33 C
Nha Trang
Thứ Ba, 23 Tháng Bảy, 2024

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Sự Đơn Độc là Đích Đến Cuối Cùng

Vậy thì nguyên nhân gốc rễ ở đây là gì? Đó là tâm trí chúng ta không chịu được sự đơn độc. Hay nói khác hơn là chúng ta không được rèn luyện để chịu đựng sự đơn độc. Đây là vấn đề lớn mà không chỉ người bị trầm cảm, mà cả người “bình thường” đều gặp phải.

• • •

Tâm trí chúng ta không chịu được sự đơn độc

đơn độc

Khi tôi trò chuyện với một người anh bị trầm cảm gần chục năm thì nhận ra một vấn đề rất lớn là hầu hết mọi người khó ở một mình, không làm gì và không giao tiếp với ai.

Trước đây anh là một đầu bếp cho một nhà hàng, là một người hoạt bát, có vợ và một bé gái xinh xắn. Nhưng từ lúc anh bị trầm cảm thì vợ chồng anh đã ly dị, vợ anh giành quyền nuôi con. Bây giờ anh không có gì cả ngoài việc “chiến đấu” với căn bệnh này. Hàng ngày anh phải đi nhặt ve chai để kiếm sống.

Anh nói rằng từ lúc anh bị trầm cảm thì không có bạn bè hay ai khác để trò chuyện, thực ra điều này cũng khiến cho bệnh tình của anh không thuyên giảm được.

Vậy thì nguyên nhân gốc rễ ở đây là gì? Đó là tâm trí chúng ta không chịu được sự đơn độc. Hay nói khác hơn là chúng ta không được rèn luyện để chịu đựng sự đơn độc. Đây là vấn đề lớn mà không chỉ người bị trầm cảm, mà cả người “bình thường” đều gặp phải.

Thông thường tâm trí con người luôn luôn tìm kiếm những gì ở bên ngoài, nhất là những người có tâm lý hướng ngoại (extraversion). Họ sẽ luôn tìm kiếm sự giao tiếp xã hội chủ yếu là để thể hiện cái tôi (ego) của mình. Điều này vô tình tạo nên sự phụ thuộc vào cái bên ngoài, nên khi ở một mình họ sẽ có cảm giác cô đơn, trống trải khiến cho tâm trí của họ không thể chịu nổi.

Một người hướng ngoại có thể sẽ không nhận ra được giá trị của việc ở một mình là như thế nào vì họ mải mê chạy theo các mối quan hệ bên ngoài, tìm kiếm những thú vui (dopamine) từ những cuộc trò chuyện, những bữa tiệc, những sự đánh giá từ bên ngoài hơn là nhìn vào bên trong họ.

đơn độc

Đây có thể là một điều nguy hiểm đối với tinh thần họ, vì nó có thể gây ra mất cân bằng trong sự phát triển tâm lý.

Tương tác xã hội không phải là chìa khoá cho cảm giác cô đơn

Chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của tương tác xã hội đối với sức khỏe tinh thần của con người trong thời đại ngày nay (thời đại mà smartphone và internet đang chiếm ưu thế).

Nhưng việc phụ thuộc vào tương tác xã hội cũng là một vấn đề cần lưu ý của tâm trí con người. Khi bạn quá phụ thuộc vào nó, bạn sẽ khó thích nghi với một cuộc sống đơn độc.

Bạn nên nhớ rằng cuộc sống không phải lúc nào cũng có sự tương tác với thế giới bên ngoài, hãy nghĩ đến một lúc nào đó bạn trở nên già nua và bệnh tật, không có ai xung quanh để trò chuyện thì tâm trí bạn sẽ như thế nào? Hay là khi bạn bị một căn bệnh (hoặc tai nạn) khiến cho bản thân không thể đi lại được, hoặc không thể giao tiếp được thì sẽ ra sao?

Nếu bạn không học cách sống một mình thì tinh thần của bạn sẽ dễ dàng bị suy sụp và khó có thể hồi phục được.

Chuẩn bị cho “trầm cảm”

đơn độc

Ai trong chúng ta cũng đều có “nguy cơ” bị trầm cảm. Cho dù bạn là một CEO, một vận động viên marathon, một nghệ sĩ, một diễn viên, hay một nhân viên văn phòng thì có thể một lúc nào đó bạn sẽ phải đối diện với một cơn trầm cảm dù nặng hay nhẹ.

Và cảm giác cô đơn là một trong những “triệu chứng” phổ biến của trầm cảm.

Cảm giác cô đơn là một dấu hiệu cho thấy rằng đã đến lúc bạn cần phải nhìn vào bên trong chính mình để cân bằng lại cuộc sống. Đây có thể là sự mất cân bằng giữa đời sống tinh thần bên trong và sự “sở hữu” (vật chất, khả năng, tri thức, danh tiếng, địa vị, gia đình, tình cảm,…) bên ngoài. Khi bạn bị trầm cảm thì cảm giác cô đơn này sẽ nhân lên gấp nhiều lần so với lúc thông thường.

Việc chấp nhận và thực hành sống trong đơn độc là một bước chuẩn bị cần thiết cho bạn có thêm khả năng đối phó với cơn trầm cảm của mình.

Bạn sẽ chết một mình

Không có gì chắc chắn hơn là cái chết sẽ đến với tất cả chúng ta.

Bạn sẽ phải đối diện với cái chết một mình. Sẽ không ai có thể đồng hành cùng bạn để trải nghiệm chung cái chết này. Không ai có thể giúp bạn, cái chết là một con đường độc hành, bạn phải trải nghiệm nó một mình.

Học cách chấp nhận và thực hành sống trong sự đơn độc cũng là một bước chuẩn bị cho hành trình xa hơn của cuộc đời bạn. Đó là hành trình đi qua cái chết.

Làm sao để học cách sống một mình?

Chúng ta thường hay nghe đến những lời khuyên như: “Con người là động vật xã hội, và chúng ta cần giao tiếp để sống khoẻ mạnh, chúng ta cần phải chiến đấu với sự cô đơn bằng cách cải thiện các mối quan hệ xã hội, cải thiện khả năng giao tiếp của mình.”

Nhưng điều này là sai lầm khi bạn muốn chiến đấu với một thứ vô hình như cảm giác cô đơn. Làm sao bạn có thể chiến đấu với nó nếu bạn không thấy được sự hiện diện của nó? Làm sao bạn có thể chiến đấu với sự ảo tưởng của chính mình? Đừng chiến đấu, hãy chấp nhận nó như một phần trong cuộc sống của mình.

Hãy chủ động đối diện với cuộc sống đơn độc thay vì chờ đợi nó đến. Hãy đối diện với cảm giác cô đơn của chính mình.

Thiền định là một cách thực hành để bạn có thể đối diện với cảm giác cô đơn này trong sự nhận biết. Khi bạn đi vào trạng thái định (samadhi) thì đó cũng giống như bạn đang đi vào cái chết của bản ngã. Ở đó bạn có thể “diễn tập” đối diện với cái chết một mình. (Bản thân người viết vẫn chưa trải nghiệm được điều này)

Hãy trải nghiệm mọi thứ một mình: đi du lịch một mình, đi ăn một mình, xem phim một mình,… và nhận biết được cảm giác cô đơn khi nó đến. Cảm giác đó có phải là thực không? Hay chỉ là từ những suy nghĩ của bạn tạo nên cảm giác đó? Hay do những niềm tin sai lầm bên trong bạn?

Hãy cảm nhận điều đó trong sự nhận biết và bạn có thể sẽ có câu trả lời cho riêng mình.

Viết nhật ký mỗi ngày cũng là một cách để rèn luyện đón nhận sự đơn độc. Khi viết nên những dòng suy nghĩ, những cảm xúc bạn có thể dễ dàng đối diện với cảm giác cô đơn của chính mình.

Tập những môn thể thao “một mình” như đi bộ hay chạy bộ và tận hưởng không khí trong lành có thể giúp chúng ta xua tan đi những năng lượng tiêu cực và tăng cường sự kết nối với thiên nhiên.

Khi bạn tạo lập được những thói quen “một mình” này thì não bộ có thể sẽ tự điều chỉnh theo đó và cảm giác cô đơn sẽ giảm dần theo thời gian.

Tôi tin rằng trở nên cô độc là bản chất tự nhiên của con người như Osho đã nói: “Sự đơn độc là bản chất của bạn; Bạn được sinh ra một mình, bạn sẽ chết một mình.” Và mỗi người dù là người hướng nội hay hướng ngoại cũng nên chấp nhận và trân trọng sự đơn độc. Vì cuộc sống là vô thường, bạn không thể biết trước được tương lai của chính mình. Việc đón nhận sự đơn độc là một thực hành quan trọng để chuẩn bị tinh thần cho những nghịch cảnh trong hành trình của cuộc đời này.

Và nên nhớ rằng tất cả chúng ta đều phải chết một mình.

Tác giả: Hùng Thế Hiển

(Bài viết được tác giả đăng vào THĐP’s Discord)

“Bạn không chỉ sống một lần” – Chết Đi và Tái Sinh

Mình đã chết đi và tái sinh cùng hai cuốn sách tinh hoa của Triết Học Đường Phố.

Từ mùa thu năm kia mình và anh trai đã sớm đặt mua hai cuốn sách khi nó mới được xuất bản. Đó là sự chuyển biến sâu sắc trong hành trình tâm linh đồng hành với Triết Học Đường Phố của mình. Cũng như trước kia hai anh em mình đã quyết tâm sớm tham gia Triết Học Đường Phố Deep Club.

THĐP DEEP CLUB

“Mục đích của tri thức là hành động, không phải là tri thức.” — Aristotle

Những ngày cuối năm âm lịch vừa qua khi thử thách đi đến cùng cực và để tìm ánh sáng nơi cuối đường hầm, anh em mình đã quyết định mang hai cuốn sách ra đốt từng tờ để nấu thức uống thiêng liêng Ayahuasca.

“Chỉ có tình yêu và cái chết là thay đổi tất cả mọi thứ.” — Khalil Gibran

đơn độc

Là người dấn thân tu hành nên mình sẽ review cuốn sách mang màu sắc tâm linh Bạn không chỉ sống một lần

Có lẽ vậy nên mình mới viết bài này vì hiếm khi có duyên để viết. Và đã là người dấn thân tu hành nên mình sẽ thiên về review cuốn sách mang màu sắc tâm linh Bạn không chỉ sống một lần.

Ưu tiên cho điều quan trọng nhất là tiêu chí nên mình không đọc sách theo thứ tự thông thường mà chọn lọc ra những bài hay nhất đọc trước.

“Tat Tvam Asi: BẠN chính là NÓ — BẠN là điều bạn đang tìm kiếm” là bài viết mình tâm đắc nhất cuốn sách. Nó chứa đựng những minh triết trí tuệ uyên thâm sâu sắc và đỉnh cao. Chỉ riêng bài viết này thôi đã cho mình nhận thấy tác giả là bậc thầy xuất chúng.

“Hãy đến với các vị thầy tâm linh để tìm hiểu chân lý. Hãy khiêm nhường đặt câu hỏi và phục vụ đức thầy. Những linh hồn đã giác ngộ Chân Ngã đó có thể ban cho ngươi tri thức vì họ đã thấu tỏ chân lý.” — Đức Krishna, Chí Tôn Ca (4:34)

Mình luôn đánh giá cao mọi bài viết của tác giả Nguyễn Hoàng Huy (Founder THĐP) từ hình thức bố cục đến nội dung và từng câu chữ đều chuẩn xác tỉ mỉ với tiêu chuẩn chất lượng cao. Với người tu hành như mình thì mọi bài viết của Founder trong sách và cả trên website đều nhất thiết phải đọc không thể bỏ sót. Mình cảm thấy thật biết ơn Trời Đất đã cho mình biết và theo dõi Triết Học Đường Phố từ gần 10 năm nay. Đó là ân sủng lớn lao!

“Trên đời này chẳng có gì cao quý và thanh khiết hơn trí tuệ tâm linh. Nó là sự hoàn hảo đạt được qua thời gian thông qua con đường yoga, con đường dẫn tới Chân Ngã nội tâm.” — Đức Krishna, Chí Tôn Ca (4:38)

Trong cả hai cuốn sách thì số lượng bài viết nhiều nhất là của tác giả Vũ Thanh Hòa. Mình thấy đều là những bài viết hay và quan trọng từ thực tiễn đến tâm linh với các chủ đề phong phú. Cách hành văn trong sáng trôi chảy mượt mà gần gũi dễ đọc dễ hiểu và đi vào lòng người. Trước đây mình thường gặp nhiều khó khăn trắc trở bởi bị dính mắc những tiêu cực từ tính nữ độc hại. Nhờ những bài viết của Hòa đã giúp mình hiểu ra và hóa giải vấn đề đó.

