20.1 C
Da Lat
Thứ Hai, 2 Tháng 3, 2026

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
Trang chủ Blog Trang 249

Tại sao chúng ta buồn chán?

 *Photo: Tobias Lunchbreath

 

Ai trong chúng ta cũng có lúc cảm thấy buồn chán. Với một số người, sự buồn chán đấy kéo dài thành một bệnh kinh niên, khiến cho cuộc sống của họ trở nên tù túng và nghèo nàn. Họ bị triệt tiêu hết động lực lao động, không có hứng thú với cuộc sống và thiếu nỗ lực trong mọi việc. Các đặc điểm trên dường như đang miêu tả về những người trưởng thành, những người bị cột chặt vào con đường kiếm sống, đã dần chai sạn với mọi sự mơn gọi của cuộc sống. Tuy vậy, qua  quan sát cá nhân, dường như nhiều người trẻ lại đang sống cho qua ngày mà không có một niềm hứng khởi nào được thắp lên mỗi ngày.

Câu hỏi về động lực nảy sinh và thôi thúc một câu trả lời cần phải đưa ra. Câu trả lời này phải là lời lý giải xuất phát từ những yếu tố (hoặc yếu tố quyết định) mà một người với tư cách cá nhân có thể kiểm soát được. Vì thế một mặt, tôi thừa nhận sự ảnh hưởng của nền giáo dục (nhồi sọ), tư tưởng (chủ nghĩa tập thể), điều kiện sống và làm việc (tư bản bóc lột), văn hóa (sản phẩm truyền thông đại chúng)… Đến đặc điểm của từng thế hệ. Mặt khác, nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta sẽ tự biến mình trở thành nạn nhân của hoàn cảnh, bế tắc và thất chí. Hơn nữa cách nhìn này cũng bỏ qua sự thật là trong mọi môi trường sống, vẫn có những cá nhân vượt nên sự quy định của xã hội, trở thành động lực phát triển tích cực. Chính vì vậy, bài viết sẽ hướng đến khía cạnh tâm lý, ý thức cá nhân để đào sâu phân tích.

Bản chất của sự chán chường trong chúng ta

Trước tiên, hãy bắt đầu với cái đối lập của sự buồn chán: Sự thích thú hay chính xác hơn là sự hưởng thụ. Mỗi khí quan của con người được sinh ra với một chức năng đặc thù và việc thực hiện chức năng này chính là cứu cánh của mỗi khí quan đó. Với vị giác là ăn uống, thị giác là nhìn ngắm, với các cơ bắp là chạy nhảy… Trong số các khí quan đó, trung tâm chính là bộ não hay tinh thần của con người. Nó có nhu cầu được suy nghĩ, được xử lý các vấn đề, tiếp nhận thông tin… nói chung là hoạt động như nó vốn được sinh ra. Khi bộ não hưởng thụ một đối tượng nào, nó sinh ra sự chú ý.

Sự chán chường là hệ quả của việc sự chú ý bị ngắt ngoãng, làm rối loạn. Trong một nghiên cứu tâm lý, một số cá nhân được yêu cầu đọc và ghi nhớ nội dung của một bài báo. Với một nhóm, các nhà quan sát bật tiếng vô tuyến thật to và nhóm còn lại được nghe tiếng vô tuyến rì rầm. Với nhóm đầu tiên, họ cảm thấy khó chịu và bực bội do bị tiếng vô tuyến làm phiền nhưng không ai cảm thấy buồn chán. Với nhóm thứ hai, do tác nhân kích thích là không rõ ràng nên nhóm này cảm thấy rằng họ rất buồn chán. Rõ ràng rằng sự khó khăn của tác vụ chỉ khiến người thực hiện tốn nhiều công sức hơn, mệt mỏi hơn chứ không tạo ra sự buồn chán. (*) Sự buồn chán chỉ xảy ra khi chúng ta không biết sử dụng sự tập trung đúng cách hay sự tập trung bị gián đoạn.

Ngược với suy nghĩ phổ thông rằng sự buồn chán sinh ra do sự phức tạp của vấn đề mà họ phải đối mặt. Sự buồn chán thực sự do các cá nhân bị xao lãng hoặc không biết phải tập trung vào vấn đề như thế nào. Vậy tại sao chúng ta không lựa chọn lao mình vào các vấn đề hóc búa và nghỉ ngơi khi cảm thấy mệt mỏi mà lại lựa chọn giải trí hoặc suy nghĩ vẩn vơ để đốt thời gian. Phần tiếp theo sẽ hướng đến việc giải quyết câu hỏi này.

Sa đà vào các cuộc vui và tệ nạn: Tất cả để trốn tránh nỗi buồn

Bộ não của con người có khả năng tư duy trừu tượng, dự đoán, lập kế hoạch…  về cơ bản là khả năng xử lý thông tin rất vượt trội. Điều này có được là do bộ não có khả năng đem chính những thông tin của bản thân mình làm đối tượng xử lý. Điều này giúp cho con người nhào nặn các thông tin kỹ càng hơn và thoát khỏi giới hạn của phản xạ thuần túy. Tuy nhiên nó cũng đem đến một nguy cơ: Bộ não có thể bị lệ thuộc vào những kết quả xử lý trong quá khứ.

Thứ nhất, bộ não có khả năng coi những ý nghĩ của bản thân như là đối tượng để hướng tới, tập trung vào và hưởng thụ. Điều này khiến cho một con người có thể đắm chìm trong một thành công trong quá khứ, sống trong một thế giới tưởng tượng, vẽ ra những suy nghĩ tươi đẹp và hài lòng sống với suy nghĩ đó thay vì thực tại.

