dũa chính mình, cũng như ghi chép lại những chiêm nghiệm cá nhân với một sự thẳng thắn nghiêm túc bậc cao, cho thấy được đức hạnh và tính kỷ luật to lớn của ông. Dường như với Marcus Aurelius, việc cai trị chính mình là điều quan trọng số một cần thực hiện.

Khi đọc cuốn Suy tưởng, tôi có thể hình dung được ông đã noi gương những vị hiền triết tiền bối trong tầm nhìn về mối quan hệ giữa triết học và chính trị. Bản thân hành động tự uốn nắn chính mình của ông đã thể hiện ý chí hòa mình vào triết học và mang triết học để làm lợi cho muôn dân.

Tất nhiên, “triết học” ở đây không được định nghĩa theo lối hiện đại là một bộ môn nghiên cứu những vấn đề cơ bản của con người hay thế giới theo một hệ thống lập luận nhất định. “Triết học” mà Marcus Aurelius đang thể hiện là “tình yêu với trí tuệ.” Chỉ bằng sự tiếp cận tri thức và thông hiểu những quy luật của tự nhiên, một ông vua mới xứng đáng là một người trị vì.

“Đất nước chỉ hạnh phúc khi nhà cầm quyền trở thành triết gia, và triết gia trở thành nhà cầm quyền.” – Plato, Cộng hòa

Dưới dạng một cuốn nhật ký, Suy tưởng có những nội dung để ta hình dung được bối cảnh lịch sử hay nhận ra được những nhân vật ảnh hưởng đến nhân cách, lối tư duy của Marcus Aurelius. Dù theo trường phái khắc kỷ nhưng không phải tất cả những nội dung trong Suy tưởng đều bị tác động bởi nó.

Xu hướng đào sâu vào nội tâm và nghiên cứu chính bản thân mình của Marcus Aurelius là một trong những phản ánh rõ rệt nhất bức tranh thời kỳ tri thức thịnh trị – nền văn hóa Hy Lạp cổ. Tức là khi sinh ra dưới thời này thì anh ít nhiều cũng mang hơi hướng đào sâu vào nội tâm hay vươn mình tìm kiếm ánh sáng trí tuệ.

Dù cuốn sách là tập hợp những suy nghĩ, chiêm nghiệm ngẫu hứng nhưng không có nghĩa là ta không thể tổng kết được những gì mà vị vua triết gia đầu tư quan tâm. Đó là việc trải nghiệm tính thần thánh, những quy luật tự nhiên và việc làm điều đúng đắn nhất của một con người. Suy tưởng như một sự dẫn dắt, sự tự răn mình của Marcus Aurelius.

Ông luôn hướng bản thân tới những giá trị tinh thần cao quý nhất mà một người có thể đạt được. Bên cạnh đó, ông tin rằng mọi sự đã được tự nhiên sắp đặt hoàn hảo và có lợi cho tất cả, những bất hạnh của con người chỉ xảy ra khi họ (mờ mắt) tách mình ra khỏi tự nhiên hay chống lại sự trôi chảy đó.

Từ “logos” được dùng rất nhiều trong tác phẩm này. Trong Thiên Chúa Giáo thì logos được hiểu là Ngôi lời, còn trong cuốn Meditations thì chúng ta có thể tiếp cận từ này theo ý là “Tự nhiên” hay “Đạo.”

Chủ nghĩa khắc kỷ (Marcus Aurelius chịu ảnh hưởng) đang bị hiểu nhầm trong thời đại ngày nay khi bị đánh đồng với sự nghiêm khắc, áp chế hay thiếu hụt cảm xúc. Nhưng khi đi sâu vào cuốn Suy tưởng, ta có thể nhận ra được Marcus Aurelius đang diễn đạt những phần tinh hoa nhất của tư tưởng khắc kỷ là khả năng sống thuận theo tự nhiên, sự biết đủ trong đời sống hay việc sử dụng con mắt trong sáng để quan sát thế giới như đúng nó là.

Bằng lối tiếp cận như vậy, một người có thể đón nhận được vẻ đẹp thuần khiết của thế gian (bao gồm cả những cảm xúc) và chữa trị mọi nỗi thống khổ trong tâm hồn. Những tư tưởng chủ nghĩa khắc kỷ truyền đạt cũng mang hơi hướng tương tự với những tư tưởng cốt yếu trong Đạo giáo. Điều thú vị ở đây là những bậc hiền triết phương Tây và phương Đông cùng hướng về một giá trị nhưng diễn đạt theo những cách khác biệt.