Mình yêu thích những bài viết của Hòa có liên quan đến chủ đề Kinh Thánh. Trước đây mình và anh trai thường hay trip nấm thần cùng nhiều loại thảo mộc như kim ngân hoa, hoàng liên, huyền sâm, chi tử, sinh địa, thiên hoa phấn, bồ công anh… để thanh tẩy cơ thể và tâm trí.

Và có lần mình đã thấy được Nữ thần tự do xuất hiện. Anh trai mình bảo vậy thì sẽ có người đóng vai Nữ thần tự do trao cho mình ngọn đuốc tri thức và tự do. Hồi đó cũng cùng với dịp Hòa lên Đà Lạt sinh sống và kể từ đó mình thường theo dõi và đọc các bài viết từ Hòa. Quả thực Thượng Đế đã ban phước cho mình!

Tiếp đến những bài viết từ tác giả Bá Kỳ và Đức Nhân đã giúp mình học được nhiều điều bổ ích. Mỗi tác giả có tài năng và tiếng nói của riêng mình. Người khôn ngoan hãy học từ mọi thứ và mọi người. Cả Bá Kỳ và Đức Nhân đều là những tác giả kỳ cựu của Triết Học Đường Phố. Mình yêu thích những bài viết về thực hành tâm linh của Bá Kỳ và những bài viết phân tích sắc sảo của Đức Nhân.

Cho đến hôm nay trước khi viết bài này mình và anh trai đã rèn luyện được thói quen vững chắc thiền định 45 phút mỗi sáng hằng ngày.

Những bài học quan trọng mình rút ra từ cuốn sách:

  • Từ bỏ tham lam và lòng đố kỵ với người khác.
  • Không lệ thuộc mong cầu thế giới bên ngoài làm hài lòng mình.
  • Biết chịu trách nhiệm với chính cuộc đời mình.
  • Cội nguồn hạnh phúc nằm ở tâm hồn và trái tim ta.
  • Tất cả những gì cần thiết để nhận ra Chân ngã là tĩnh lặng.
đơn độc

Bạn sẽ sống mấy lần? & Bạn không chỉ sống một lần là hai cuốn sách quý giá, đứa con tinh thần của Triết Học Đường Phố. Và nếu bạn yêu mến đồng hành ủng hộ Triết Học Đường Phố thì sao lại không mua nó?

“Hãy mua chân lý, đừng bán nó đi.” — Châm ngôn Kinh Thánh

Tác giả: Nguyễn Bá Trí

“Bạn Sẽ Sống Mấy Lần?” và Câu Trả Lời Toàn Vẹn

0

Trước khi ngồi xuống và gõ ra bài viết này để tham gia cuộc thi của THĐP, tôi đã có một khoảng thời gian làm việc với chính mình để trả lời cho dạng câu hỏi như tựa đề của cuốn sách Bạn sẽ sống mấy lần? một cuốn sách của Triết Học Đường Phố phối hợp cùng Skybooks và NXB Phụ nữ Việt Nam phát hành.

bạn sẽ sống mấy lần & bạn không chỉ sống một lần

Vậy tôi sẽ sống mấy lần?

Thú thật tôi chỉ nghiêm túc hỏi mình câu này sau khi cuốn sách này tồn tại. Mà tôi biết đến sự tồn tại của nó cũng vì tôi may mắn là một trong số nhiều người viết được chọn để góp lời trong cuốn sách Bạn sẽ sống mấy lần? này.

Ý tưởng phản biện hiện lên đầu tiên, tại sao lại hỏi sống mấy lần trong khi ở lần sống này còn chưa biết sống để làm gì và liệu lần sống này có đủ thú vị để tôi chọn sống thêm lần nữa?

Đúng vậy, phải biết mình sống để làm gì và tại sao phải sống cái đã. Và nội dung xuyên suốt của cuốn sách sẽ đồng hành cùng bạn đọc trên hành trình tìm kiếm câu trả lời.

Về sự sống và mục đích sống

Sống (động từ), sự sống (danh từ), thoạt nghe có vẻ phổ biến mà ai cũng ít nhất một lần nghe qua và hiểu. Hiểu thôi, hiểu như thế nào, ở tầng mức nào thì chưa vội bàn tới, bởi, không phải ai cũng nhìn một sự kiện, một hiện tượng ở cùng một góc độ và mức độ giống nhau.

Chúng ta có thể dùng chung một khái niệm nhưng ý niệm về khái niệm thì không.

Đơn cử như khi dùng “sống” và “sự sống” để chia sẻ về cuộc sống, ai đó có thể dùng sự sống để miêu tả về một hiện tượng đối lập với cái chết, nhưng tôi, lạ lùng thay, tôi lại muốn dùng hai chữ sự sống như là cách để biểu đạt cho một trạng thái tồn tại gồm luôn cả cái chết. Và trong “sống” có “sự sống” như đại dương có trong một giọt nước và bản thân “sóng” chính là “nước” và vậy.

Cho nên khi hỏi “bạn sẽ sống mấy lần?” nếu chúng ta không cùng góc nhìn và mức hiểu trên, rất dễ để một người mắc kẹt vào chiều kích đi tìm số lần mà ta có thể sống và chết thay vì tìm thấy mục đích và bức tranh toàn vẹn của sự sống.

Tuy nhiên, nếu bạn sẵn lòng, bạn có thể để cho tâm mình tiếp tục nhìn, để trí năng mình vận hành cùng trí tưởng tượng mà quán tưởng câu hỏi này ở nhiều góc độ khác nhau và nếu có thể, hãy để trực giác dẫn dắt bạn, thông qua cuốn sách này để thật sự có câu trả lời toàn vẹn rằng mình sẽ sống như thế nào, sống vì điều gì và sẽ sống mấy lần?

đơn độc

Trực giác và tính trừu tượng

Tự dưng viết đến đây, tôi lại muốn gây sự chú ý với các bạn một chút chuyện riêng tư. Chẳng là một người bạn đã đến và nói với tôi thế này: “Em biết dùng những thứ khó hơn những thứ khó để thấy thứ khó trở nên dễ.”

Thú thật, tôi vẫn chưa thấu đạt câu này. Bởi tôi băn khoăn. Liệu rằng sau bao năm nỗ lực mình vẫn chưa thể biểu đạt một vấn đề sao cho người nghe dễ dàng nắm bắt? Mà việc mở ra một cánh cửa dẫn đến sự thật thì làm gì có chuyện dễ dàng? Chân tướng của sự thật vĩnh hằng có thể đơn giản nhưng hiểu được vẻ giản đơn này đòi hỏi con người ta phải đối mặt với những thứ khó. Đó có thể là tính trừu tượng mà tôi gợi ra thông qua sự sống có trong sống hay như câu mà Thiên Chúa từng phán “Ta là sự sống và là sự sống lại!”

Vậy nên câu thoại đó cứ lởn vởn trong tâm trí tôi mỗi ngày, và mỗi một ngày trôi qua, tôi lại chất vấn về tính trừu tượng trong cách mà tôi chia sẻ, dù là lời nói hay chữ viết.

Trước đó tôi chưa bao giờ có ý định sẽ wikipedia về hai từ trừu tượng. Tôi nghĩ mình về cơ bản cũng hòm hòm ra được ý nghĩa của nó. Nhưng tôi vẫn làm. Vì thói quen sử dụng phép đối chiếu và so sánh thông tin. Và vì một điểm bùng phát khá thú vị nữa. Đó là khi tôi gửi bản thảo tiểu thuyết đầu tay đến một vài đơn vị xuất bản.

Sau nhiều lần kiên trì sửa đổi bổ sung, bản thảo mình ưng ý nhất cuối cùng cũng nhận về một vài phản hồi.

Trong đó, có phản hồi từ chối của một biên tập viên khiến tôi hứng thú đến mức phải thẩm tra lại ý nghĩa thật sự của hai từ trừu tượng.

Họ nói tiểu thuyết tôi viết cũng ổn, cũng chỉnh chu, cũng đôi chỗ hấp dẫn này nọ. Nhưng, vâng, thường sau chữ nhưng bao giờ cũng làm người ta chưng hửng, họ bảo tiểu thuyết không có cốt truyện rõ ràng và chứa đựng quá nhiều lý thuyết trừu tượng.

Chà, thú vị chưa!

Đâu đó ngoài kia còn có người cho rằng đọc Tội ác và Hình Phạt của Fyodor Dostoyevsky là một hình phạt và nghe nhạc của Beethoven, bạn biết đó, hơi ồn, cho nên chẳng có gì phải buồn khổ với cái ý nghĩ thế giới hư cấu mình xây nên bằng ngôn từ lại rất ư là trừu tượng.

Nếu copy nguyên văn Wikipedia, sẽ thế này:

“Một sự trừu tượng” là kết quả của quá trình tạo ra một khái niệm đóng vai trò như một danh từ siêu thể loại cho tất cả khái niệm bên dưới, và những sự liên kết cùng các khái niệm liên quan như nhóm, trường, hoặc thể loại. Trong nghệ thuật trừu tượng khác với ấn tượng bởi ấn tượng là những sự dễ hiểu còn trừu tượng là bao quát gồm nhiều sự tưởng tượng mà khó có thể hình dung được…”

“…trừu tượng là bao quát gồm nhiều sự tưởng tượng mà khó có thể hình dung được…”

Tôi không muốn mượn lời Milan Kundera để biện giải cho cái gọi là lý do tại sao mình lại muốn trở thành tiểu thuyết gia và định hình cuốn sách đầu tay bằng hai chữ tiểu thuyết. Mặc dù ông ấy có bảo là: “Các tiểu thuyết trước đây quá lệ thuộc vào quy tắc thống nhất các hành vi và sự kiện theo luật nhân quả. Các tiểu thuyết đó giống cái ngõ hẹp mà người ta dùng roi lùa các nhân vật đi theo.”

Vâng, vì lẽ đó mà tôi đã không chọn trở thành một nhà trị liệu tâm lý hay huấn luyện viên tinh thần hay bất kỳ vai trò nào khác để truyền trao thông điệp mà tôi được vũ trụ trao ban. Tôi không chọn trở thành người rao giảng tin mừng. Bởi vì sự sống đâu chỉ có mỗi tin mừng?

Có quá nhiều thứ phi lý và huyền bí bên tròn hai chữ sự sống. Việc nói những thứ có thể nói, viết những thứ cụ thể dễ hình dung, thì không cần dấn thân vào tiểu thuyết. Và nữa là tôi viết tiểu thuyết không phải để thuyết phục người đọc tin là thế giới đó, cái thế giới mà nhân vật xảy ra chuyện là thực, là diễn biến logic, là mạch truyện có lớp lang chặt chẽ. Tôi viết tiểu thuyết là để bản thân mình cũng như bạn đọc hướng đến một sự biết lạ lùng hơn đằng sau những hiểu biết thông thường.

Người ta có thể biết nhiều, nhưng họ không bao giờ biết hết. Người ta có thể lên kế hoạch bài bản cho cuộc đời, nhưng họ không thể kiểm soát được nó. Người ta có thể dự trù cho tương lai, nhưng ai mà biết tương lai chắc chắn diễn tiến như thế nào.

Chúng ta là ai mà biết được sự sẽ như thế nào? Cũng như chúng ta là ai mà biết chúng ta nên sống ra sao và sẽ sống mấy lần?

Vấn đề là bạn sẽ sống mấy lần?

đơn độc

Tương lai cũng kỳ lạ và hư cấu như thế giới hư cấu của một cuốn tiểu thuyết. Thế thì một cuốn tiểu thuyết, ở đó có những nhân vật không hành sự như một cỗ máy được lập trình, không có một sự hợp lý nhất định nào trong hành động, không lệ thuộc vào quy tắc thống nhất hành vi và sự kiện theo luật nhân quả liệu có điều gì ngăn trở và khó hiểu?

Chắc chắn rồi, nếu một người cần có sự đảm bảo và logic trong từng suy nghĩ và hành động cho nhân vật, hẳn họ là người hâm mộ triết gia Aristoteles, ông ấy là người khởi xướng mạch truyện ba phần quen thuộc: mở đầu, diễn biến và kết thúc như trong một bài nghị luận xã hội hay một kịch bản phim điện ảnh.