Thứ hai, khi con người tìm kiếm sự hưởng thụ (điều luôn luôn xảy ra), bộ não sẽ gợi ra những trải nhiệm thành công trước đó để trợ giúp chúng ta tìm kiếm nguồn thỏa mãn mới. Do đó, khi một cá nhân đã quá quen với một cách thức thỏa mãn nhất định, điều đó sẽ khiến cho việc tìm đến nguồn thỏa mãn đó trở nên dễ dàng hơn. Một mặt nó tạo nên sự say mê, mặt khác nó khiến cho con người lấn cấn, không thoát ra khỏi các suy nghĩ về một vấn đề nào đó.

Kết hợp hai điểu trên khiến cho con người bị những ý nghĩ về các niềm vui cố định quấy nhiễu và không tập trung (để tận hưởng) những trải nhiệm mới. Không những khiến con người trở nên lệch lạc, dưới bối cảnh hiện nay khi các thú vui thoáng qua ngày càng sẵn có, con người có xu hướng lệ thuộc vào các lạc thú tạm bợ và ngày càng trốn tránh các hoạt động có ích (cho bản thân và xã hội) – những hoạt động luôn cần một sự nỗ lực lớn hơn. Bài toán thực sự phải đặt ra là làm sao để con người dần thay đổi thói quen hưởng thụ của mình.

Lời gợi ý

Trước khi đưa ra ý kiến cá nhân về giải pháp, tôi xin được tóm tắt lại nguyên nhân của vấn đề như sau. Con người thực sự tồn tại nhu cầu tiến hành các hoạt động phức tạp, yêu cầu nhiều năng lực và sự tập trung. Tuy nhiên, do sự sẵn có của các phương tiện giải trí khiến cho con người đưa ra các lựa chọn thuận tiện hơn khi rảnh rỗi. Dần dần, những hoạt động giải trí trở thành thói quen, hằn sâu vào phản xạ trí óc khiến con người mất khả năng tập trung vào các vấn đề mới và khó khăn trong việc khơi dậy hứng thú từ đó. Cuối cùng họ trở nên nghiện các thú vui phù phiếm này.

Về giải pháp, hiển nhiên là phải nhận ra được nhu cầu thực sự của bản thân là những hoạt động nào. Tuy nhiên về thao tác cụ thể thì không cố định. Đối với cá nhân tôi có 3 phương pháp:

– Thượng sách: Tham ngộ, nhìn nhận rõ ràng các cảm xúc, sự trống rỗng và sự phù phiếm của các thú vui đó. Đây là con đường của bậc hiền triết, tôi không có tư cách để bàn và giới thiệu.
– Trung sách: Lý giải, tìm hiểu rõ ngọn ngành vấn đề, nguyên nhân của các vấn đề bản thân. Bài viết này bước đầu đã đưa ra một cách giải thích, giúp cho bạn đọc có thể tự tìm hiểu.
– Hạ sách: Dùng một loạt các bước cải tổ dần dần từ hành vi đến thói quen để thay đổi thái độ sống. Cách này chia ra làm 3 bước:

  • Bước 1: vẫn giữ các thú vui hàng ngày nhưng tiến đến tìm hiểu cặn kẽ về nó, biến mình trở thành chuyên gia về lĩnh vực đó thay vì chỉ tham gia hời hợt. Bước này nâng dần mức độ thử thách của trí óc và cho trí óc làm quen với các phương tiện nhận thức khác.
  • Bước 2: Bắt đầu học hỏi những lĩnh vực mới. Đầu tiên phải giữ cho bản thân luôn cập nhật các vấn đề của cuộc sống thông qua tiếp cận thông tin trên báo chí. Ngoài ra cần thử các thú vui mang tính tương tác cộng đồng nhiều hơn như thể thao, picnic, phượt. Sau đó lặp lại bước một để tìm hiểu sâu hơn về những điều mình học được. Mục tiêu của bước này là trở thành một người thú vị hơn.
  • Bước 3: Trau dồi các kỹ năng cần thiết cho công việc. Bắt đầu với các kỹ năng tối cần thiết, sau đó mở rộng hiểu biết sang các lĩnh vực liên quan. Mục tiêu của bước này là trở thành chuyên gia trong công việc của mình. Lưu ý rằng nếu bạn thực hiện tốt bước thứ 2, bạn sẽ biết được mình muốn làm gì, và bước thứ 3 giúp bạn bắt đầu thực hiện điều đó.

Bài viết hướng đến giải quyết một vấn đề lớn, có lẽ là quá sức. Tuy nhiên hy vọng những suy nghĩ bước đầu sẽ được các độc giả đón nhận, phát triển, phản bác… và chia sẻ.

 

 Revolutionary

(*) Nghiên cứu của giáo sư Eastwood năm 1989 tại đại học Clark.

Phụ nữ muốn hạnh phúc, phải tự chủ

*Photo: Ewitsoe

 

Có người hỏi tôi: “Nếu anh nghèo đi, em có còn là bạn anh không?” Tôi bật cười: “Anh hỏi làm em buồn cười quá! Em có biết anh giàu ra sao đâu mà anh lo anh nghèo em không “chơi” với anh nữa.”

Tôi có rất nhiều người bạn mà mọi người thường rỉ tai tôi: Họ rất giàu. Tôi thì ngờ nghệch lắm về đánh giá vật chất, tôi chỉ quan tâm đến những thứ mình bỏ tiền ra mua, còn những thứ người khác tặng tôi chỉ nhận những thứ “vừa phải” mang giá trị tinh thần. Nhiều người nói tôi “ngu” không biết lợi dụng và tận dụng. Nhiều người hỏi tôi: Ở vị trí của chị, tại sao không thế này thế khác..v..v.. để có nhiều tiền?