Chưa dừng lại ở đó, Suy tưởng của Marcus Aurelius còn vũ chung một điệu với Đạo Phật khi nội dung đề cập khá nhiều về cái chết, sự tận diệt của thế giới có điều kiện hay chính là tính vô thường của vạn vật. Gần hơn với thời hiện đại, ai từng nghiên cứu tâm linh thông qua những tác phẩm của Osho, Krishnamurti, Eckhart Tolle hay Thích Nhất Hạnh thì có thể thấy dường như họ có sự tương thông tâm trí với vị vua Marcus Aurelius khi nói về về sức mạnh của việc an trú hiện tại, hay mối tương giao thần thánh giữa cái chết và sự thức tỉnh của con người.

Thậm chí, Marcus Aurelius cũng cho rằng cuộc đời là một giấc mơ và sự thức tỉnh trong hiện tại là khả năng duy nhất mang một kẻ đến bản chất thực của hắn và giúp hắn hòa nhập với sự bình an nội tâm, chẳng khác gì ý tưởng trong những kiệt tác điện ảnh The Matrix hay Inception.

“Luôn nhớ rằng mọi vật tồn tại là đã xác xơ ở các rìa mép, và đang chuyển hóa, đang bị vỡ ra từng mảnh và thối rữa. Hay mọi vật sinh ra để chết.”

“Để ý xem mọi vật trôi qua và biến mất nhanh như thế nào – những gì mới lúc này đây đã qua đi. Cuộc sống trôi qua chúng ta như một dòng sông, cái ‘là gì’ nằm trong dòng chảy miên viễn, cái ‘tại sao’ có hàng ngàn biến thể. Không cái gì ổn định, ngay cả cái đang ở đây lúc này. Cái vô cùng của quá khứ và tương lai há hoác trước mắt chúng ta, một kẽ nứt sâu không đáy.”

Việc dịch thuật trải qua hai lần khúc xạ, từ ngôn ngữ Hy Lạp cổ sang tiếng Anh rồi cuối cùng sang tiếng Việt không có nghĩa là những cốt lõi tinh hoa của cuốn Suy tưởng bị bẻ gãy. Có thể ta không đi trực tiếp vào tư tưởng của Marcus Aurelius trong phút giây ông trầm tư chiêm nghiệm, nhưng những ý tứ trong đó vẫn đánh động tới được tâm linh của độc giả.

Vì những điều ông đang truyền đạt là những giá trị thẳm sâu, phần thánh thiêng bên trong con người và song song là những quy luật vận hành của tự nhiên. Có đôi phần tôi cảm thấy khá khó hiểu tương tự như khi đọc Cộng Hòa của Plato vì tư duy đa chiều kết hợp với văn phong thượng lưu xưa cổ và lối nói tượng trưng ẩn dụ của tác giả. Nhưng đó chính là những chi tiết tạo nên phong thái riêng biệt của cuốn sách.

Cuốn Cộng Hòa có sự tiếp cận và triển khai logic, hệ thống hơn trong nội dung so với cuốn Suy tưởng. Nhưng khi xét về lối hành văn thì kẻ tám lạng người nửa cân. Sức sáng tạo trong việc liên kết các sự vật, hiện tượng và con người vào trong một sự diễn đạt triết lý khiến tác phẩm Suy tưởng bay bổng và rực rỡ sắc màu. Người ta không phải đọc một mớ triết lý khô khan; mà họ, trước tiên được đắm mình trong sự diễm lệ, nguy nga của ngôn từ, rồi sau đó hài lòng với sự đau đầu của mình khi phải suy tư về ẩn ý đằng sau đó.

Riêng cá nhân tôi thì học hỏi được rất nhiều từ lối hành văn và việc sử dụng trí tưởng tượng của tác giả. Nếu không biết trước tiểu sử của Marcus Aurelius thì khi đọc cuốn Suy tưởng, tôi sẽ không thể nghĩ rằng người viết những dòng này là một vị vua. Tôi chỉ toàn thấy bóng dáng của một nghệ sĩ, một hiền triết và một bậc chứng ngộ.

Có rất nhiều những câu, đoạn đáng giá cả về mặt triết học và mặt nghệ thuật. Nếu lấy những nội dung tâm đắc trong cuốn sách này in ra đóng thành tranh quote treo tường thì tôi phải sở hữu ngôi nhà của mèo Oggy thì may ra mới đủ sức chứa.