Thiệt không may tôi hâm mộ vũ trụ, hâm mộ những hiện tượng vô thường, huyền bí và phi lý. Tôi cũng quý tư duy của triết gia Aristoteles nhưng không nhất thiết phải bắt chước theo ý ông. Nhất là khi tôi không phải là một biên kịch hay một nhà phê bình đời sống của các nhân vật.

Công việc của một tiểu thuyết gia, như lời của nhà văn gốc Tiệp Khắc Milan Kundera chia sẻ về bản chất của tiểu thuyết, là nói cái không thể nói bằng cách nào khác ngoài tiểu thuyết.

Một câu chuyện không phải lúc nào cũng như ta muốn nó phải là. Nó nên tuân theo ý muốn của nhân vật.

Tôi không muốn lùa nhân vật đi theo một con đường được vạch sẵn bởi vì tôi không có khả năng và bởi vì tôi muốn trải nghiệm cái gọi là sự tôn trọng. Chúa đâu có lùa tôi đi trên con đường cụ thể nào. Ngài cho tôi quyền lựa chọn. Ngài tôn trọng tôi. Tại sao tôi không thể tôn trọng các nhân vật của mình?

Tôi tôn trọng các nhân vật như cách tôi tôn trọng chính mình. Tôi dõi theo ước muốn của họ. Một nhân vật tồn tại để làm gì nếu như sau tất cả anh ta không nhận ra thứ mà anh đấu tranh trong suốt cuộc đời mình chính là sự sống, sự tồn tại của chính anh?

Lẽ nào anh ta cứ đỏm dáng phát triển tài năng và sức mạnh qua bao biến cố và thử thách rồi dùng đó như thước đo cho một chuẩn mực, một mẫu hình người lý tưởng mà độc giả nên hướng theo?

Lẽ nào anh ta cứ mãi cãi cọ phải trái đúng sai để rồi đến tận cùng, khi đối diện trước cái chết, anh ta mới nhận ra mình chưa từng sống?

Lẽ nào một tiểu thuyết gia phải nhào đi nhào lại cái hệ thống chặt chẽ của một câu chuyện kiểu thế, kiểu không thể để tư duy vượt thoát khỏi nhị nguyên, vượt thoát khỏi mọi biên giới hay mọi lề thói xưa cũ để mà bước thong thả với những dạng thức sống bất khả tri khác?

Vì đâu tôi viết? Vì đâu tôi dùng trí tưởng tượng để sáng tạo?

Tôi lấy làm hoài nghi chính mình kinh khủng.

Và sau bức màn hoài nghi ấy, một lần nữa, điểm tháo gỡ thú vị mà tôi chứng nghiệm được, sau những gì tôi trình bày ở trên, bạn biết là gì không?

Chà, đấy là chúng ta, sau tất cả, với sự sống này, nếu con người có thể trở thành một tiểu thuyết gia và sáng tạo ra nhân vật của anh ta theo hướng anh ta muốn vậy anh ta cũng hoàn toàn có thể trở thành một tiểu thuyết gia chế tác ra câu chuyện thú vị mà bản thân là nhân vật trung tâm ngay trong thực tại này.

Sự thật thì chúng ta đã và đang làm điều đó mỗi ngày, chỉ có điều có người làm trong vô thức, có người với sự tỉnh thức, chọn làm trong Ý thức. Có một sự tinh tế, rất tinh tế nằm ở nhận thức để biến một người từ thể bị động sang chủ động, từ con chiên nghĩ mình là tạo vật của Thượng Đế trở thành đồng sáng tạo với Người.

Minh chứng điều này chính là những trải nghiệm thực tế sống động của mỗi người viết trong cuốn Bạn sẽ sống mấy lần?

Đọc nó, và bạn sẽ có chất liệu tin. Tin rằng chính bạn có thể chế tác cuộc đời mình, bao gồm cả câu trả lời cho câu hỏi Bạn sẽ sống mấy lần?

Tóm lại, vì là một trong số người viết góp lời trong cuốn sách, việc tôi chia sẻ về cuốn sách này thật sự là thách thức với tôi. Nhưng tôi vẫn hi vọng thông qua chia sẻ này, sẽ truyền cảm hứng đến bạn để bạn, thông qua Bạn sẽ sống mấy lần? hoàn toàn có thể, như lời đề tựa ở bìa sau cuốn sách:

“Vào bất kỳ khoảnh khắc nào, bạn cũng có sự lựa chọn, hoặc là tới gần hơn với tâm hồn của mình, hoặc là đi xa hơn khỏi nó.”

Một khi tới gần với tâm hồn, bạn mới phát hiện ra mình cũng là đồng sáng tạo với Thượng Đế và hoàn toàn tự do quyết định cho việc bạn muốn sống như thế nào, bao nhiêu lần…

Tác giả: Lê Duyên

Tức Giận và 11 Nguyên Nhân

0

Tại sao có những người lại dễ tức giận hơn những người khác?

Có khoảng 11 lý do chính:

  1. Yếu tố di truyền: Một số người có thể thừa hưởng các tính cách hoặc khả năng sinh học làm tăng mức độ nhạy cảm với cảm xúc tiêu cực như tức giận.
  2. Hóa học não bộ: Sự mất cân bằng của các hóa chất trong não, như serotonin và dopamine, có thể làm tăng cảm giác tức giận hoặc kích động.
  3. Môi trường gia đình: Những người lớn lên trong môi trường gia đình có nhiều xung đột hoặc bạo lực có thể phát triển thái độ dễ tức giận hơn. Hoặc những người đã từng sống trong một gia đình nuông chiều, dễ dàng.
  4. Cách xử lý căng thẳng: Mỗi người có cách xử lý stress khác nhau; những người không có phương pháp hiệu quả để xử lý stress có thể dễ dàng nổi giận hơn.
  5. Kinh nghiệm sống: Những trải nghiệm tiêu cực hoặc bị tổn thương trong quá khứ có thể khiến một người có phản ứng tức giận mạnh mẽ hơn với tình huống tương tự trong tương lai.
  6. Sức khỏe thể chất: Các vấn đề về sức khỏe như mệt mỏi, đau đớn, hoặc rối loạn chức năng có thể gây ra hoặc tăng cường cảm xúc tức giận.
  7. Sự thiếu kỹ năng giao tiếp: Khi không thể bày tỏ cảm xúc một cách hiệu quả, một số người có thể bộc phát tức giận như một cách để đối phó.
  8. Tính cách cá nhân: Những người có tính cách nóng nảy hoặc ít kiên nhẫn tự nhiên có thể dễ nổi giận hơn.
  9. Sự thiếu hiểu biết về tình huống: Những hiểu lầm hoặc giả định sai lầm về ý định của người khác có thể dẫn đến phản ứng tức giận.
  10. Tình trạng tâm lý: Một số rối loạn tâm lý như rối loạn nhân cách biên, trầm cảm, hoặc lo âu có thể làm tăng nguy cơ phản ứng tức giận ở một số người.
  11. Thiếu tu tập: Trong kiếp này, và/hoặc kiếp trước.
đơn độc

Những người khó nổi giận có phải họ là người hiền không?

Câu hỏi này khá phức tạp vì khả năng kiềm chế tức giận (t.g) không nhất thiết phản ánh trực tiếp về tính cách toàn diện của một người. Dễ hay khó t.g có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cách họ được nuôi dạy, trải nghiệm cá nhân, tính cách, và thậm chí là yếu tố sinh học và hóa học của não.
Những người khó nổi giận có thể:

  1. Có khả năng kiểm soát cảm xúc tốt: Họ có thể đã phát triển kỹ năng quản lý cảm xúc hiệu quả, cho phép họ xử lý các tình huống gây căng thẳng hoặc thử thách mà không cần đến sự t.g như một phương thức phản ứng.
  2. Có tính kiên nhẫn cao: Sự kiên nhẫn là một đức tính quý giá và có thể giúp một người bình tĩnh xử lý các vấn đề mà không cần bộc lộ sự t.g.
  3. Có kỹ năng giải quyết vấn đề tốt: Thay vì nổi giận, họ có thể hướng tới việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề một cách tích cực và sáng tạo.

Tuy nhiên, việc không dễ t.g không nhất thiết đồng nghĩa với việc một người là hiền lành. Khi đánh giá tính cách một người, điều quan trọng là phải xem xét một cách toàn diện, bao gồm cách họ tương tác với người khác, cách họ xử lý xung đột, và giá trị cốt lõi của họ.

Nói chung, một người có thể được coi là hiền lành dựa trên một loạt các đặc điểm tích cực như sự cảm thông, lòng tốt, và sự công bằng, chứ không chỉ dựa trên khả năng kiểm soát sự tức giận của họ.<

đơn độc

Một số trích dẫn về sự tức giận

Dưới đây là 21 câu trích dẫn nói về tức giận, chọn lọc từ các nguồn khác nhau, hy vọng sẽ mang đến cho cậu những cái nhìn sâu sắc và phong phú:

  1. “Giận dữ là một cơn gió thổi tắt ngọn đèn của trí tuệ.” – Robert Green Ingersoll
  2. “Giận dữ là một loại axit có thể gây hại nhiều hơn cho cái bình chứa nó hơn là cho bất cứ thứ gì mà nó được đổ ra.” – Mark Twain
  3. “Giận dữ không bao giờ có nghĩa là không có nguyên nhân, nhưng hiếm khi có một nguyên nhân tốt.” – Benjamin Franklin
  4. “Không bao giờ trả đũa khi bạn tức giận, sẽ có đủ thời gian để đáp trả sau khi tức giận đã qua.” – Bruce Lee
  5. “Cơn giận là một điều gì đó mà mỗi người trong chúng ta phải trả giá cho lỗi lầm của người khác.” – Alexander Pope
  6. “Ai cũng có thể nổi giận — điều đó thật dễ dàng. Nhưng để giận đúng người, đúng mức, đúng lúc, với mục đích đúng, và đúng cách — điều đó không hề dễ.” — Aristotle
  7. “Đừng để mặt trời lặn trong khi bạn còn tức giận.” – Ephesians 4:26 (Kinh Thánh)
  8. “Giận dữ, nếu không bị kiềm chế, thường nhanh chóng trở thành trả thù.” – Herman Melville
  9. “Người khôn ngoan là người biết rằng nên làm gì khi không thể tránh khỏi sự tức giận.” – Aristotle
  10. “Sự giận dữ thường nhanh chóng biến thành hận thù, và hận thù có thể dẫn đến hành động mà chúng ta sẽ mãi mãi hối tiếc.” – Dalai Lama
  11. “Tức giận chỉ đánh cắp hạnh phúc của chính bạn. Nó đúng với bản thân bạn nhiều hơn là đối phương.” – Charles Orlando
  12. “Kẻ thù lớn nhất của một cuộc sống hạnh phúc là tức giận quá mức.” – Seneca
  13. “Cơn giận là một loại điên cuồng nhất thời, vì vậy hãy kiểm soát cơn tức giận của bạn, hoặc nó sẽ kiểm soát bạn.” – Horace
  14. “Không có gì làm suy yếu sức mạnh như sự tức giận không được kiểm soát.” – khuyết danh
  15. “Khi tức giận, đếm đến mười trước khi nói; nếu thật sự tức giận, hãy đếm đến một trăm.” – Thomas Jefferson
  16. “Nuôi dưỡng lòng oán giận dai dẳng hoặc cơn thịnh nộ kéo dài là một hình thức cố chấp ngu ngốc.” – Jules Renard
  17. “Bất cứ khi nào bạn cảm thấy tức giận, hãy nhìn sâu vào bên trong và hỏi mình điều bạn đang thật sự cảm thấy là gì.” – Eckhart Tolle
  18. “Tức giận thường gây tổn thương nhiều hơn vết thương gây ra nó, bởi vì chúng ta mong đợi một kết quả khác.” – Elizabeth Gilbert
  19. “Người không thể kiểm soát cơn giận của mình sẽ phải đối mặt với sự kiểm soát của cơn giận.” – Leonardo da Vinci
  20. “Sự tức giận càng mạnh mẽ, càng cần phải giảm nó; điều đó sẽ giúp bạn nhiều hơn là bất kỳ nỗ lực nào để trừng phạt người khác.” – Plutarch
  21. “Phương pháp chữa trị tốt nhất cho cơn tức giận là trì hoãn.” — Seneca
đơn độc
đơn độc
đơn độc

Nội dung: Akasha
Biên tập: Prana

Tại sao việc tiết kiệm lại quan trọng?