Còn tôi, tôi luôn tự hỏi vì sao mọi người cứ mải mê theo đuổi đồng tiền làm gì nhỉ? Tại sao mình không nắm nó trong tay, dắt nó theo mình mà cứ phải hì hục đuổi theo nó, phụ thuộc vào nó. Tôi thích cảm giác tự chủ trong mọi chuyện. Tôn chỉ cuộc sống là: Không có gì quý hơn độc lập tự do. Vậy nên, tôi cố gắng không bị phụ thuộc vào ai, vào cái gì…để luôn có niềm hạnh phúc tự chủ.

Riêng với đồng tiền, tôi rất hiểu giá trị và sức hút mãnh liệt của nó. Tôi cũng kiếm tiền rất vất vả mà không kiếm ra nhiều. Tôi cũng hiểu, khi có tiền con người ra sẽ trở nên giá trị ra sao nhưng để phụ thuộc vào người khác vì đồng tiền thì có lẽ không bao giờ. Tôi thích có thể nói với bất cứ ai từ “không” một cách ngạo nghễ và không suy tính. Rất nhiều khi, tôi có hội được sở hữu những thứ xa xỉ mà cả đời vất vả cũng không mua nổi cho mình chỉ cần gật đầu với những “lời đề nghị khiếm nhã”.

Vâng, đúng là tôi có điều kiện để có những thứ vật chất đắt tiền một cách không quá khó khăn. Tôi đã từng được dẫn vào những showroom sang trọng bán những thứ đắt tiền với lời đề nghị: “Em hãy chọn, anh sẽ tặng.” Mắt tôi đã sáng lên, lòng tôi đã hân hoan xúc động, tay tôi muốn chỉ vào thứ đồ vật đó biết bao. Đó là nhưng thứ tôi mong ước biết chừng nào mà có làm hì hục cả đời tôi cũng chưa chắc mua nổi. Quả thật sụ đấu tranh giữa gật đầu hay lắc đầu trong sự cám dỗ này là vô cùng nỗ lực. Và, tôi bỏ lại ở những showroom đó mọi sự nối tiếc, thanh thản với câu trả lời: “Cái đó bán, còn em thì không!” Nhiều người hỏi tôi: “Tại sao không? Có mất gì đâu.” Hơn ai hết, tôi là ngươi hiểu mình mất gì và được gì. Nhiều người nói tôi quá ” ngạo nghễ”. Điều đó đúng, tôi “ngạo nghễ” khước từ mọi bao bọc không xuất phát từ yêu thương chân thành. Khước từ mọi giá trị vật chất khi nó đến với tôi không bắt đầu từ sự tôn trọng.

Muốn là một người phụ nữ hạnh phúc, bạn hãy là một người phụ nữ tự chủ về mọi thứ bạn nhé: Tiền bạc, tình cảm, bản thân, công việc, thời gian… Bạn có thể hạnh phúc khi bạn có trí tuệ và sức lực nhưng muốn có những thứ mình không tự làm ra mà có nó bằng sự ban phát.

Là phụ nữ bạn có quyền được yêu thương và mong muốn người khác yêu thương và che chở, bao bọc mình. Nhưng, đừng bao giờ ” đòi hỏi”ai đó yêu thương mình. Bạn chỉ có thể hạnh phúc khi ai đó muốn bao bọc, che chở bạn bằng yêu thương tự đáy lòng!

 

May1980

Hoa Dại

Photo: TKFFH

 

Em có biết tình-yêu-thực-sự trên đời cũng như một loài hoa ?!
Chỉ nở trong lặng im không sắc màu sặc sỡ
Dưới lối em đi dẫu thấp hèn hoa vẫn nở
Cho đến những vực sâu hay núi cao với muôn trùng trắc trở
Hoa vẫn vươn lên chấp hết mọi bão giông của cuộc đời đáng sợ
Dù chưa từng một lần
Loài hoa ấy được gọi tên...

Này em có thấy những đóa tinh khôi bên thềm
Đang ấp ôm những giọt long lanh ban sớm
Phải đi qua hết đêm tối cô đơn như mùa đông vừa chớm
Đau thương mới tan ra thành những giọt sương trong suốt
Mang trong mình hạnh phúc lấp lánh được chắt lọc từ những gì giá buốt
Để nuôi sống đời hoa !

Tại sao ư ?
Ừ thì có lẽ là…
Thượng Đế thích đặt tình-yêu vào những gì mọn hèn nhất
Nên chỉ những con người mang trái tim chân thật
Không tìm kiếm hào quang – những bộn bề tất bật
Không tìm kiếm sắc hương – chói lòa hơn nguyệt nhật
Mới nhìn thấy tình-yêu !
Mới tìm thấy tình-yêu !

Bởi tình-yêu-thực-sự đơn giản hơn rất nhiều
Thứ tình yêu tầm thường – được bọc trong nhung lụa
Thứ tình yêu si mê – khiến bản thân mình tàn úa
Thứ tình yêu vị kỷ – đóng vai hề với những lời hứa
Những tình yêu ngỡ là giống tình-yêu

Và loài hoa ấy cũng chẳng cần gì nhiều
Chằng cần sự nâng niu, yêu chiều hoa vẫn nở
Chỉ cần được cho đi hương sắc của mình như một lời bày tỏ
Một tình-yêu vẹn nguyên cho cuộc đời thêm rạng rỡ
Chẳng cần một cái tên, chẳng cần ai nhớ ai quên dẫu muôn đời hoa vẫn nở
Cũng giống như tình-yêu !
Cũng đẹp như tình-yêu !