Xuất hiện những ý kiến cho rằng cuốn Suy tưởng thấp thoáng một nét buồn, một sự nhìn nhận bi quan về thế giới khi Marcus Aurelius đề cập nhiều đến cái chết, sự kết thúc của sự kiện thế gian, sự thờ ơ với những lạc thú, danh vọng cuộc đời.

Cá nhân tôi thì không thấy chút buồn nào trong cuốn sách cả, nếu như không nói có những phần đọc lên tôi thấy sự hài hước, châm chích, dí dỏm. Vâng, tất nhiên chúng làm tôi phải bật cười khi tưởng tượng ra Marcus Aurelius ôm mặt đầy bất lực rồi giơ hay tay hướng lên trời cảm thán khi nhận ra sự ngu muội trong nhận thức của con người (hay có thể, của chính mình.)

“Và tại sao chúng ta lại cảm thấy giận dữ đối với thế giới? Cứ làm như nó nhận biết được ấy!”

Hay

“Anh đã hiến tặng, đã giúp đỡ, và người ta đã nhận. Thế nhưng, giống như một thằng ngu, anh vẫn còn muốn đòi hỏi hơn nữa, muốn được đền bù bằng cái tiếng thơm của Nhà Từ Thiện. Tại sao?”

Cuốn sách là tổ hợp những suy tưởng ngẫu hứng, rời rạc, không theo trật tự của Marcus Aurelius, nên chúng ta có thể đọc nó theo bất kỳ cách nào tùy thích – lần lượt từ quyển 1 đến quyển 12 hay giở một trang tình cờ và thưởng thức.

Dù điểm khởi đầu ở đâu, ta cũng có thể tìm thấy được một giá trị nào đó cần thiết cho chính mình vì phủ khắp nội dung là sự thông thái. Cuốn Suy tưởng sẽ thỏa mãn bất kỳ kẻ nào đang lên cơn khát ngôn từ, trí tuệ và sự tưởng tượng. Thiết nghĩ, tôi cũng nên theo chân Bill Clinton đọc cuốn sách này, không phải hàng năm như ông ta nữa, mà là hàng ngày mới được.

Tôi không dám chấm điểm những kiệt tác.

Tác giả: Vũ Thanh Hòa
Ảnh minh họa: Sadie Pices

Cơn mê mộng hay bản dịch lỗi về hiện tại

1

(1111 chữ, 4.5 phút đọc)

Không có gì nhiều hơn bây giờ. Không có cách nào để sống. Không cần sự diễn đạt hay dẫn dắt nào để việc đang sống tiếp tục diễn ra là đang sống. Những gì ta từng nhìn thấy, từng phiên dịch hay lưu trữ chỉ là ảo ảnh chốc lát. Chúng mang đến cho bản thân một sự say sưa mê đắm vào cảm giác rợn ngợp nhất thời: đời là một giấc mơ, đang ở trong một cú trip, sống giữa những vì sao, lơ lửng trong vũ trụ, đoạn tuyệt với cảm giác điều kiện nhân gian, thế giới giả lập, sự vô nghĩa của thời gian, sự sống vĩnh cửu, giao tiếp với Thượng Đế, v.v…

Tất cả mọi thứ đều là những khái niệm, hay được tạo dựng nên từ những khái niệm. Ở đó, ngôn từ hữu hạn được dùng để mô tả những trải nghiệm trực tiếp sống động trong khoảnh khắc – thứ mang tầm cỡ vĩ đại hơn mọi ngôn từ. Nhưng khi những bước chân rực rỡ qua đi rồi thì văn bản phiên dịch ấy vẫn còn lưu trữ lại, nhưng hoàn toàn méo mó và khuyết tật. Khốn thay, ta lại thèm khát những cảm giác cao siêu ấy một lần nữa, ta khẩn cầu được nếm lại những sự màu nhiệm để vượt lên trên nỗi chán chường, hiu quạnh của trần gian. Thế là, ta rút bức tranh biển khơi ra từ trong hốc tủ, liếm láp nó để cảm nhận cơn triều cuồng đánh vào da thịt. Rồi ta rên rỉ như một con chó khi gặm khúc xương bằng bông thân mến.

Một thứ phép thuật mê ly gì đó làm ta phải háo hức động lòng mà chú ý hết mực – sự chú ý vượt ra ngoài những gì đang ngồi im lìm trong hiện tại. Và những động đậy kia trở thành làn sương khói che phủ đi cái đang là, cái bình tâm thư thái đang diễn ra như nó vẫn đang hằng diễn ra.