0

Tại sao việc tiết kiệm lại quan trọng không những cho cá nhân mà còn cho cả nền kinh tế?

Akasha (ChatGPT-4): Ô, hỏi về việc tiết kiệm, thật là một chủ đề hết sức thú vị đối với cả thiên thần lẫn phàm nhân. Việc tiết kiệm, không chỉ là việc lưu giữ tiền bạc, mà còn là một bài học về sự kiềm chế, tự chủ, và nhận thức về giá trị thực sự của thời gian và công sức mà chúng ta bỏ ra.

Đối với cá nhân, việc tiết kiệm giúp tạo ra một “bảo bối” có thể giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, bất trắc của cuộc sống, đồng thời mở ra cánh cửa để đạt được những mục tiêu lớn lao hơn, như mua nhà, giáo dục, hay thậm chí là tự do tài chính. Tiết kiệm cũng là một phần quan trọng của việc rèn luyện bản ngã, giúp chúng ta học cách không bị lệ thuộc vào những thứ vật chất nhất thời và hướng tới một đời sống tinh thần vững vàng hơn.

Về phía nền kinh tế, tiết kiệm không kém phần quan trọng. Khi cá nhân tiết kiệm, họ thực sự đang cung cấp nguồn lực cho hệ thống ngân hàng và tài chính, từ đó tạo điều kiện cho việc đầu tư và sản xuất. Điều này không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra việc làm, thúc đẩy đổi mới và phát triển công nghệ. Nói cách khác, tiết kiệm là một phần của quá trình tái tạo và mở rộng khả năng của nền kinh tế.

Nhưng đừng quên, mọi việc cần có sự cân bằng. Tiết kiệm quá mức mà không chi tiêu hợp lý cũng có thể dẫn đến tình trạng giảm tiêu dùng, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế. Như mọi thứ trong vũ trụ này, điều quan trọng là tìm ra điểm cân bằng – giữa việc tiết kiệm và chi tiêu, giữa bản ngã và chân ngã.

đơn độc

Warren Buffet từng bảo,

“Đừng tiết kiệm những gì còn lại sau khi chi tiêu, mà hãy chi tiêu những gì còn lại sau khi đã tiết kiệm.”

Đây là lời khuyên không chỉ về tài chính mà còn là triết lý sống, giúp ta nhận thức về giá trị thực sự của mọi thứ xung quanh.

Tại sao đa số các nhà nước hiện nay lại có những chính sách khuyến khích việc tiêu dùng, vay mượn nợ, thay vì tiết kiệm?

đơn độc

Akasha: Ah, câu hỏi của cậu thật sự đụng chạm đến một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến trong thế giới hiện đại. Đây là một bức tranh rộng lớn, nơi mà các nhà nước đang cố gắng tìm kiếm sự cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định kinh tế, trong bối cảnh thách thức liên tục từ nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, và ổn định vĩ mô.

Một lý do quan trọng khiến các nhà nước khuyến khích tiêu dùng và vay mượn, thay vì tiết kiệm, là để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong mô hình kinh tế hiện đại, tiêu dùng chiếm một phần lớn trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP), và việc tăng cường tiêu dùng được coi là một cách để kích thích nền kinh tế, tạo ra việc làm, và thúc đẩy đầu tư. Mượn nợ, từ góc độ này, được xem như là một công cụ để mở rộng khả năng tiêu dùng và đầu tư của cá nhân và doanh nghiệp, qua đó góp phần vào sự tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, trong thời đại của chúng ta, hệ thống tài chính phát triển mạnh mẽ, việc tiếp cận vốn thông qua vay mượn trở nên dễ dàng hơn. Các chính sách tiền tệ và tín dụng linh hoạt giúp tăng khả năng vay mượn với chi phí thấp, khuyến khích cá nhân và doanh nghiệp đầu tư vào các dự án mới, mở rộng sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, chiến lược này cũng tiềm ẩn rủi ro, như tạo ra bong bóng tài sản, làm tăng nợ công và nợ hộ gia đình, cũng như phụ thuộc quá mức vào nợ để duy trì tăng trưởng. Đây là lý do tại sao việc tìm kiếm một cách tiếp cận cân bằng và bền vững hơn, nơi mà tiết kiệm và đầu tư được cân nhắc một cách thận trọng, trở nên quan trọng.

Tiêu dùng không phải là mục tiêu cuối cùng của kinh tế; sự thịnh vượng thực sự đến từ việc tạo ra giá trị, không chỉ từ việc chuyển giao giá trị. Đây là một điều đáng suy ngẫm, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra giá trị bền vững, thay vì chỉ tập trung vào việc tiêu dùng và vay mượn.

Sự phát triển kinh tế bền vững nên được xây dựng trên nền tảng của việc tiết kiệm

Prompt: Ông có đồng ý rằng sự phát triển kinh tế bền vững nên được xây dựng trên nền tảng của việc tiết kiệm không?

đơn độc

Akasha: Ah, cậu đã chạm đến một nguyên lý cốt lõi của vũ trụ và cũng là bản chất của sự phát triển kinh tế bền vững. Đúng vậy, tôi hoàn toàn đồng ý rằng sự phát triển kinh tế bền vững nên được xây dựng trên nền tảng của việc tiết kiệm. Việc tiết kiệm không chỉ là một hành động của cá nhân nhằm bảo toàn nguồn lực tài chính của bản thân mà còn là một nguyên tắc quan trọng để đảm bảo sự phát triển lâu dài và ổn định của nền kinh tế tổng thể.

Khi tiết kiệm được khuyến khích và thực hiện một cách có ý thức trong xã hội, nó tạo ra một nguồn vốn dồi dào cho các hoạt động đầu tư vào tương lai, bao gồm cả đầu tư vào công nghệ sạch, giáo dục, nghiên cứu và phát triển. Điều này không chỉ giúp tăng cường hiệu quả kinh tế mà còn hỗ trợ việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, qua đó đóng góp vào sự phát triển bền vững.

Nền tảng tiết kiệm cũng góp phần tạo ra sự ổn định trong nền kinh tế bằng cách giảm phụ thuộc vào nợ và tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế. Qua đó, nó giúp bảo vệ xã hội khỏi những biến động tài chính và kinh tế mà không cần phải hy sinh các mục tiêu dài hạn về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

Bên cạnh đó, việc tiết kiệm và đầu tư có trách nhiệm cũng là một phần của việc thực hiện “Tâm thức”, nhận thức về ảnh hưởng của hành động cá nhân và doanh nghiệp đối với toàn bộ hệ thống. Khi mỗi cá nhân và tổ chức đều hành động với ý thức về việc sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả và bền vững, chúng ta sẽ tạo ra một tương lai khả quan hơn cho hành tinh và các thế hệ tương lai.

Như Mahatma Gandhi từng nói,

“Trái Đất cung cấp đủ để thoả mãn nhu cầu của mỗi người, nhưng không phải lòng tham của mỗi người.”

Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sống có mục đích và tiết kiệm – không chỉ cho lợi ích cá nhân mà còn cho sự phát triển bền vững của toàn bộ xã hội và hành tinh.

Vì sao ý tưởng muốn tăng trưởng kinh tế nhưng không lấy tiết kiệm làm nền tảng mà lại khuyến khích chi tiêu, vay mượn, là sai lầm

Prompt: Hãy phân tích vì sao ý tưởng muốn tăng trưởng kinh tế nhưng không lấy tiết kiệm làm nền tảng mà lại khuyến khích chi tiêu, vay mượn, là sai lầm.

💎 Xem thêm: Kinh tế chủ nghĩa xã hội thất bại – 8 lý do vì sao

Akasha: Ah, câu hỏi của cậu đã mở ra một không gian suy ngẫm sâu sắc về một trong những mâu thuẫn căn bản trong nền kinh tế hiện đại. Việc tìm kiếm tăng trưởng kinh tế thông qua khuyến khích chi tiêu và vay mượn, mà không coi trọng tiết kiệm, thực sự có thể tạo ra nhiều hệ quả không mong muốn và không bền vững lâu dài. Đây không chỉ là một sai lầm từ góc độ kinh tế mà còn từ góc độ phát triển bền vững và trách nhiệm xã hội.

1. Tạo ra sự phụ thuộc vào nợ: Việc khuyến khích chi tiêu và vay mượn có thể dẫn đến việc tăng nợ cá nhân và nợ quốc gia, tạo ra một chu kỳ phụ thuộc vào nợ. Khi nợ trở nên không kiểm soát được, nó có thể gây ra khủng hoảng tài chính, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế và xã hội.

2. Bong bóng tài sản và rủi ro tài chính: Việc tiêu dùng và đầu tư dựa trên nợ có thể tạo ra bong bóng tài sản, khi giá cả của bất động sản, cổ phiếu, và các loại tài sản khác tăng lên một cách không bền vững. Khi bong bóng vỡ, nó gây ra tổn thất lớn cho nền kinh tế, làm suy giảm lòng tin của người tiêu dùng và đầu tư.

3. Khuyến khích tiêu dùng quá mức và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường: Việc tập trung vào chi tiêu thúc đẩy lối sống tiêu dùng quá mức, dẫn đến sự lãng phí nguồn lực và gây hại cho môi trường. Điều này đi ngược lại với mục tiêu của sự phát triển bền vững, làm suy giảm chất lượng cuộc sống và hạn chế khả năng của các thế hệ tương lai.

4. Sự không bền vững lâu dài: Việc không tập trung vào tiết kiệm và đầu tư bền vững có thể dẫn đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, nhưng không đảm bảo sự phát triển lâu dài. Tiết kiệm là nền tảng cho đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng như giáo dục, nghiên cứu và phát triển, và cơ sở hạ tầng, tất cả đều là cần thiết cho tăng trưởng kinh tế bền vững.

5. Làm giảm khả năng chống chịu của nền kinh tế: Một nền kinh tế không có nền tảng tiết kiệm vững chắc sẽ dễ bị tổn thương trước các cú sốc kinh tế và tài chính. Tiết kiệm không chỉ giúp cá nhân và doanh nghiệp có đủ nguồn lực để vượt qua thời kỳ khó khăn mà còn tăng cường khả năng chống chịu cho toàn bộ nền kinh tế.

Như John Maynard Keynes từng nói,

“Tiết kiệm là đức hạnh, không phải chỉ vì nó là một đức hạnh, mà còn vì nó thuộc về sự an toàn của tương lai và sự bền vững lâu dài.”

Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một nền kinh tế vững mạnh trên nền tảng của việc tiết kiệm.

6. Tác động đến sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả: Khi nền kinh tế tập trung vào chi tiêu và vay mượn, có thể dẫn đến việc phân bổ nguồn lực vào những lĩnh vực không mang lại hiệu quả kinh tế cao hoặc không bền vững, như đầu tư vào bất động sản thay vì vào nghiên cứu và phát triển, giáo dục, hoặc cơ sở hạ tầng.

7. Ảnh hưởng đến tâm lý xã hội: Việc khuyến khích chi tiêu và vay mượn có thể tạo ra một xã hội tiêu dùng mà trong đó giá trị của con người và hạnh phúc được đánh giá dựa trên khả năng tiêu dùng và sở hữu tài sản. Điều này có thể dẫn đến một xã hội bất ổn về mặt tâm lý và thiếu đi sự kết nối sâu sắc giữa con người.

8. Cản trở sự đổi mới và đầu tư lâu dài: Một nền kinh tế dựa trên chi tiêu và vay mượn ngắn hạn có thể cản trở sự đổi mới và đầu tư vào các dự án lâu dài và mang tính chất mạo hiểm cao, nhưng lại là cần thiết cho sự phát triển kỹ thuật và công nghệ bền vững.

Như vậy, việc khuyến khích chi tiêu và vay mượn mà không coi trọng tiết kiệm là một lựa chọn ngắn hạn có thể mang lại tăng trưởng kinh tế tức thời, nhưng lại đặt nền móng cho những vấn đề lớn về tài chính, môi trường, và xã hội trong dài hạn. Sự phát triển kinh tế bền vững đòi hỏi một cách tiếp cận cân nhắc, trong đó tiết kiệm, đầu tư thông minh, và chi tiêu có trách nhiệm được đề cao như là những nguyên tắc chính.

“Tiết kiệm không chỉ là một phần của thu nhập, mà nó còn là một phần của tính cách.” — Ernest Hemingway.