Nhắm mắt lại đi em và hãy ước một điều
Rồi mở mắt ra xem liệu đã thành thực tại…
Thấy không em đây là loài hoa tượng trưng cho những gì mãi mãi…

Ngày ấy anh tặng em nhành hoa dại
Em nhoẻn miệng cười : “Anh cũng dại như hoa !”
Em nhoẻn miệng cười – anh ngây dại như hoa…

 

–The Kid Falling From Heaven–

Tôi 22 – Tuổi trẻ rực rỡ!

*Photo: Võ Thị Diễm Trang (phải) và April (trái)

“Người bạn thân yêu trong trái tim tôi, April. Tôi vốn ghét những nhà ga, nhưng tôi yêu tấm ảnh tại ga tàu này vô cùng. Khoảnh khắc trước khi tôi mất kiềm chế rồi òa khóc..”

*

Tôi đã vật lộn một thời gian để viết xong bài này. Khi trò chuyện với chị Trang, tôi có thể hiểu trải nghiệm của chị thông qua nụ cười, ánh mắt sáng, gương mặt hạnh phúc. Nhưng tôi không biết phải diễn tả thế nào bằng câu chữ. Và tôi mất một tuần chần chừ trước trang word để hoàn thành câu chuyện chỉ hơn 2000 chữ.

Chị tên là Võ Thị Diễm Trang, cựu sinh viên Đại Học Ngoại Thương, vừa kết thúc chuyến đi thực tập ở Vũ Hán, Trung Quốc trong dự án “Green Power Now”. Ngày 9/12/2013 chị đi, 27/1/2014 chị về lại Việt Nam. Chị bảo với tôi: “Ngày chị rời Vũ Hán, tụi bạn giấu passport của chị đi không cho chị về em ạ. May mà không bị trễ chuyến bay.”

Nghe xong, tôi quyết định đặt tên cho chuyến đi đó là: “Tôi 22. Tuổi trẻ rực rỡ”. Bởi tôi tin, bạn cũng giống tôi. Khi chúng ta trẻ, chúng ta có quyền ước mơ một tương lai rực rỡ. Cho dù trước mặt bạn có là khó khăn, vất vả, thì hãy tin ánh sáng sẽ tới ở cuối con đường.

Tôi 22. Hoang mang

Tháng 10/2013, chúng tôi tốt nghiệp. Một thế hệ nữa lại ra trường. Tôi đi thực tập, có việc làm. Mọi thứ rất ổn định, ngoại trừ tôi. Tôi không thỏa mãn. Tốt nghiệp xong tôi hoang mang không biết mình muốn cái gì. Tôi muốn được xê dịch. Tôi muốn học thêm gì đó mới. Nhưng tôi cứ đắn đo, chần chừ. Rồi tôi gặp stress, từ gia đình, các mối quan hệ đồng nghiệp, bạn bè, công việc…  Bạn tôi bảo: “Đi exchange đi, biết đâu mày sẽ bình tĩnh hơn.”

Tôi đăng ký, phỏng vấn và đậu. 9/12/2013, tôi lặng lẽ lên máy bay. Tôi rời Việt Nam, để lại những trăn trở, buồn bã, mỏi mệt sau lưng. Tôi lao đến một vùng đất mới. Để thoát khỏi hoang mang. Để học hỏi thứ gì đó mới. Để bình tâm. Để sống.

Hành trình những nỗi nhớ

Đại Học Vũ Hán – một trong ba trường đại học có khung cảnh đẹp nhất Trung Quốc nằm trên một ngọn đồi cao.  Từ trường, tôi có thể ngắm toàn cảnh thành phố Vũ Hán. Tháng 12, cây lá vàng ruộm. Lạnh và bình yên.

Tôi ở Trainee house. Đó là một căn nhà chung cư cao tuốt trên lầu 8, có ba phòng ngủ, một phòng khách, một bếp, dành cho 8 đứa thực tập sinh nước ngoài ở. Đó là tôi (Việt Nam), April (Ukraine), Sam (Malay), Marshall và Gaurav (Ấn Độ), Homoud (Yemen), Mulya (Indonesia), Rachel (Hongkong). Trên tường của Trainee House dán chi chít lá cờ của thực tập sinh đến từ đủ quốc gia khác nhau. Và đính trên đó là một tờ giấy lưu niệm có ghi: “Trainee house party everyday!” Và đúng là…party everyday thật. Rất nhiều người bạn thắc mắc sao chỉ ở Vũ Hán gần hai tháng mà tôi còn “tương tư” nhiều đến như vậy. Có nhiều kiểu đi trong cuộc đời. Nhưng khi bạn đến một vùng đất mới, được sống hết mình với rất nhiều tình cảm trao đi rồi nhận lại trọn vẹn, thì bạn chẳng thể nào dễ dàng quên.

Tôi nhớ người bạn Trung Quốc đã mắng khi giở hành lý tôi ra là: “Mày có bị ĐIÊN không?” Khi thấy tôi vác một đống T-shirt và quần jean sang Vũ Hán tháng 12 vốn lạnh… dưới 0 độ. Mọi đồ ấm của tôi hôm sau đều là được mượn và được tặng. Người thì cho dùng ké nón, bạn buddy tặng bao tay, nhóm trưởng cho mượn áo khoác, chỉ có đôi giày là mua cặp với cô bạn thân Ukraine. Ngoại trừ thời gian trong dự án, tôi giao tiếp với các bạn Trung Quốc ít bằng tiếng Anh mà chèn vào rất nhiều ký hiệu tay chân và nụ cười. Vì ngoài 2 chữ “xie xie” và “ni hao”, tôi chẳng biết thêm chữ tiếng Hoa nào. Vậy mà vẫn có thể hiểu nhau.

Tôi nhớ trong nhóm sinh viên nước ngoài, tôi là một trong hai thành viên lớn tuổi nhất. Nhưng tụi bạn toàn gọi tôi là “babe” và “xỉ vả” không thương tiếc: “Mày 22 nhưng mặt mày giống 22/2, tính cách cũng y chang con nít, trừ việc nấu ăn cho cả nhà mỗi ngày.”