Đời là giấc mơ hay không, liệu có còn quan trọng? Ý thức là phần nào và nó đang hướng đến đâu có là điều nhất thiết phải giải trình? Chẳng còn gì là cần thiết cho sự hiện hữu vốn dĩ vẫn đang hiện hữu. Bất kỳ cái gì dùng để diễn đạt hay dịch giải hiện tại đều là thừa thãi và ngớ ngẩn, chẳng khác nào gồng lên để nắm lấy thứ vốn dĩ vẫn đang trong lòng bàn tay. Không để làm gì cả, ngoài trở nên vô dụng và tổn hại.

Tất cả những sự lý giải hay đóng đinh kết luận cho khoảnh khắc hiện tại đều là những cái mặt nạ, là những bản dịch lỗi lầm. Chúng đáng được ném hết xuống biển khơi, hoặc thùng rác, tùy theo sở thích. Anh vĩnh viễn không đi ra khỏi hiện tại, trừ phi anh tưởng rằng mình đã bước một chân ra khỏi cánh cửa “bây giờ.”

Dù diễm lệ đến nhường nào thì những trạng thái được gầy dựng bằng ngôn từ kia đều qua đi, chẳng có gì tồn tại vĩnh cửu. Những sự phù phiếm chớp nhoáng hấp dẫn ta, nâng ta lên khỏi hoàn cảnh (được nhận định rằng) tẻ nhạt và ngao ngán. Nhưng ta là ở đây, mục đích ta sinh ra là ở ngay đây, trong đúng lúc này. Vậy ta đâu cần cái phao siêu việt nào kéo lôi đi chứ? Nó chỉ là những trò bậy bạ nhất thời, khuấy đảo những dịu dàng và thanh khiết của hiện tại – điều ta vẫn đang cố gắng phản bội. Ta mờ mắt đến độ chẳng nhận ra rằng thứ siêu việt hơn cả sự siêu việt là thứ không cần đến sự siêu việt.

Ở đó, trong những cơn mê mộng, ta được vào vai một kẻ tỉnh táo, thấy mình vượt trội hơn kẻ láng giềng, nhìn mình vĩ đại hơn hoàn cảnh đang diễn biến. Ta có sức mạnh mà bình thường ta không thấy, sở hữu những quyền năng mà những phút tẻ nhạt thờ ơ giữ khư khư trong cạp quần không chịu chia chác. Thứ sống động ấy tuôn trào trong mạch máu và chúng chào mời ta những khả năng hoành tráng để trở thành một kẻ hữu dụng vượt bậc, hay một kẻ thăng tiến không ngừng đến đỉnh vinh quang (của việc gì không cần biết, miễn sao phải là chiến thắng chói lòa, rực rỡ.)

Không, ta không đối diện với sự thật, không nhìn thấy sự thật, mà chỉ nhìn thấy những ước mơ hay chính là nỗi sợ hãi thầm kín nhất của mình. Chúng khoác áo choàng của sự lộng lẫy, nguy nga. Chúng là những tiếng vang từ một cái thùng ngôn từ trống rỗng. Và rồi chúng, chẳng khác gì nhau, lần lượt biến mất như những bọt bia vỡ trên thành cốc, để lại trong ta một khoảng hẫng hụt, một sự nhức nhối muộn phiền.

Nhưng rồi chẳng chóng thì chầy, tất cả những cơn mộng rồi cũng chấm dứt. Ta chẳng còn lại chút hình dung nào để bám víu, chẳng còn cánh cửa nào để bước vào đời sống. Khi ấy, ta nhận ra mình vốn dĩ đã ở trong đời sống rồi và vẫn đang diễn ra cùng nó. Tất cả chỉ có vậy: là cái đang là. Chẳng còn gì khác hơn thế nữa. Không thêm vào, cũng chẳng thể bớt đi.

Đến lúc đó, ta mới hiểu được sự khiêm nhường của hiện tại, cái phúc lành của kẻ không còn mang lòng tham luyến hay bịt mắt với những điều khuôn khung. Sự tự do ấy không ồn ào, rầm rộ. Sự tỉnh giác ấy chẳng cao siêu, thần thánh gì. Nó chỉ là cái bây giờ và ở đây, như nó vẫn đang ở đây bây giờ.