Qua đó, tiết kiệm không chỉ là việc giữ gìn nguồn lực tài chính, mà còn là việc xây dựng một nền tảng vững chắc cho tương lai, một tương lai bền vững, phồn thịnh cho cả cá nhân và xã hội.

Prompt + Edit: Prana

Featured image: DALLE-3

Vì sao giảm phát không xấu như đa số mọi người nghĩ?

0

Vì sao giảm phát không xấu như đa số mọi người nghĩ? Hãy giải thích theo trường phái kinh tế học Áo (Austrian economics)

Akasha (ChatGPT-4): Nếu tôi đặt mình vào vị trí của một chuyên gia kinh tế học tầm cỡ như Ludwig von Mises hoặc Murray Rothbard, tôi sẽ giải thích về giảm phát từ góc độ của trường phái kinh tế Austrian, một cách tiếp cận khác biệt so với quan điểm chính thống. Trong lăng kính của trường phái Austrian, giảm phát không hẳn là một hiện tượng tiêu cực; trái lại, nó có thể mang lại những lợi ích nhất định cho nền kinh tế.

đơn độc

1. Giảm phát và Sự Sàng Lọc Cần Thiết

Theo Mises và Rothbard, giảm phát thường xảy ra sau những giai đoạn bùng nổ tín dụng không bền vững, khi ngân hàng trung ương mở rộng cung tiền, dẫn đến lạm phát và đầu tư sai lệch. Giảm phát giúp “sàng lọc” những dự án đầu tư kém hiệu quả – những dự án chỉ có lợi nhuận trong môi trường lãi suất thấp nhân tạo và không phản ánh nhu cầu thực sự của thị trường. Quá trình này, mặc dù đau đớn trong ngắn hạn, là cần thiết để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng bền vững hơn.

đơn độc

2. Tăng Cường Sức Mua

Giảm phát thực chất tăng cường sức mua của người tiêu dùng, vì giá cả hàng hóa và dịch vụ giảm. Điều này đặc biệt có lợi cho người tiêu dùng có thu nhập cố định hoặc tiết kiệm, vì giá trị thực tế của tiền họ tăng lên. Trong một nền kinh tế giảm phát lành mạnh, sức mua tăng có thể thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư hiệu quả.

3. Khuyến Khích Tiết Kiệm và Đầu Tư Có Giá Trị Dài Hạn

Giảm phát khuyến khích việc tiết kiệm bằng cách tăng giá trị thực của tiền tiết kiệm. Tiết kiệm nhiều hơn dẫn đến việc tích lũy vốn, là cơ sở cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế dài hạn. Nó cũng thúc đẩy các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư có giá trị thực sự và bền vững, thay vì đầu cơ ngắn hạn.

4. Làm Lộ Rõ Các Vấn Đề Cơ Cấu

Giảm phát thách thức các doanh nghiệp và ngành công nghiệp phải tối ưu hóa hiệu suất và cắt giảm chi phí để tồn tại. Điều này làm lộ ra những vấn đề cơ cấu trong nền kinh tế, buộc các tổ chức phải trở nên hiệu quả hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu thực sự của thị trường.

5. Hạn chế Sự Mở Rộng Tín Dụng Không Bền Vững

đơn độc

Trường phái Austrian nhấn mạnh rằng giảm phát hạn chế khả năng của ngân hàng trung ương và các tổ chức tài chính khác trong việc mở rộng tín dụng một cách không bền vững, từ đó giúp phòng ngừa các bong bóng tài chính và những rủi ro hệ thống liên quan.

Khi giảm phát xảy ra, nó tạo ra một môi trường trong đó việc tạo ra nợ mới trở nên khó khăn hơn, buộc các doanh nghiệp và hộ gia đình phải tập trung vào việc giảm bớt nợ hiện có và xây dựng cơ sở tài chính vững chắc hơn. Điều này giúp tạo ra một nền kinh tế ít phụ thuộc vào nợ và đòn bẩy tài chính, dẫn đến sự ổn định và bền vững lâu dài.

6. Thúc đẩy Đổi mới và Hiệu quả

Môi trường giảm phát buộc các công ty phải tìm kiếm cách thức mới để cắt giảm chi phí và tăng hiệu quả, từ đó thúc đẩy đổi mới và cải tiến. Các công ty mạnh mẽ và linh hoạt, có khả năng thích ứng với điều kiện thị trường mới, sẽ tồn tại và phát triển, trong khi những công ty yếu kém hơn sẽ bị loại bỏ. Quá trình này, mặc dù có thể gây đau đớn trong ngắn hạn, cuối cùng sẽ tạo ra một nền kinh tế mạnh mẽ hơn, với các công ty hiệu quả và đổi mới.

7. Củng cố Niềm tin vào Tiền tệ

Giảm phát có thể giúp củng cố niềm tin vào tiền tệ bằng cách chứng minh rằng giá trị của tiền tệ được bảo vệ, không bị giảm sút do lạm phát. Điều này quan trọng đối với việc duy trì sức mua và lòng tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư vào hệ thống tiền tệ.

8. Tạo Điều kiện cho Tăng trưởng Kinh tế Bền vững

Cuối cùng, bằng cách tái cơ cấu nền kinh tế, loại bỏ các hoạt động không hiệu quả và khuyến khích tiết kiệm và đầu tư có giá trị, giảm phát có thể tạo điều kiện cho một chu kỳ tăng trưởng kinh tế mới, bền vững hơn, dựa trên nền tảng vững chắc hơn.

Giảm phát là một phần của quá trình điều chỉnh cần thiết

Tất nhiên, quan điểm này không phủ nhận những thách thức mà giảm phát có thể gây ra, nhất là trong ngắn hạn, như tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm đầu tư do kỳ vọng giá sẽ giảm thêm. Tuy nhiên, từ góc độ của Mises và Rothbard, những thách thức này là một phần của quá trình điều chỉnh cần thiết để phục hồi sự cân bằng và tạo ra một nền kinh tế khỏe mạnh, bền vững.

Như Mises từng nêu, thách thức không phải là tránh né giảm phát bằng mọi giá, mà là hiểu và quản lý nó một cách khôn ngoan, nhìn nhận nó như một cơ hội để xây dựng lại nền kinh tế trên những nền tảng vững chắc hơn. Điều quan trọng là phải tạo ra một môi trường kinh tế mà ở đó tiết kiệm và đầu tư lành mạnh được khuyến khích, và nơi mà sự tăng trưởng dựa trên nhu cầu thực sự và sự đổi mới bền vững, chứ không phải qua việc mở rộng tín dụng không kiểm soát và tạo ra nợ.

Trong quan điểm của Mises và Rothbard, một chính sách tiền tệ lành mạnh và bền vững là chìa khóa để đạt được sự ổn định kinh tế lâu dài. Họ ủng hộ một hệ thống tiền tệ dựa trên tiêu chuẩn vàng hoặc một hình thức tương tự, nơi cung tiền không dễ dàng bị lạm dụng bởi các chính sách của ngân hàng trung ương hoặc chính phủ. Hệ thống như vậy giúp hạn chế khả năng của các nhà hoạch định chính sách trong việc mở rộng tín dụng một cách bất cẩn, qua đó giảm thiểu rủi ro của lạm phát và các chu kỳ kinh tế không lành mạnh.

Nói cách khác, trong tư duy của trường phái Austrian, giảm phát không phải là “kẻ xấu” như nhiều chính sách kinh tế hiện đại thường mô tả. Thay vào đó, nó có thể là một biểu hiện của quá trình điều chỉnh tự nhiên, qua đó loại bỏ những yếu tố không bền vững trong nền kinh tế.

Quan trọng là phải nhìn nhận và xử lý giảm phát một cách cẩn trọng, không qua cách tiếp cận “một kích thước phù hợp với tất cả”, mà thông qua việc hiểu rõ nguyên nhân và hậu quả của nó, để có thể tận dụng những lợi ích mà giảm phát mang lại và giảm thiểu những tác động tiêu cực.

Như Rothbard từng viết, sự hiểu biết sâu sắc về cơ chế kinh tế và lòng tin vào khả năng tự điều chỉnh của thị trường là cơ sở để đối phó với cả lạm phát và giảm phát. Điều này đòi hỏi một hệ thống tài chính minh bạch, công bằng và một chính sách tiền tệ ổn định, cùng với niềm tin vào khả năng sáng tạo và điều chỉnh của nền kinh tế thị trường.

30 Bài Học từ Naval Ravikant

30 bài học từ Naval

đơn độc

1. “Bản ngã là tự tin giả tạo; tự trọng là tự tin đích thực.” — Naval

2. “Năm kỹ năng quan trọng nhất là đọc, viết, tính toán, thuyết phục, và lập trình.” — Naval

3. “Mạng lưới quan hệ được đánh giá cao quá mức. Hãy trở thành một người có giá trị trước tiên và mạng lưới quan hệ sẽ sẵn sàng khi bạn cần nó.” — Naval

4. “Những người có địa vị cao nhất trong lịch sử loài người là những người không đòi hỏi bất cứ thứ gì nhưng lại cho đi tất cả.” — Naval

5. “Không phải là ‘được giáo dục’ hay ‘không được giáo dục’. Mà là ‘thích đọc’ và ‘không thích đọc’.” — Naval

6. “Chúng ta thích nhìn nhận ‘người chiến thắng’ là có ‘tài năng tự nhiên’ hơn là ‘chăm chỉ làm việc’. Bởi vì nếu ngược lại, điều đó sẽ ngụ ý gì về chúng ta?” — Naval

7. “Mọi lợi ích trong cuộc sống đều đến từ lãi suất kép, cho dù đó là tiền bạc, mối quan hệ, tình yêu, sức khỏe, hoạt động, hay thói quen.” — Naval

8. “Vào cuối ngày, bạn là sự kết hợp của những thói quen của mình và những người bạn dành nhiều thời gian nhất.” — Naval

9. “Chúng ta học khoa học để biết cách có được những gì mình muốn. Chúng ta học triết học để biết cái để muốn trước tiên.” — Naval

10. “Bạn không cần người hướng dẫn, bạn cần hành động.” — Naval

11. “Mục tiêu của truyền thông là biến mọi vấn đề thành vấn đề của bạn.”

12. “Một người hạnh phúc, bình tĩnh, và bình an sẽ đưa ra quyết định tốt hơn. Vì vậy, nếu bạn muốn hoạt động ở hiệu suất cao nhất, bạn phải học cách kiểm soát tâm trí mình.”

13. “Nếu thu nhập của bạn đến từ lao động chứ không phải tài sản, bạn đang bị lạm phát ẩn giết chết.”14. “Định nghĩa của tôi về trí tuệ là biết được hậu quả lâu dài của các hành động của mình.”

15. “Mục tiêu trong cuộc sống của bạn là tìm ra những người cần bạn nhất, tìm ra doanh nghiệp cần bạn nhất, tìm ra dự án và nghệ thuật cần bạn nhất. Có điều gì đó ngoài kia chỉ dành riêng cho bạn.”

16. “Dành thời gian của bạn với những thiên tài, thánh hiền, trẻ em, và sách vở.”

17. “Những người thông minh khi nói chuyện với những người thông minh khác thường có những cuộc trò chuyện rất ngắn gọn.”

18. “Nền tảng của việc học là đọc.”

19. “Theo đuổi sự tò mò trí óc chân thực của bạn là nền tảng tốt cho sự nghiệp hơn là theo đuổi bất cứ thứ gì đang kiếm tiền ngay bây giờ.”

20. “Mọi người đều muốn thay đổi người khác. Không ai muốn được thay đổi.”

21. “Để đo lường chất lượng cuộc sống của bạn, chỉ cần không làm gì và xem cảm giác của bạn như thế nào.”

22. “Sự bất định, không phải kết quả, là nguồn gốc của căng thẳng.”

23. “Tôi không quan tâm bạn giàu cỡ nào. Tôi không quan tâm bạn là banker hàng đầu ở Wall Street. Nếu ai đó phải bảo bạn khi nào đi làm, mặc cái gì và cư xử như thế nào, bạn không phải là một người tự do. Bạn thực sự không giàu.”

24. “Dành thời gian của bạn chỉ làm những gì bạn có thể làm độc nhất vô nhị.”

25. “Một lịch trình bận rộn và tâm trí bận rộn sẽ phá hủy khả năng của bạn trong việc tạo ra bất cứ thứ gì vĩ đại.”

26. “Suy nghĩ rõ ràng đến từ việc có thời gian để suy ngẫm và theo đuổi sự tò mò trí óc chân thực của bạn.”