Tôi nhớ những buổi tối 8 đứa chúng tôi 6h mới đi dạy về nhưng vẫn nấu cơm cho nhau ăn. Rồi cùng soạn giáo án, chơi bài Uno để tìm ra người chịu phạt tới 2 giờ sáng. Chúng tôi nghĩ ra rất nhiều hình phạt khùng điên cho người thua cuộc, như bắt tụi con trai chạy bộ lên xuống 8 lầu trong 1 phút. Hay phải trả lời những câu hỏi ngắc ngứ của tụi tôi với lời hứa 100% là sự thật…

Tôi nhớ khi đi tàu điện ngầm giờ cao điểm, 4 đứa con trai tự động đứng ở vòng ngoài, lùa 4 đứa con gái tụi tôi vào giữa. Tôi và ba bạn nữ không bao giờ lo sợ bị ngã hay mất cắp. Cứ yên tâm dựa vào lưng các bạn nam suốt chặng đường dài. Cũng 4 đứa con trai dễ thương ấy luôn là người trợn mắt lên quát khi tôi động tay vào bịch rác. “Dọn rác không phải việc của mày! Để tụi này lo!” Và tụi nó lụi cụi xách cái bịch đen lên xuống 8 lầu để vứt vào mỗi sáng sớm. Chúng tôi ở trong phòng cứ khúc khích cười vì những lần “ga lăng” đáng yêu như thế.

Tôi nhớ ngày trời Vũ Hán tụt xuống âm 5 độ, tôi bị sốt trên đường về nhà. Tụi nó xúm lại hỏi thăm “Mày có chắc là ổn không?” khi biết tính tôi lúc nào cũng banh miệng cười toe toét. Đứa thì cởi khoác tròng vào người tôi giữ ấm, đứa thì tự động bắt taxi, tống tôi lên xe. Tôi la oai oái: “Tao có thể đi tàu điện ngầm, không sao đâu” thì tụi nó đồng thanh: “Người bệnh không được quyền lựa chọn!”

Tôi nhớ trong một tháng rưỡi đó, tôi đã tin tưởng họ hết mình, không phân biệt nam hay nữ. Có những buổi tối xem phim tôi an tâm ngủ quên trên ghế sofa. Bởi tôi biết, tụi nó sẽ khiêng tôi vào phòng, và sáng mở mắt ra tôi sẽ nằm cuộn chăn trên giường bên cạnh cô bạn Ukraine.

Tôi nhớ một ngày tỉnh dậy, tôi thấy danh bạ 500 số điện thoại của mình đã mất sạch. Nếu ở Việt Nam, có lẽ tôi đã bật khóc. Bởi vì tôi vốn quảng giao và rất chăm sóc những mối quan hệ. 500 số tích lũy từ ngày tôi còn là đứa sinh viên năm nhất, tới khi là trưởng ban Văn nghệ – Thể thao thuộc Hội sinh viên, cho đến lúc ra trường đi làm. Nhưng tại Vũ Hán, tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng đến lạ. Rốt cuộc quen nhiều để làm gì, trong khi người tôi thân tôi còn chưa ở bên được?

Tôi nhớ ngày giáng sinh đầu tiên của tôi ở xứ người. Đêm đó, 50 – 60 con người, gồm 8 thực tập sinh chúng tôi và sinh viên trong tổ chức tình nguyện tại Vũ Hán cùng tổ chức tiệc giáng sinh tại Trainee House. Mọi người hát hò, coi phim, chơi bài, nhảy múa từ 7 giờ tối đến 7 giờ sáng.

Và trong ngày cuối cùng của năm 2013, chúng tôi ngồi cạnh nhau đón năm mới. Ở giữa sân vận động rộng mênh mông, chúng tôi coi chương trình biểu diễn của sinh viên Đại Học Vũ Hán. Chúng tôi thắp nến chào mừng năm mới, cùng nắm tay nhau và thì thầm đếm ngược. Chúng tôi đi và đi, vòng quanh thành phố đêm giao thừa, đi đến chân mỏi nhưng tim vẫn không mỏi. Đi để trải nghiệm cái lạnh rét buốt của Vũ Hán, cái khoảnh khắc giao thừa linh thiên của một năm. Đi để trải nghiệm trọn vẹn từng phút giây 8 người chúng tôi còn được ở bên nhau.

Giữa tháng 1, Marshall và Gaurav (Ấn Độ) phải trở về trước. Chúng tôi tổ chức tiệc chia tay. Cả đám uống vodka pha nước trái cây và cùng chơi trò game xí ngầu. Thắng cũng uống, mà thua cũng uống. Cung bậc cảm xúc của chúng tôi bắt đầu hỗn loạn, dao động dữ dội giữa hai thái cực buồn và vui. Uống xong, cả đám kéo nhau đi KTV (karaoke). Màn hình rộng trong căn phòng KTV lần lượt chiếu clip cảm nhận của bạn trưởng nhóm dự án Libra và các bạn sinh viên Trung Quốc dành cho thực tập sinh. Chúng tôi lắng nghe, ôm nhau, rưng rưng rồi cùng hát chung, rồi lại khóc…

Trước ngày tôi về nước, tôi đã có một đêm thức trắng cùng cô bạn Ukraine, để chia sẻ cho nhau nghe những tình cảm mà chúng ta đã cùng nhau trải qua. Chúng tôi vốn đã rất thân từ những ngày đầu chạy dự án, nhưng sau đêm ‘tâm tình’ ấy, bạn bây giờ trở thành một trong những tri kỷ của tôi, chúng tôi có thể chia sẻ bất cứ vấn đề gì với nhau, và đều dễ dàng bắt nhịp cảm xúc của nhau. Chưa bao giờ tôi nghĩ rằng mình có thể gặp gỡ một người bạn gái xinh đẹp, thông minh và tinh tế như thế tại một đất nước xa lạ. Bạn gửi lại trong vali về nước của tôi cái ba lô xinh xắn của bạn đầy ắp kẹo trái cây chua (vì bạn biết tính tôi không thích ăn ngọt) với lời dặn: “Giữ lấy, như chúng mình luôn ở bên nhau.”