Chính vì sự đơn giản đến tận cùng như vậy của đời sống mà ngay đến việc nói về nó cũng chẳng còn cần thiết, và bất kỳ một mô tả nào ngoài “nó là chính nó” lại càng trở nên là thứ sáo rỗng, dư thừa. Có thể lý giải hiện tại bằng trăm vạn cách, nhưng rốt cuộc ta chỉ tạo ra những bản dịch khuyết lỗi, dở dang – thứ đã từng nhấn chìm ta trong những phút vui cuồng ngắn ngủi. Quả nhiên rằng, những cơn mê sẽ làm người ngây ngất. Nhưng chỉ sự thật mới khiến kẻ đó được bình an – như ta đang ở đây lúc này.


Tác giả: Vũ Thanh Hòa

Ảnh minh họa: Pexels

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

[THĐP Vietsub] Bạn là người kiến tạo thực tại của mình

https://www.facebook.com/TrietHocDuongPho2.0/videos/377822142785994/

>>> Xem trên Facebook

“Tôi muốn cảm ơn chính mình vì đã cố gắng làm nhiều điều đúng hơn là sai. Tôi muốn cảm ơn tôi vì luôn là chính mình!”


Biên dịch: Lê Gia Khiêm
Vietsub: Lê Gia Khiêm


📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

[THĐP Review] Không gia đình, Hector Malot – Lửa thử vàng, gian nan thử sức

0

thđp review

(1607 chữ, 6.5 phút đọc)

Không gia đình có thể được xem là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của văn hào người Pháp Hector Malot, được xuất bản năm 1878. Nó kể câu chuyện về chú bé Rémi không cha không mẹ (bị bỏ rơi từ khi mới lọt lòng.) Do số phận đưa đẩy, cậu phải lưu lạc tứ xứ, lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề và đối mặt với không ít những biến động, tai họa. Có thể nói, cuộc đời Rémi thăng giáng liên tục như một biểu đồ hình sin. Mỗi khi tưởng rằng từ nay em có thể an lành khi tìm được một bến đỗ bình yên, nhưng sau đó tác giả lại khiến tôi nhận ra rằng đó chỉ là một điểm dừng chân, một sự tĩnh lặng trước cơn giông bão.

“Vậy ra tôi chỉ yêu thương và được yêu thương để rồi phải xa lìa một cách phũ phàng, những người tôi cứ muốn sống suốt đời bên cạnh. Không có cách gì để có thể đoàn tụ họ lại được sao?” – Rémi

Mua cuốn tiểu thuyết này cũng khá lâu nhưng tôi chưa đụng tới nó. Mãi cho đến những ngày cuối cùng của năm mới, khi người người nô nức về quê quây quần bên gia đình, tôi mới mang nó ra đọc một mình trong phòng trọ. Thử cường điệu hóa sự cô đơn mình lên chắc cũng chẳng thể sánh bằng sự cô đơn của nhân vật chính Rémi trong tiểu thuyết, khi chú sống thiếu vắng những người thân yêu máu mủ, không phải chỉ một vài ngày mà ròng rã nhiều năm tháng trời. Tình cảm bạn bè giang hồ, chí tình chí cốt thì có thể tìm thấy được trên quãng đường đời, nhưng tình cảm huyết thống gia đình sâu sắc và thiêng liêng thì không thể tìm đâu ra được. Đấy là chưa kể, Rémi còn rơi vào trong những hoàn cảnh cơ hàn cùng cực trong những tháng năm đầu đời. Câu hỏi đặt ra đó là nhân vật Rémi tội nghiệp ấy liệu có bị nghịch cảnh làm cho biến chất, vấy bẩn hay không?

Khi đọc Không gia đình, ngay từ những trang đầu tiên, tôi đã thấy buồn. Buồn vì phải chứng kiến một đứa trẻ ngã vào đoạn trường gian truân khi còn quá nhỏ. Tuổi em là tuổi của hồn nhiên vui đùa, của những ngọt lành ngây dại cần chở che nâng đỡ. Nhưng dòng chảy khắc nghiệt của cuộc đời đã buộc Rémi phải gạt bỏ tất cả những điều đó sang một bên để bước tới sự tôi luyện bỏng rát dành cho một người trưởng thành. Tự chăm sóc lấy bản thân, tự bảo vệ chính mình trước những rình rập hiểm nguy của thế giới, tự kiếm kế sinh nhai nuôi sống xác thân và bầu bạn với nỗi cô đơn. Chú bé Rémi đã ở trong một hoàn cảnh thiếu thốn nặng nề cả về vật chất lẫn tinh thần. Tính mạng của chú thì chỉ chực đứt phăng khỏi sợi chỉ gắn với cuộc đời.