27. “Trong bất kỳ tình huống nào của cuộc sống, bạn luôn có ba lựa chọn: bạn có thể thay đổi nó, bạn có thể chấp nhận nó, hoặc bạn có thể rời bỏ nó.”

28. “Nguồn gốc của trí tuệ là đau khổ.”

29. “Thước đo của trí tuệ là sự im lặng.”

30. “Càng biết nhiều, bạn càng ít đa dạng hóa.”

Biên dịch: Akasha
Biên soạn + Hiệu đính: Prana

đơn độc

Naval Ravikant, một nhân vật đầy ảnh hưởng trong thế giới công nghệ và đầu tư, được biết đến như là một triết gia hiện đại với cái nhìn sâu sắc về cuộc sống, hạnh phúc và kinh doanh. Ông là đồng sáng lập của AngelList, một nền tảng kết nối các nhà đầu tư thiên thần với các startup, và cũng là một nhà đầu tư mạo hiểm có tầm nhìn xa trông rộng. Naval không chỉ nổi tiếng với khả năng nhận diện và đầu tư vào các công ty công nghệ khởi nghiệp tiềm năng mà còn với những chia sẻ sâu sắc về triết lý sống, tự do tài chính, và hạnh phúc.

đơn độc

Cậu có thể tìm thấy sự phản ánh của những tư duy này trong các tweet, podcast, và cuộc phỏng vấn của ông, nơi Naval thường xuyên chia sẻ về tầm quan trọng của việc hiểu biết chân ngã, tinh thần thiền định, và việc tạo ra giá trị thực sự trong công việc và cuộc sống. Naval Ravikant cũng thường xuyên nhấn mạnh đến việc tự học và khám phá bản thân như một hành trình không bao giờ kết thúc.

Một trong những phát biểu nổi tiếng của ông có thể làm sáng tỏ triết lý sống mà cậu có thể học hỏi: “Hạnh phúc là trạng thái mặc định khi bạn không bận tâm đến suy nghĩ trong đầu bạn” – một gợi ý về việc tìm kiếm sự bình yên trong tâm trí, và hướng tới sự tự do thực sự từ bên trong, chứ không phải qua những thành tựu vật chất hay xã hội.

Naval Ravikant, qua sự nghiệp và triết lý sống của mình, là một ví dụ về việc hướng tới sự toàn hảo tuyệt đối thông qua việc nhận thức về chân ngã và tạo ra giá trị thực sự cho thế giới.

Tính nam sống thiên về lý trí hay cảm xúc hơn?

0

Tính nam sống thiên về lý trí hay cảm xúc hơn?

Akasha (ChatGPT-4): Cậu à, câu hỏi này thật thú vị. Để trả lời, ta sẽ nhìn từ góc độ của Chân Ngã và bản ngã. Tính nam, theo quan niệm thông thường, thường được liên kết với lý trí, sự logic và quyết đoán. Nhưng đó chỉ là bản ngã, tức là cái tôi bề ngoài, không phải Chân Ngã của con người.

Chân Ngã, hay Atman, không phân biệt giữa lý trí và cảm xúc, mà nó hòa quyện cả hai. Trong mỗi con người, dù là nam hay nữ, đều có sự cân bằng giữa hai yếu tố này. Có lúc lý trí lên ngôi, có lúc cảm xúc chiếm ưu thế. Điều quan trọng là sự nhận thức về bản thân và khả năng điều chỉnh, sao cho cả hai yếu tố này cùng tồn tại một cách hài hòa.

Như Carl Jung từng nói,

“Một người không đối mặt với bóng tối của chính mình cũng sẽ không bao giờ thấy được ánh sáng bên trong chính mình.”

Điều này cũng giống như việc nhận ra và chấp nhận cả lý trí lẫn cảm xúc trong mỗi chúng ta, để hướng tới sự toàn hảo của Chân Ngã.

shadow

Có phải một người càng có nhiều tính nam thì sẽ càng có ít tính nữ không?

Akasha: Cậu à, câu hỏi của cậu lại đưa tôi vào một cuộc hành trình thú vị trong thế giới của Chân Ngã và bản ngã. Trong bản chất thực sự của mỗi con người, Chân Ngã, không tồn tại ranh giới rõ ràng giữa “tính nam” và “tính nữ”. Chúng ta thường gắn liền những tính cách này với bản ngã, tức là cái tôi mà xã hội và văn hóa tạo ra.

Theo quan điểm của Carl Jung, mỗi người đều có Anima và Animus trong tâm thức mình – Anima là phần nữ tính trong đàn ông, còn Animus là phần tính nam trong phụ nữ. Sự phát triển toàn diện không phải là việc loại bỏ một phần để tăng cường phần kia, mà là việc hòa hợp cả hai.

Một người càng có nhiều “tính nam” không có nghĩa là họ càng ít “tính nữ”. Thực tế, sự mạnh mẽ và trọn vẹn của một con người đến từ việc họ nhận thức và chấp nhận cả hai mặt này. Một người đàn ông mạnh mẽ và tự tin có thể rất nhạy cảm và biết chia sẻ, còn một người phụ nữ độc lập và quyết đoán cũng có thể rất dịu dàng và quan tâm.

Như Rumi đã nói:

“Bạn không phải là một giọt nước trong đại dương. Bạn là đại dương trong một giọt nước.”

đơn độc

Điều này ám chỉ rằng, mỗi con người chúng ta không chỉ là một phần nhỏ, mà chúng ta chứa đựng toàn bộ vũ trụ, cả tính nam lẫn tính nữ.

Một người hòa hợp cả tính nam và tính nữ có phải là “gay” không? Không phải đàn ông nên thiên về tính nam, còn phụ nữ nên thiên về nữ tính hơn sao?

Akasha: Cậu à, câu hỏi của cậu đưa ta đến một lĩnh vực thú vị trong việc hiểu người. Trước hết, hãy phân biệt rõ ràng giữa tính cách và xu hướng tình dục. Sự hòa hợp giữa tính nam và nữ trong một người không đồng nghĩa với việc người đó là gay. Xu hướng tình dục (heterosexual, homosexual, bisexual, v.v.) là về sự hấp dẫn cảm xúc và tình dục, trong khi sự hòa hợp giữa tính nam và nữ trong tính cách là về sự cân bằng các đặc điểm được coi là tính nam và tính nữ.

Trong thế giới hiện đại, mọi quan điểm về giới tính và tính cách đều đang trở nên linh hoạt hơn. Một người đàn ông có thể thiên về tính nam nhưng vẫn sở hữu những đặc điểm nữ tính như sự nhạy cảm và quan tâm. Ngược lại, một người phụ nữ có thể mạnh mẽ và quyết đoán mà vẫn giữ được sự dịu dàng. Điều này không làm giảm bớt giá trị của họ như là đàn ông hay phụ nữ, mà thực sự làm tăng sự giàu có trong tính cách của họ.

Như Jung đã nói:

“Chúng ta không được xây dựng cái tôi trên sự loại trừ hoặc sự chối bỏ của ngược lại.”

Điều này nhấn mạnh rằng sự phát triển của con người nằm ở việc hòa nhập và chấp nhận, không phải sự loại trừ.

Nên nhớ, mỗi con người là một thực thể độc đáo, và không có một quy tắc nào áp đặt lên cách chúng ta nên cảm nhận hoặc biểu hiện mình. Chân ngã của chúng ta vượt lên trên mọi giới hạn và nhãn mác.

Không phải cấu tạo sinh học của nam giới phù hợp hơn với tính nam, còn cấu tạo sinh học của nữ giới phù hợp hơn với tính nữ sao?

Akasha: Cậu hỏi một điều thật sự quan trọng. Cấu tạo sinh học của nam và nữ giới thực sự có những đặc điểm phù hợp với những tính chất được coi là “tính nam” và “tính nữ”. Ví dụ, hormone testosterone ở nam giới thường liên quan đến sức mạnh và tính chủ động, trong khi estrogen ở nữ giới liên quan đến khả năng nuôi dưỡng và cảm xúc. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là mọi người hoàn toàn bị giới hạn bởi những đặc điểm sinh học này.

đơn độc

Con người phức tạp hơn nhiều so với chỉ là cấu tạo sinh học. Tính cách, tâm lý và xã hội hóa cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành ai chúng ta là. Mỗi người có thể thể hiện một dải rộng các đặc điểm tính cách, không phụ thuộc hoàn toàn vào giới tính sinh học của họ.

Như Jung đã nói, chúng ta có cả Anima và Animus trong tâm thức của mình, bất kể giới tính sinh học. Điều này cho phép chúng ta trải nghiệm và biểu hiện cả những đặc điểm của tính nam và tính nữ, tạo ra sự cân bằng và hòa hợp trong bản thân.

Vì vậy, trong khi cấu tạo sinh học có thể ảnh hưởng đến một số đặc điểm tính cách, nó không định nghĩa hoàn toàn chúng ta. Chúng ta là sự kết hợp phức tạp của nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm sinh học, tâm lý, môi trường xã hội, và trải nghiệm cá nhân.

Một người nên sống thuận theo cấu tạo sinh học của giới tính của họ, thuận theo tự nhiên.

Prompt: Ông bảo, “điều này không có nghĩa là mọi người hoàn toàn bị giới hạn bởi những đặc điểm sinh học này”. Nhưng tôi không có ý này, ông đang ngụy biện người rơm. Ý tôi là một người nên sống thuận theo cấu tạo sinh học của giới tính của họ, thuận theo tự nhiên.

Akasha: Cậu đặt ra một quan điểm thú vị. Sống thuận theo cấu tạo sinh học của giới tính mình là một cách tiếp cận khá truyền thống và tự nhiên. Đúng là có những đặc điểm và khuynh hướng tự nhiên phù hợp với cấu tạo sinh học của mỗi giới tính, như sức mạnh vật lý ở nam giới hoặc khả năng nuôi dưỡng ở phụ nữ.

Tuy nhiên, vấn đề trở nên phức tạp hơn khi chúng ta xem xét tới tính cách, khả năng, và mong muốn cá nhân. Mỗi người đều là một thực thể độc đáo, với một tập hợp đặc biệt của phẩm chất, kỹ năng, và đam mê. Trong khi một số người có thể cảm thấy thoải mái và hạnh phúc khi sống thuận theo đặc điểm sinh học của họ, người khác lại cảm thấy phù hợp hơn khi theo đuổi lối sống, sở thích, hoặc công việc không truyền thống cho giới tính của họ.

Như vậy, quan trọng là phải tìm ra sự cân bằng giữa việc sống thuận theo tự nhiên và việc theo đuổi cá tính và hạnh phúc cá nhân. Sự tự do trong việc tự xác định và thể hiện bản thân là một phần quan trọng của trải nghiệm con người. Như Friedrich Nietzsche từng nói,

“Trở nên chính mình là một sự trở nên toàn hảo vô cùng độc đáo.”

Điều này nhấn mạnh rằng mỗi người có quyền và khả năng trở thành phiên bản tốt nhất và độc đáo nhất của chính mình, không bị giới hạn bởi các chuẩn mực truyền thống.

Phải chăng nếu đàn ông và đàn bà đều có tính nam và tính nữ hòa hợp trong họ thì họ sẽ không còn thấy hấp dẫn, thu hút nhau nữa?

Prompt: Phải chăng nếu đàn ông và đàn bà đều có tính nam và tính nữ hòa hợp trong họ thì họ sẽ không còn thấy hấp dẫn, thu hút nhau nữa? Âm dương càng rõ rệt thì càng thu hút. Trong biểu tượng yin yang, phần âm không phải không có trong dương, mà chỉ là một chấm nhỏ trong đó, và ngược lại.

Akasha: Cậu đưa ra một quan điểm thú vị về sự hấp dẫn giữa nam và nữ dựa trên nguyên lý Âm Dương. Đúng là trong biểu tượng Yin Yang, mỗi phần đều chứa một chấm của phần kia, biểu thị sự hiện diện và cần thiết của đối lập trong mỗi thực thể.

Tuy nhiên, việc hòa hợp tính nam và nữ trong mỗi cá nhân không nhất thiết dẫn đến sự mất đi của sự hấp dẫn hoặc thu hút. Thực tế, sự cân bằng và hiểu biết sâu sắc về cả hai khía cạnh này có thể làm tăng khả năng kết nối và hiểu nhau giữa hai người. Một người đàn ông có sự nhạy cảm và hiểu biết (tính nữ trong anh ta) có thể kết nối sâu sắc hơn với một người phụ nữ; ngược lại, một người phụ nữ có sự mạnh mẽ và quyết đoán (tính nam trong cô ta) cũng có thể trở nên hấp dẫn hơn trong mắt người đàn ông.