*

Có một đoạn tôi viết tiếp, nhưng chị bảo “Đừng em ạ. Chị muốn giữ lại cho bản thân những kỷ niệm này…” Tôi nhớ đến câu chuyện của một thực tập sinh khác, chị Lê Uyên và chuyến đi Indonesia. Khi tôi hỏi “Chị ơi, em có nên viết tiếp không?” Chị nói: “Dừng ở đây thôi em.” Câu nói của chị Uyên làm tôi suy nghĩ một đêm. Những người tôi gặp đều muốn giữ lại cho mình chút gì đó riêng tư. Mỗi câu chuyện tôi viết đều có những góc khuất bé nhỏ họ giữ lại trong lòng. Thi thoảng, họ có chia sẻ những điều tôi không thể viết lại.

Tôi tin rằng, phần quan trọng nhất trong mỗi chuyến đi là con người. Những người ta gặp trong suốt chặng đường sẽ làm nên trải nghiệm của chúng ta. Đôi khi, những câu chuyện ấy dễ thương đến mức chúng ta muốn giữ lấy cho riêng mình để nhớ trong những lúc trống trải. Rồi mỉm cười, vì hiểu rằng có những tháng ngày trong cuộc đời ta đã trôi qua đẹp đến như thế.

*

“Về Việt Nam, tôi thậm chí không muốn bỏ sim điện thoại vào. Tôi chỉ để điện thoại như thế, mong mỏi tìm chỗ có wifi để nhắn tin với mọi người. Một tuần sau đó, tôi mới trở về được nhịp sống bình thường. Tôi bình tĩnh đối diện với những mớ bòng bong tôi để lại. Các mối quan hệ được sắp xếp, xử lý từng chút một và bình tâm. Bởi tôi có một chỗ dựa vững chắc là những người bạn. Ngày tôi lên máy bay về Việt Nam, tụi bạn cùng bảo nhau: “Đừng khóc. Tình bạn của chúng ta không bao giờ kết thúc. Tất cả chỉ mới bắt đầu.”

Và mỗi ngày thức dậy, tôi đều vào hộp thư chung chỉ để đọc những dòng đơn giản: “Good morning, babes.” Hay những ngày cuối tuần, 8 mặt mo cùng xuất hiện trên Google hangout để gọi video nhóm cùng nhau, và chẳng lần nào kết thúc ngắn hơn một tiếng đồng hồ huyên thuyên. Một tháng sau ngày về, tôi còn nhận được bưu thiếp từ cô bạn Trung Quốc. Chưa bao giờ tôi thấu hiểu sâu sắc rằng khi chúng tôi gần nhau như thế, thì khoảng cách địa lý dù xa vạn dặm cũng sẽ tan biến.

Và tôi trở lại tuổi 22. Qua cái thời chông chênh, hoang mang giữa nhiều ngã rẽ cuộc đời, không biết mình muốn gì, cần gì, khát khao gì. Tôi lại tiếp tục. Học thêm, chạy một số dự án, làm công việc yêu thích. Những thứ bấp bênh không phải không có, nhưng tôi thấy mình thoải mái, tràn đầy động lực và niềm tin vào những dự định mới. Trong những ngày nhớ nhau, tôi lại mở folder trên máy tính, gồm hơn 50 thư mục, từng mục là một ngày tôi ở Vũ Hán. Tất cả mọi kỷ niệm thân thương tôi đều lưu trong đó, để khi buồn, khi nhớ, khi chông chênh tôi lại mở hình, bật video lên coi, để được sống lại những ngày cùng nhau, sống lại những ngày mùa đông đầy ắp kỷ niệm, khi chúng tôi đều rất trẻ, đều ngốc nghếch và khùng điên. Tuổi 22 đẹp và rực rỡ ấy có lẽ sẽ theo tôi đi trọn cả cuộc đời.

Tôi 22. Rực rỡ

Cách đây không lâu, tôi có đọc một bài viết ngắn và hay tên là “Cứ Đi Đi”. Khi 18 – 22, tự nhiên cuộc sống của chúng ta chựng lại một bước. Chúng ta bị mắc kẹt giữa khát khao muốn làm cuộc sống ý nghĩa, với cảm xúc hoang mang không biết mình muốn gì, mình thích gì, mình cần gì.

Vậy thì cứ đi đi. Làm gì cũng được. Đi đâu cũng được. Miễn là chúng ta thích điều ấy. Đi để trưởng thành. Đi để bình tâm. Đi để cứng cỏi. Đi để trao công sức, tình cảm không tính toán và nhận được yêu thương làm ta thao thức nhớ trong mỗi phút giây trở về. Đi để hiểu rằng, khi chúng ta 22, chúng ta có quyền ước mơ một tương lai tuyệt vời. Cho dù trước mặt bạn có là khó khăn, vất vả, thì hãy tin ánh sáng sẽ tới ở cuối con đường.

Cứ đi đi. Bởi khi 22, bạn xứng đáng một tuổi trẻ rực rỡ.

 

Đỗ Thanh Lam

Vụ trộm sách: Bán sách, sao không bán tri thức?