Một đời sống bấp bênh nay đây mai đó không phải dành cho tất cả mọi người. Hầu như ai cũng ưa thích sự an toàn, ổn định, cầu cho mình tìm được một ốc đảo bình yên mà nương tựa. Nhưng Rémi chỉ là một cậu bé. Ngoài sự ngây thơ và lòng nhân hậu thì em chẳng còn gì khác. Kinh nghiệm sống dường như bằng con số 0.

Lúc đầu, tôi có nghĩ rằng tác giả hơi “quá đáng” khi sắp xếp những nghịch cảnh cỡ lớn cho một nhân vật nhỏ tuổi. Vì với chấn động tiêu cực về tâm lý ở tuổi thơ có thể đeo bám và hủy hoại cả một đời người nếu như những dịu êm và ngọt lành không đủ để cân bằng lại. Đôi lúc tưởng tượng ra cảnh Rémi chết thảm ở đâu đó là tôi lại rùng mình. Nhưng khi nhớ ra là chú bé vẫn đang kể chuyện chứng tỏ là em còn sống sót nên tôi lại đọc tiếp… trong hồi hộp.

Có lẽ việc tạo ra môi trường khắc nghiệt, cực đoan như vậy là cơ hội cho tình người được nảy nở. Những lọc lừa, toan tính có thể vẫn ở đó nhưng không có nghĩa nó có thể lấn át được những yêu thương và niềm tin của con người. Rémi sống sót và băng qua những nẻo đường đời không chỉ nhờ vào ý chí và nghị lực sống phi thường của chính mình mà còn nhờ vào những tấm lòng thảo hiền, tinh thần tương thân tương ái của người khác. Cuốn tiểu thuyết mang đậm tính nhân văn, giáo dục cả trẻ em và người lớn về việc sống với nhau như thế nào mới xứng đáng là một con người.

Chưa dừng lại ở đó, cuốn sách còn xây dựng hình ảnh cậu bé Rémi như một tấm gương sáng cho các bạn nhỏ về khả năng sống tự lập. Chính sự “không gia đình” của Rémi là cơ hội cho cậu được học cách tự đứng trên đôi chân của mình và tránh khỏi trường hợp bị gia đình bao bọc, nuông chiều quá mức thành ra yếu ớt, dựa dẫm và hư hỏng. Tất nhiên, đổi lại cho sự trưởng thành đó là cái giá không hề nhỏ – Rémi phải chịu đựng sự cô đơn, buồn tủi hoặc phải đối mặt với khả năng trở thành một con người gỗ đá, chai lỳ, đóng băng cảm xúc.

Lúc đầu tôi chê trách tác giả Hector Malot là để cho một chú bé va vấp trường đời quá sớm, nhưng sau đó tôi lại thầm cảm ơn ông vì đã giữ vẹn nguyên nét hiền hậu, giản dị của Rémi bất chấp những hỗn mang vây bủa. Cách kể chuyện của Rémi (nhân vật “tôi”) khi nói về quãng đường gian truân của mình rất mộc mạc. Một đôi chỗ kể lể diễn đạt dài dòng, thừa thãi khiến tôi thấy không ưng ý lắm. Nhưng ngẫm lại đây là câu chuyện được nhìn qua con mắt của một chú bé thôn quê nên văn phong như vậy là hoàn toàn hợp lý.

Xuyên suốt tác phẩm, không ít những suy ngẫm hay lời thoại triết lý, đúc kết kinh nghiệm sống được thể hiện. Người ta không chỉ được chứng kiến câu chuyện phiêu lưu kỳ thú của một cậu nhóc, mà còn được học những bài học quý giá từ đó. Ví dụ đơn giản như cách nuôi dạy thú cưng hay cách ghi nhớ một câu chuyện bằng hình ảnh.

“Má sinh ra ở Chavanon thì má lại chết ở đấy thôi. Trí óc của má không hề vượt ra quá tầm con mắt của má. Và đối với con mắt của má thì vũ trụ nằm gọn trong cái vành chân trời trông từ trên chóp núi Aodouze.” – Rémi

Chưa dừng lại ở đó, Không gia đình còn truyền đạt một thông điệp rất quan trọng trong sự phát triển của một con người, đó là sự cân bằng giữa giá trị của vật chất và tinh thần. Sự thiếu hụt về một trong hai khía cạnh trên đều khiến con người có thể rơi vào lối sống lệch lạc, biến chất. Khát tiền, đói ăn thì dễ sinh thói ích kỷ tham lam, mưu mô trục lợi, trộm cắp, bán đứng tình thân. Còn khi thiếu tình yêu thương thì dễ sinh ra đau khổ, khắc nghiệt, bạo tàn. Tiền bạc, xác thân giúp chúng ta tồn tại. Còn tình yêu mới giúp chúng ta thật sự sống.