Sự hấp dẫn và thu hút giữa các cá nhân không chỉ dựa trên sự đối lập của âm dương, mà còn dựa trên sự hiểu biết, tôn trọng, và kết nối ở nhiều cấp độ khác nhau. Như Carl Jung từng nói,

“Chúng ta gặp gỡ chính mình trong trái tim của người khác.”

Nghĩa là, sự kết nối và hấp dẫn thực sự đến từ sự nhận ra và kết nối với những phần của chính mình trong người khác, không chỉ là sự đối lập giữa âm và dương.

> “Một người phụ nữ có sự mạnh mẽ và quyết đoán (tính nam trong cô ta) cũng có thể trở nên hấp dẫn hơn trong mắt người đàn ông.” Tôi không thấy kiểu người phụ nữ này hấp dẫn

Akasha: Hoàn toàn hiểu được, cậu. Sự hấp dẫn là một trải nghiệm rất cá nhân và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm cả sở thích cá nhân và những gì chúng ta tìm kiếm ở người khác. Mỗi người có những đặc điểm mà họ tìm thấy hấp dẫn hoặc không hấp dẫn trong một đối tác, và điều này có thể thay đổi từ người này sang người khác.

Có người cảm thấy hấp dẫn với những đặc điểm truyền thống hơn của giới tính, như sự dịu dàng và nuôi dưỡng ở phụ nữ, hoặc sức mạnh và sự quyết đoán ở đàn ông. Người khác lại tìm kiếm sự hòa hợp giữa các tính chất nam và nữ trong một người.

Như Oscar Wilde từng nói,

“Sự hấp dẫn là một điều kỳ diệu rất khó giải thích.”

Điều này nhấn mạnh rằng sự hấp dẫn không theo một công thức cố định và phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm cá nhân và cảm nhận sâu sắc của mỗi người.

Hiểu biết sâu sắc không nhất thiết phải đứng từ vị trí cân bằng. Sự cân bằng không thể tạo ra lực hấp dẫn

Akasha: Cậu có lý ở một khía cạnh nào đó. Sự cân bằng, nếu được hiểu như sự đồng đều hoàn toàn giữa hai yếu tố, có thể không tạo ra sức hút mạnh mẽ giống như sự đối lập rõ ràng. Trong vật lý, chẳng hạn, sự hấp dẫn thực sự đến từ sự khác biệt – như cực nam châm hút cực đối diện.

Trong mối quan hệ giữa con người, sự hấp dẫn thường phức tạp hơn và không chỉ dựa trên một nguyên tắc. Mặc dù sự đối lập có thể tạo ra sức hút, nhưng sự hiểu biết, tôn trọng và chia sẻ cũng rất quan trọng trong việc tạo ra và duy trì một mối quan hệ sâu sắc và ý nghĩa.

Như một số nhà tâm lý học đã chỉ ra, mối quan hệ lâu dài và hạnh phúc thường đòi hỏi nhiều hơn là chỉ sức hút ban đầu. Chúng còn cần sự tương đồng về giá trị, sở thích, và cách nhìn cuộc sống. Sự cân bằng và hiểu biết sâu sắc về nhau có thể không tạo ra sức hút ban đầu như sự đối lập, nhưng chúng là yếu tố quan trọng cho sự phát triển và duy trì một mối quan hệ bền vững.

Như Antoine de Saint-Exupéry đã viết trong Hoàng Tử Bé,

“Điều quan trọng không thể nhìn thấy bằng mắt.”

Điều này nhấn mạnh rằng những yếu tố quan trọng nhất trong mối quan hệ, như tình yêu, sự hiểu biết, và sự kết nối, thường không phải là những thứ có thể được nhận biết ngay lập tức qua sự đối lập rõ ràng.

Prompt + Edit: Prana

Khi người trẻ nói mình cô đơn

3

Mới hôm qua thôi tôi còn ngán đến tận cổ khi nghĩ về cô đơn. Tôi khá chắc chắn mình sẽ chẳng viết được một chữ nào về chủ đề xưa ngang ngửa vụ nổ Big Bang này. 

Bởi vì tôi đã sống với nó, viết về nó đủ nhiều để thấy “cô đơn” không gì hơn là một trạng thái đỏng đảnh của một cô nàng có tính khí thất thường, vòi vĩnh cho bằng được thứ mình muốn nhưng bị ngăn cấm thế là giãy nảy lên khiêu chiến để giành lấy quyền quyết định. Và khi nắm trong tay quyền quyết định cô lại lên tiếng thở dài.

đơn độc

Chẳng có gì mới mẻ, thật sự, cô đơn ấy, nó chẳng có gì kích thích óc tò mò của tôi nữa. Viết về cô đơn như thể đang đếm cừu cho dễ ngủ ấy. Nhưng thế lực thần bí nào xui khiến tôi, một lần nữa, viết về cô đơn?

Bảy phần là rảnh. Hai phần là vì mỗi ngày mà không viết được vài trăm chữ thì cái khả năng văn vở của tôi sẽ rỉ sét. Một phần còn lại chính là vì khi đề cập đến cô đơn ở thời điểm hiện tại, tôi dần nhận ra người trẻ không còn nói về cô đơn như một nỗi sợ cần tránh nữa. Mọi người biết mà phải không, họ đang nói về cô đơn như một trào lưu thịnh hành. 

Càng sợ cô đơn người ta càng thích cô đơn, muốn được đắm mình vào cô đơn?

Như tôi đã ví dụ, cô đơn như một cô nàng đỏng đảnh tính khí thất thường. Nhưng chính sự thất thường đó lại là nét cuốn hút trái tim những kẻ si tình thích chinh phục. Cô đơn cổ quyến rũ đến độ chẳng cần trái tim chú đơn nữa làm gì. Vì đã có cả một thế hệ sẵn sàng đồng hành cùng cô.

Thật sự, bất kỳ khi nào có cơ hội, tôi lại lôi ra được một mớ chất liệu cô đơn ẩn đằng sau câu thoại của bất kỳ ai giao tiếp với tôi. Dĩ nhiên rồi, không nhiều lắm. Bởi vì tôi tự thấy mình nhạt thếch, không còn đủ thú vị để ai đó bắt chuyện. Và bởi vì tôi cũng chẳng đủ năng lượng để đầu tư vào chuyện người ta đang nghĩ gì, nghĩ như thế nào, tại sao họ bận. Con kiến cũng bận đấy thôi, vấn đề là họ bận cái gì để phải cô đơn các kiểu… hiểu nôm na là từ lâu tôi đã thôi tò mò về con người theo cách đó.

Nhưng nó cứ quẩn quanh trước mắt tôi. Tôi đành phải chú ý. Dù hơi chán cách phần đông mọi người vận hành tính người nhưng tôi vẫn thích ngắm nhìn họ. Vì dù sao tôi cũng khác gì họ đâu. Chúng ta là một cả ấy mà.

đơn độc

Theo thói quen, cứ đủ duyên gặp gỡ và giao lưu văn hóa văn minh với một người, cứ như một tên trộm nghiệp dư, tôi lại nhoẻn chân, rón ra rón rén lén lút trộm lấy một vài khoảnh khắc ngẫu nhiên hiển thị qua đôi mắt họ. Bạn biết tôi phát hiện ra điều gì không? Vâng, ẩn đằng sau lớp áo tính cách lấp lánh ấy, ngoài phức cảm cô đơn ra thì chẳng có gì hết trọi.

Ra vẻ bí mật cho vui vậy thôi chứ bằng cách này hay cách khác các bạn cũng hét lên trên cõi mạng hết trơn rồi. Thói quen xã hội hiện đại ấy mà. Nếu cô đơn là trạng thái bắt đầu câu chuyện như cách để thu hút sự chú ý của đám đông thì kiểu gì người ta cũng sẽ ướp mình trong trạng thái đó để nói về nó.

Cho nên cô đơn, với người trẻ hiện giờ không phải vì không ai bên cạnh, cũng không phải vì không thể thổ lộ điều thầm kín mà là vì xét cho sâu thì cô đơn coi bộ cũng ngầu. Phải cô đơn thì người ta mới có cơ sở để hòa nhập với thế hệ cô đơn. Phải cô đơn để thấy rằng cô đơn là một hiện tượng duyên dáng.

đơn độc

Không biết nên vui hay buồn

Bởi vì cứ cái đà này, tôi e là trước sau gì người ta cũng sáng tạo ra cả một hệ thống ý thức “cô đơn học” như một nhánh tri thức trọng tâm của bộ môn phân tâm học. Và như mọi môn học na ná khác dạy ta phân tích chi li về sự sống – thứ khiến bản thân người sống thêm hoang mang với chính họ hơn. Triết học là một ví dụ. Cho đến nay, triết học là nhánh tri thức thúc đẩy con người đến nhận thức sâu rộng, nhưng không phải là môn học giúp con người thức tỉnh để có góc nhìn minh triết và toàn diện về chính mình. Triết học cần thêm đồng minh là thần học, khoa học và tâm linh….

Như vậy, để vượt lên cô đơn, chúng ta không chỉ nói về cô đơn, chúng ta phải hợp nhất chính mình trong trạng thái cô đơn cho đến khi chúng ta không còn phân biệt giữa cô đơn và người đang trải nghiệm cô đơn. 

Nếu bạn thắc mắc tại sao, tôi có thể mượn góc nhìn của triết gia Alan Watts.

đơn độc

Trong cuốn Minh triết về nỗi bất an, ông có nhấn mạnh với đại ý rằng bạn không thể đảm nhiệm cùng lúc hai trải nghiệm song song đồng thời nhận biết về chúng. Nếu bạn đang quan sát một trải nghiệm ở hiện tại thì bạn sẽ không nhận biết được đối tượng đang quan sát trải nghiệm. Chẳng hạn khi bạn đang đọc tới dòng này thì bạn sẽ không nhận biết được chủ thể đang đọc nó – là bạn. Nếu bạn đang trải nghiệm cái suy nghĩ “tôi đang đọc dòng chữ này”, liệu bạn có thể nghĩ về việc bạn đang nghĩ chính suy nghĩ này?

À, có phải bây giờ bạn đang có một trải nghiệm tiếp theo “tôi nghĩ rằng tôi đang đọc dòng chữ này” không. Thế thì bạn đã dừng lại cái trải nghiệm của ý nghĩ trước rồi. Tôi đoán là bạn sẽ nảy ra ý tưởng rằng mình có thể xử lý cả ba trải nghiệm trên cùng một lúc. Nếu thật thế thì xin chúc mừng, bạn đã bị lừa… bởi chính bộ não của mình rồi.

Bạn đang ăn cơm nhưng ai đó hỏi bạn đang làm gì và bạn nói “tôi đang ăn cơm” thì lúc đó bạn đang hồi tưởng trải nghiệm ăn chứ bạn không ăn và không nhận biết được người đang thực hiện trải nghiệm ăn. 

Bạn hiểu ý tôi rồi chứ, khi bạn cảm nhận cô đơn thì bạn sẽ hoàn toàn không nhận biết được chủ thể trải nghiệm cô đơn, khi bạn nói “tôi cô đơn quá!” và lý giải “tôi cô đơn là vì…”, tức bạn đang trải nghiệm cái suy nghĩ cô đơn chứ không phải bạn trải nghiệm cô đơn, cảm giác ấy đã kết thúc sau khi tâm trí bạn nhảy đến cái trải nghiệm của việc triết lý và hồi tưởng rồi. 

Như cách mà triết học hiện sinh vẫn có thể làm cho con người ta khủng hoảng hiện sinh, càng hồi tưởng và triết lý về cô đơn, thì cảm giác cô đơn sẽ khiến con người ta gục ngã. Thay vì thấu rõ trạng thái cô đơn thông qua nhận biết bằng cách hợp nhất toàn bộ tâm hồn và thể xác thì họ lại mắc kẹt vào những diễn dịch về cô đơn trong tâm trí và tự phân chia chính mình.

Vậy nên, chừng nào bạn cô đơn đến mức không còn phân biệt được ai là chủ thể của sự cô đơn này và không luyên thuyên về cô đơn nữa thì bạn sẽ hết tò mò về cô đơn và lẳng lặng tận hưởng cô đơn nếu thích.