*Photo: Borealnz 

 

Những ngày vừa qua hẳn dư luận vẫn đang rất quan tâm và phẫn nộ về vụ bé gái lớp 7 chẳng may trót dại, lỡ tay trộm 2 quyển sách (truyện) trị giá 20 nghìn tại siêu thị Vĩ Yên (Gia Lai). Sau đó đã bị nhân viên siêu thị phát hiện và trói cố định tay vào song sắt bằng băng dính, dán biển “Tôi là người ăn trộm” lên trước ngực. Chưa dừng lại ở đó họ còn chụp ảnh lại để rồi vô ưu, vô nghĩ, hả hê đăng lên facebook chỉ để “chém cho vui”!

Đáng tiếc, đây chẳng phải chuyện để vui! Ngược lại đây còn là hành động trừng phạt quá đáng, vượt ngưỡng răn đe, thiếu tính giáo dục và hủy hoại nhân cách con người.

nu-sinh-bi-troi-1441-1397496730.jpg
Nữ sinh lớp 7 bị nhân viên siêu thị trói và dán biển – Ảnh: Vnexpress

Đừng làm trẻ bị khuyết tật về tâm hồn và ám ảnh về tâm lý

Ai cũng ít nhất một lần vấp ngã, bản thân là người lớn với bao từng trải, tiếp thu, chiêm nghiệm  lắm kiến thức về đạo đức, về xã hội đôi lúc còn tự mâu thuẫn với chính mình trong nhiều trường hợp đứng trước lằn ranh của đôi bờ tốt – xấu!

Thử hỏi bản thân của 4 nhân viên siêu thị kia, tuổi thơ trôi qua họ đã đôi lần trộm ổi, hái me hoặc phạm phải lỗi lầm nào chưa? Nếu đã một lần như vậy thì sao không thể rộng lòng mà bỏ qua cho phút trót dại của con trẻ bởi ai ai cũng có những lỗi lầm, là trẻ con với vốn sống ít, tâm lý chưa đủ vững vàng, nhân cách đang dần hình thành thì lại càng dễ vấp ngã nhiều hơn.

Thay vì bắt trói, đeo biển, chụp hình họ hoàn toàn có thể dùng biện pháp khác công bằng, nhân văn và vị tha hơn bằng việc:

  • Thu hồi lại 2 sản phẩm của siêu thị, khuyên giải, phân tích và bỏ qua cho phút chốc thiếu suy nghĩ.
  • Hoặc để đủ tính răn đe hơn họ có thể yêu cầu viết bản kiểm điểm hứa không tái phạm và báo về cho gia đình hoặc giáo viên chủ nhiệm. (Được biết các nhân viên siêu thị cũng yêu cầu bé gái này thực hiện điều tương tự và dọa rằng sẽ báo cho cả công an. Nhưng tôi nghĩ có lẽ họ đã quá nóng vội, không có phương pháp và kinh nghiệm trong việc xử lý tình hống như thế này, cùng với tâm lý thỏa mãn bức xúc đã khiến họ hành xử rất thiếu nhân văn, cũng có thể nói là tàn nhẫn với bé gái đó. – Nếu là tôi thì tôi sẽ không chọn cách này)

Ai cũng ít nhất một lần vấp ngã, bản thân là người lớn với bao từng trải, tiếp thu, chiêm nghiệm  lắm kiến thức về đạo đức, về xã hội đôi lúc còn tự mâu thuẫn với chính mình trong nhiều trường hợp đứng trước lằn ranh của đôi bờ tốt – xấu!

Đằng này họ lại bất chấp lời khuyên can của nhiều người có mặt trong siêu thị để trừng phạt em bằng hành động vượt quá khỏi tính răn đe hay giáo dục. Với việc trói tay – dán biển – chụp hình của mình họ đã nhẫn tâm trói chặt vào em hình ảnh một kẻ trộm, dán chặt vào tâm lý trẻ thơ nỗi ám ảnh sẽ đeo bám dai dẳng về sau và phát tán đi nỗi mặc cảm, xấu hổ làm khiếm khuyết tâm hồn và hình thành tâm lý tự cách ly bản thân môi trường xung quanh.

Liên quan đến việc hình thành nhân cách, thói quen và hành vi ứng xử của con trẻ, mời các bạn xem qua clip bên dưới với thông điệp: Children see. Children do” (Trẻ em nhìn thấy. Trẻ em học theo.)

[youtube=https://www.youtube.com/watch?v=G4yBj0LXCTo]

Qua clip trên cũng như hành động của các nhân viên siêu thị Vĩ Yên, có thể thấy ở một khía cạnh xã hội nào đó, con trẻ chính là tấm gương phản chiếu hình ảnh, thái độ, hành động, thói quen, cách hành xử trước một vấn đề của người lớn. Cụ thể ở đây là vụ trộm sách, nếu người lớn cứ mặc sức dùng bạo lực, áp dụng sự trừng phạt, khủng bố tinh thần với trẻ em thì vô tình chung, rất có thể sẽ khiến trẻ con bị ghi hằn lên đầu óc và lưu trữ lấy những hành động này, để rồi sẽ áp dụng với kẻ khác trong tương lai.

Việc hình thành nhân cách con người ở trẻ em không chỉ đến từ gia đình, từ phương pháp giáo dục ở nhà trường,  mà còn ở tác động của xã hội lên các em. Ở bất kỳ trường hợp, hành động, tình huống nào trong cuộc sống đều có thể trở thành câu chuyện giáo dục nhân cách cho trẻ con hay vô tình trở thành tiền lệ xấu, thói quen xấu cho trẻ em học theo.

Siêu thị sách: Bán sách sao không bán tri thức?