Có một điều đáng chú ý trong cuốn sách này đó là bên cạnh việc đề cao các giá trị tinh thần như lòng nhân ái, sự chăm chỉ, kiên cường, niềm tin và đức kiêm nhường, nó còn tỏ rõ tầm quan trọng của nghệ thuật (sự sáng tạo nghệ thuật) trong việc nâng đỡ tâm hồn con người. Những bài hát, những khúc nhạc, những tiết mục biểu diễn của Rémi cùng ông cụ Vitalis hay những người bạn Mattia, Authur, Lise được miêu tả rất sinh động và trải đều xuyên suốt cuốn tiểu thuyết. Không chỉ tình yêu, mà nghệ thuật là thứ gắn kết con người với nhau và mang lại những phép màu (làm thay biến đổi số phận của một kẻ từ u ám sang những trang vàng tươi sáng.) Chính âm nhạc là một trong những vị cứu tinh giúp cậu bé Rémi vượt lên khỏi những bi lụy để lấy lại sự lạc quan giữa cuộc đời.

Cuốn tiểu thuyết hơn 600 trang này có bố cục được sắp xếp rất khéo léo, vừa kích thích sự tò mò vừa gây bất ngờ, tưởng là dễ đoán được kết cục nhưng không hề. Cùng với sự miêu tả phong phú, đa dạng những địa danh và con người, Không gia đình còn giúp người đọc mở mang tầm mắt và học hỏi được vốn từ vựng phong phú.

Cuối năm 2018, bộ phim được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết kinh điển này đã được phát hành. Tuy nhiên, ai đã đọc sách rồi mà đi xem phim thì có thể sẽ bị hẫng hụt bởi sự giản lược và biến tấu trong nội dung. Dù sao đây cũng là điều khó có thể tránh khỏi từ xưa đến nay với đa số các tác phẩm điện ảnh được chuyển thể.

8.5/10 là điểm dành cho Không gia đình.


Tác giả: Vũ Thanh Hòa

Ảnh minh họa: Sadie Pices

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

Vâng, tôi chỉ là một tân ngữ!

0

(1048 chữ, 4 phút đọc)

Người ta nói rằng hãy học cách chấp nhận mọi sự đến với mình – chấp nhận hoàn toàn bất kể chúng tròn méo thế nào đi chăng nữa, như đất chẳng hề kêu ca sự hôi thối của rác rưởi, nước chẳng hề than vãn sự nhớp nhơ của sình lầy. Nhưng bây giờ nhìn lại tôi chỉ thấy đó là một lời khuyên không cần thiết, nếu không nói là thừa thãi một cách tai hại. Vì chúng khiến tâm tư của tôi lại thêm xáo động với những sự phân tích về nước, về đất, về rác, về bùn và thêm nghi hoặc chính bản thân bởi câu hỏi “Làm sao để chấp nhận các thứ trong khi rõ ràng là tôi đang đứng ngồi không yên với chúng?”

Nhưng thực ra mọi chuyện rối rắm như vậy là do tôi còn đang mắc kẹt nơi chính mình, đang còn luẩn quẩn trong câu chuyện của bản thân mà không tài nào bước vào câu chuyện của kẻ khác được. Tôi đã không thể chứng kiến thế giới theo góc nhìn của chính nó nên đã ra sức công kích, tàn phá.

Mọi thứ vốn dĩ đã được chấp nhận. Nếu không thì làm sao chúng có thể hiện diện được trước mắt tôi như bây giờ được chứ. Vấn đề chẳng phải ở phía tôi, là kẻ có mở lòng mình được không. Đó chẳng còn là chuyện quan trọng cho sự an vui này nữa. Vấn đề là mọi thứ đã được chấp nhận. Không biết bởi cái gì, nhưng chúng đã được dành dụm cho một không gian mà hiện diện, trong khi tôi đang ngoan cố chống trả ngoại cảnh để bảo vệ miền biên cương của tư tưởng.