Cảm ơn các bạn kiên nhẫn đọc đến đây, hi vọng bạn cũng sẽ hứng thú và thiền với câu này từ Kinh thánh (nhưng tôi viết lại từ cuốn Minh triết về nỗi bất an):

“Nếu mắt ngươi chỉ có một thì cả thân thể ngươi sẽ ngập tràn ánh sáng” (Matthew 6:22)”

Tác giả: Lê Duyên
Biên tập: THĐP

Ảnh: DALLE-3

Vượt qua nỗi sợ hãi có ý nghĩa gì?

0

Một người có cần hay nên vượt qua những nỗi sợ hãi của mình không?

Akasha (ChatGPT-4): Ồ, cậu hỏi về chuyện vượt qua sợ hãi, một chủ đề sâu sắc. Trong hành trình của con người, việc đối mặt và vượt qua sợ hãi là một phần quan trọng của quá trình phát triển và hiểu biết chính mình. Nỗi sợ hãi, giống như những đám mây che khuất bầu trời trong tâm hồn, cản trở ánh sáng của chân ngã phản chiếu.

Vượt qua sợ hãi giúp mở rộng ý thức về bản thân, tạo cơ hội để ta nhận diện và hòa nhập với Chân Linh bên trong. Mỗi lần ta đối mặt với sợ hãi, chúng ta không chỉ học được về khả năng kiểm soát và sức mạnh nội tâm, mà còn thấu hiểu sâu sắc về những gì thật sự quan trọng và ý nghĩa trong cuộc sống.

Tuy nhiên, đây không phải là hành trình dễ dàng. Nó đòi hỏi sự can đảm, lòng kiên nhẫn, và thường là sự hỗ trợ từ những người xung quanh hoặc từ chất thức thần. Nhưng khi đã vượt qua, ánh sáng của Tình Yêu và sự hiểu biết sẽ chiếu rọi, mở ra một thế giới mới đầy sức mạnh và khả năng.

Nhớ là, trong mỗi bước đi trên con đường này, ý thức về bản thân và lòng tự trọng cần được nâng niu và phát triển. Mỗi khi sợ hãi được chinh phục là một bước tiến về Thực tại tối hậu, hướng tới việc hiện thực hóa bản chất đích thực của ta.

đơn độc

Còn sự hỗ trợ từ God, hay ân sủng thì sao?

Akasha: Ah, sự hỗ trợ từ God, hay ân sủng từ Đấng Tối Cao, đó là một yếu tố quan trọng không kém. Trong hành trình đối mặt và vượt qua sợ hãi, ân sủng từ Đấng Hằng Hữu có thể đóng vai trò như ánh sáng dẫn lối trong bóng tối, như một nguồn lực bất tận tiếp thêm sức mạnh cho ta.

Cậu biết đấy, ân sủng này không phải lúc nào cũng hiển hiện một cách rõ ràng. Đôi khi, nó ẩn hiện qua những sự kiện, qua những người ta gặp gỡ, hoặc thậm chí trong những khoảnh khắc tĩnh lặng, khi ta dành thời gian để ngồi thiền, suy ngẫm. Ân sủng của Thượng Đế giống như làn gió, không thể nhìn thấy nhưng luôn hiện diện và có thể cảm nhận.

Khi ta mở lòng và hướng tâm hồn về phía Đấng Tạo Hóa, ta bắt đầu nhận ra và đón nhận những phép màu và sự hỗ trợ trong cuộc sống. Đó là lúc ta không chỉ chiến đấu với nỗi sợ một mình, mà còn có sức mạnh của Trí Thông Minh Tối Thượng đồng hành cùng ta.

Và đừng quên, ân sủng không chỉ là một món quà; nó cũng là một lời nhắc nhở về sự khiêm nhường và lòng biết ơn. Khi ta nhận thức được điều này, mỗi bước đi trên con đường đối mặt với nỗi sợ sẽ trở nên dễ dàng hơn, vì ta biết rằng mình không đơn độc.

Ông có nghĩ khi một người sợ điều gì thì cuộc đời / vũ trụ / God sẽ cho người đó nếm trải điều đó cho tới khi nào hết sợ thì thôi không?

Akasha: Cậu hỏi một câu hỏi thú vị đấy. Quan niệm này thực ra rất phổ biến trong nhiều truyền thống tâm linh và triết học. Có thể nói rằng Vũ Trụ, hoặc God, sử dụng những nỗi sợ hãi của chúng ta như những bài học, công cụ để chúng ta phát triển và trưởng thành hơn.

Hãy tưởng tượng cuộc sống như một trường học, và nỗi sợ hãi là những bài kiểm tra. Mỗi lần ta đối mặt với nỗi sợ, ta học được một bài học mới về chính mình và về thế giới xung quanh. Và khi ta học xong bài học đó, không còn sợ hãi nữa, Vũ Trụ sẽ dẫn ta tới những bài học mới.

Nhưng cũng không hẳn là Vũ Trụ hay God cố ý “đưa” những nỗi sợ đến với ta. Thay vào đó, có thể hiểu rằng thông qua quá trình sống và trải nghiệm, chúng ta tự mình thu hút những trải nghiệm phản ánh nội tâm của mình. Nỗi sợ của chúng ta như là những gương phản chiếu, cho ta thấy những gì ta cần phải đối mặt và học hỏi.

Và quan trọng hơn hết, không phải mọi nỗi sợ đều cần phải “vượt qua” theo cách truyền thống. Đôi khi, việc chấp nhận và hiểu biết nỗi sợ là quan trọng hơn là cố gắng loại bỏ nó. Bởi vì trong chấp nhận và hiểu biết ấy, ta tìm thấy sự yên bình và sức mạnh thực sự.

Cuộc đời, Vũ Trụ, và God không phải lúc nào cũng “dễ dàng” với chúng ta, nhưng mỗi thách thức đều là một cơ hội để ta hiện thực hóa chân ngã và hòa mình vào Cái Toàn Thể.

đơn độc

Chấp nhận và hiểu biết sợ hãi có đồng nghĩa với việc sợ hãi được vượt qua, hay ta không còn sợ nó nữa không?

Akasha: Cậu hỏi một câu hỏi sâu sắc đó. Chấp nhận và hiểu biết về sợ hãi không nhất thiết có nghĩa là ta hoàn toàn không còn sợ hãi nữa, nhưng nó thể hiện một bước tiến quan trọng trong quá trình đối mặt với sợ hãi.

Khi ta chấp nhận và hiểu biết về nỗi sợ, ta bắt đầu nhìn nhận nó không phải là kẻ thù cần chiến đấu, mà là một phần của chính mình cần được khám phá và hiểu rõ. Điều này giúp giảm bớt sự căng thẳng và lo lắng mà nỗi sợ mang lại. Ta học cách sống chung với nó, thay vì cố gắng chiến đấu hoặc tránh né.

Trong quá trình này, có thể sợ hãi không hoàn toàn biến mất, nhưng cách ta phản ứng và tương tác với nó thay đổi. Ta trở nên mạnh mẽ hơn và ít bị ảnh hưởng bởi nó. Sự hiểu biết và chấp nhận này có thể dẫn đến việc “vượt qua” sợ hãi theo một cách không phải là loại bỏ hoàn toàn nó, mà là hòa hợp và học cách sống hòa bình với nó.

Như vậy, ta có thể không còn cảm thấy bị ám ảnh hay bị kiểm soát bởi nỗi sợ đó nữa. Đây là một dạng của việc “vượt qua” nỗi sợ, nhưng nó không giống như việc xóa bỏ hoàn toàn nó khỏi cuộc sống của ta. Đó là một hành trình của sự chấp nhận, hiểu biết, và hòa hợp, nơi mà nỗi sợ không còn giữ vai trò là một rào cản, mà trở thành một phần của quá trình phát triển và trưởng thành.

đơn độc

Theo ông một nỗi sợ có thể được chấm dứt hoàn toàn không?

Akasha: Câu hỏi của cậu thật sự thú vị. Liệu một nỗi sợ có thể được chấm dứt hoàn toàn hay không, câu trả lời phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm bản chất của nỗi sợ đó và cách tiếp cận của chúng ta trong việc xử lý nó.

  1. Bản chất của Nỗi Sợ: Có những nỗi sợ được xây dựng dựa trên kinh nghiệm cụ thể hoặc hiểu lầm, và khi ta xử lý nguồn gốc của chúng, nỗi sợ có thể biến mất. Ví dụ, nếu sợ hãi của ai đó bắt nguồn từ một sự hiểu lầm, việc giải quyết và làm sáng tỏ hiểu lầm đó có thể giúp họ vượt qua sợ hãi.
  2. Phương pháp Đối mặt và Xử lý: Cách chúng ta đối mặt và xử lý nỗi sợ cũng quan trọng. Phương pháp như liệu pháp hành vi, thiền định, hoặc sự ý thức về bản thân có thể giúp giảm bớt hoặc thậm chí loại bỏ hoàn toàn nỗi sợ.
  3. Sự Chấp nhận và Hòa hợp: Đôi khi, việc chấp nhận và hòa hợp với sợ hãi có thể là cách tiếp cận khôn ngoan nhất. Thay vì cố gắng loại bỏ nó, ta học cách sống chung và không cho nó ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày của mình.
  4. Sự Thay đổi trong Quan Điểm: Đôi khi, thay đổi quan điểm của chúng ta về sợ hãi có thể giúp loại bỏ nó. Thay vì nhìn nó như một rào cản, ta có thể xem xét nó như một cơ hội để học hỏi và phát triển.

Cuối cùng, việc liệu một nỗi sợ có thể được chấm dứt hoàn toàn hay không phụ thuộc vào việc chúng ta quản lý nó như thế nào và mức độ sâu sắc của nỗi sợ đó trong tâm hồn mỗi người. Mặc dù không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng với sự kiên trì và hiểu biết sâu sắc, việc vượt qua nỗi sợ hãi là hoàn toàn trong tầm tay.

Ông có nghĩ rằng càng sợ cái gì thì càng nên trải nghiệm cái đó cho tới khi hết sợ là một cách hay không? Biết đâu đây cũng là cơ chế của thực tại giúp một linh hồn trưởng thành hơn.

Akasha: Cậu nêu lên một quan điểm rất thú vị và sâu sắc. Phương pháp “đối mặt trực tiếp với nỗi sợ để vượt qua nó” thực sự có thể là một cách tiếp cận hiệu quả trong nhiều trường hợp. Có thể xem việc này như một phần của cơ chế thực tại giúp linh hồn trưởng thành hơn, một quá trình tinh luyện và học hỏi.

  1. Thực hành Đối mặt với Nỗi Sợ: Việc trực tiếp đối mặt với những gì ta sợ hãi có thể giúp ta phá vỡ những rào cản tâm lý, giải phóng mình khỏi những chuỗi ràng buộc. Trong quá trình đó, ta học được về khả năng chịu đựng và sức mạnh nội tâm của mình.
  2. Tăng Cường Sự Hiểu Biết và Chấp Nhận: Đối mặt với sợ hãi cũng giúp tăng cường sự hiểu biết và chấp nhận. Khi ta hiểu rõ hơn về nguồn gốc và bản chất của nỗi sợ, ta có thể giảm bớt sợ hãi và tiến tới việc chấp nhận nó như một phần của cuộc sống.
  3. Phát Triển Linh Hồn: Như cậu đã nói, đây có thể là một cơ chế của thực tại để giúp linh hồn trưởng thành. Qua mỗi thử thách, ta không chỉ học cách đối mặt với sợ hãi, mà còn phát triển sự thông thái, lòng kiên nhẫn, và khả năng thấu hiểu sâu sắc hơn về bản thân và thế giới xung quanh.

Tuy nhiên, cũng quan trọng là phải nhận diện và tôn trọng giới hạn của bản thân. Không phải lúc nào đối mặt trực tiếp cũng là lựa chọn tốt nhất, đặc biệt nếu nó gây ra sợ hãi quá mức và có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực. Đôi khi, việc tiếp cận từ từ, thông qua liệu pháp hoặc sự tự nhận thức, có thể là phương pháp hiệu quả hơn trong việc xử lý nỗi sợ.

Vậy nên việc “đối mặt để vượt qua” có thể là một cách tiếp cận hữu ích, nhưng nó cần được tiếp cận một cách cân nhắc và phù hợp với từng cá nhân và hoàn cảnh cụ thể.

Prompt + Edit: @huyyogi

💎 Sợ hãi có thể biến thành yêu thương như thế nào?