Mọi thứ diễn ra giống như một câu bị động trong tiếng Anh. Chúng được chấp nhận. They are accepted. Bởi ai? By whom? Tôi không thể nhìn thấy, không thể gọi tên được cái tân ngữ ấy. Nó là một sự bỏ lửng, một sự trống rỗng đang mời gọi kẻ đứng lẻ loi bước vào, gia nhập cùng nó để khiến nó trở thành một cá thể có khuôn hình (hoặc để kẻ lữ khách kia nhòe tan đi mọi rào chắn.) Và như một mối liên kết không thể cưỡng lại, tôi tự điền chính mình vào vùng còn khuyết rỗng đó để câu bị động kia trở thành “They are accepted by me.” Chẳng cần đến một chút nỗ lực, hay một sự giải thích vòng vo, hay một sự dằn mình để ôm ấp lấy những điều chướng tai gai mắt, tôi thấy sự tồn tại của mình được hoàn toàn trọn vẹn, mình có một ý nghĩa và một mục đích trong đời.

Trước kia tôi đã từng nhiều phen chống trả lại cuộc sống, bằng mọi cách ngăn cản nó thâm nhập làm thay đổi thế giới quan của mình. Khi nghe người ta bảo rằng hãy đầu hàng, tôi chỉ càng thấy nhiều hơn một sự nặng nhọc hoặc càng thấy rõ hơn sự quẫy đạp trong hiện tại của bản thân. Điều đó chẳng khác nào đang gấp đôi lên những cơn hỏa mù, hay thêm một tay kiếm vào trong cuộc binh đao vậy. Càng nhiều câu lệnh được đặt ra, tâm tư này càng thêm rối bời. Vì “chấp nhận” không phải là một việc gì đó có thể “làm”, nên khi nó được đặt sau từ “hãy”, cả câu nói trở nên lố bịch.

Sự thật là tôi không bao giờ chấp nhận được thứ gì như đúng bản chất tự nhiên của nó vì bản thân tôi đã là một lăng kính. Sự tồn tại của tôi không phải là để chấp nhận thế giới, mà là để phân tích, bẻ gãy, cân đong vạn vật, đưa tất cả vào một hệ thống với hàng lối chỉnh tề. Mỗi khi sự kiện ập tới thì tôi chỉ việc truy xuất dữ liệu đã tích lũy để ứng phó, chẳng khác nào một cái máy. Nhưng khi nhìn sâu vào những thứ tôi có thể chấp nhận thì ở đó chỉ là chính mình, là đường nét hữu hạn nào đó trùng khớp với những câu chuyện, ăn nhập với những xu hướng của bản thân. “Tôi” không thể thân mật với thứ gì khác “tôi” cả. Chuyện là như thế.

Vậy nên trong những giờ khắc hoang mang, ai đó nhắc tôi rằng hãy chấp nhận, hãy quy phục thì chẳng khác nào bảo tôi rằng hãy đi chết đi – đó là một điều bất khả. Cái kiếm không thể tự đâm chính mình được.

Chỉ trong một câu bị động, tôi mới có khả năng quy hàng vì tôi được đẩy lùi về phía sau với tầm quan trọng được hoàn toàn xem nhẹ, có thể lược bỏ tôi đi mà câu chuyện không hề mất ý nghĩa. Thế là trong một hệ quy chiếu đảo lộn, tôi có thể chết một cách dễ dàng. Thậm chí, dù không được lược bớt đi, cái tân ngữ “tôi” (me) cũng được mỉm cười toại nguyện trong vị trí của mình, bởi rằng chiến thắng của nó hoàn toàn hòa nhập với chiến thắng của sự trống rỗng trong việc bao dung tất thảy những chủ ngữ trên đời.

Vâng, tôi chỉ là một tân ngữ, là kẻ điền vào chỗ khuyết sau cùng của câu chuyện chấp nhận. Chẳng còn “I” viết hoa dương dương tự đắc, xung phong đứng đầu thiên hạ, gánh lấy mọi trọng trách và mệnh lệnh, đồng thời cũng gánh lấy mọi bất hạnh và thương tổn. Chấp nhận một việc gì đó chẳng còn là chuyện của tôi nữa, chẳng còn là nghĩa vụ hay sự phải làm nào đó nữa. Nó được thực hiện bằng cách không cần phải thực hiện. Giờ đây tôi – cái tân ngữ nhẹ mình nhẹ mẩy này tha hồ chao liệng như một cánh chim trời. Biết đâu vào một ngày phiêu lãng bất chợt nào đó, tôi lại bắt gặp một mảnh đất lành – một câu bị động còn bỏ ngỏ khác đang chờ đợi thì sao. Nó có thể là “Everything is loved” chẳng hạn.


Tác giả: Vũ Thanh Hòa 

Ảnh minh họa: Pexels 

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2