Qua hình ảnh về siêu thị Vĩ Yên, có thể thấy chức năng của siêu thị này không chỉ kinh doanh các mặt hàng như lương thực, thực phẩm, nước giải khát, nhu yếu phẩm, đồ dùng thường ngày… mà còn có riêng chức năng kinh doanh các sản phẩm giáo dục với vai trò là một siêu thị sách.

http://images.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/250/701250.jpg
Siêu thị sách Vĩ Yên – Ảnh: T.B.D (Tuoitre)

Đành rằng, ở khía cạnh lợi ích thương mại thì có là sách, hay là tri thức gì đó đi chăng nữa thì cũng chỉ là những tập giấy dày – mỏng khác nhau với đầy những ký tự và lắm hình ảnh. Hoàn toàn có thể mua được, bán được, giảm giá bán rẻ cũng được. Tuy nhiên mọi sản phẩm giáo dục được bán ra đều mang tính tri thức, truyền tải thông điệp nhân văn và giá trị tinh thần tốt đẹp về nhân cách sống, hoặc về nhiều kiến thức từ căn bản đến hàn lâm của nhiều lĩnh vực trong cuộc sống.

Trong một môi trường những tưởng đầy tri thức và nhân văn cùng với chức năng cung ứng giáo dục như vậy nhưng chỉ tâm lý hà khắc thái quá, để thỏa mãn bức xúc bản thân trong chốc lát mà chính những nhân viên này đã tự tay gạt bỏ đi giá trị cốt lõi, tinh thần tốt đẹp của việc giáo dục, của siêu thị (sách) nơi họ đang làm việc.

“Không có sách, không có tri thức.” – Vladimir Ilyich Lenin

Không cổ xúy cho cái hư, cái xấu

Ở đây tôi không muốn nói rằng hãy cứ rộng lòng, cứ sẵn sàng bỏ qua tất cả mọi sai lầm của con trẻ mà không một lời khuyên giải – lời răn dạy, không một động thái trách phạt. Vì như thế là cổ xúy cho thói hư, tật xấu, là hành động dung túng cho cái sai có cơ hội phát triển.

Xét về lý thì hành động của bé gái trong bài là sai, là đáng lên án và cần phải xử phạt đúng người đúng tội. Tuy nhiên phải nhắc lại việc áp dụng hình thức trói tay – treo biển – chụp hình (phát tán) như vừa rồi của các nhân viên siêu thị Vĩ Yên là hành động vượt ngưỡng răn đe, nhẫn tâm, thiếu tính giáo dục, không văn minh và nhân văn. Về tình, nếu không thể – không đủ kiên nhẫn – không có phương pháp để khuyên răn, để bỏ qua cho sai lầm của con trẻ thì chỉ nên dừng ở việc báo với gia đình và nhà trường (nếu muốn).

Thay cho lời kết

Xin đừng đổ chàm vào tuổi thơ của con trẻ, đừng chỉ vì 2 tập sách (truyện) trị giá chỉ 20 nghìn đồng mà làm khuyết tật đi tâm hồn trẻ con cùng nỗi ám ảnh lâu dài về tâm lý và tác động trực tiếp đến việc hình thành nhân cách con người.

Cuối cùng, xin được phép dẫn lời của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong ca khúc “Để Gió Cuốn Đi” để kết thúc cho bài viết:

“Sống trong đời sống cần có một tấm lòng
Để làm gì em biết không?
Để gió cuốn đi , để gió cuốn đi”

Trương Đức Phương

Trong cái xã hội mà đa phần chạy theo số đông

*Photo:  Ipc-Feodosia 

 

Đôi khi tôi muốn phát điên lên, muốn hét to lên với mọi người, đừng như thế nữa, tôi không biết nên nói gì, làm gì để thay đổi tình trạng này và có thể sẽ chẳng ai chú ý đến lời tôi nói, có lẽ đây cũng là lần cuối tôi nói với mọi người, cái cảm giác một mình một suy nghĩ, lạc lõng đến vô vọng, người ta bảo đừng chết ở tuổi 20, tôi đã 22 tuổi, còn rất nhiều thời gian để làm, có hàng tỷ câu hỏi tại sao trong đầu mà không thể trả lời thỏa đáng.

Tại sao những hội chợ triển lãm, hình ảnh đất nước giới thiệu ra nước ngoài lúc nào cũng là nông sản, thủy sản, nguyên liệu thô, lúc nào cũng là hình ảnh áo dài thế? Tôi biết đó là nét đẹp văn hóa đáng trân trọng của Việt Nam, nhưng thực sự tôi tham lam, tôi muốn nhiều hơn nữa, tôi muốn người Việt mình đặc biệt là giới trẻ đừng học chỉ vì muốn kiếm một cái ghế an nhàn lương cao nữa, tôi muốn Việt Nam mình giới thiệu ra được nhiều sản phẩm trí tuệ hơn nữa, sẽ có thật nhiều Giáo sư Ngô Bảo Châu nữa.

Có câu ngạn ngữ, đại ý là: “Nhân cách hình thành nên ý thức, ý thức hình thành nên thói quen, thói quen tạo nên tính cách, tính cách quyết định số phận bạn.” Giá như các bạn đừng nghĩ đến chuyện không qua môn thì đút lót thầy cô, giá như các bạn nghĩ học để lấy kiến thức áp dụng thực tế, tôi đã từng suy nghĩ, nếu lựa chọn giữa một bên là công việc an nhàn lương hàng chục triệu một tháng với công việc mà tôi không yêu thích với một bên cho tôi một nhà thí nghiệm đầy đủ và hiện đại, một nhà sách vô tận cho tôi được nghiên cứu thỏa thích, tôi không ngần ngại chọn phương án 2, tôi sẽ có ít tiền hơn, tôi sẽ ngủ ít hơn, tôi không kiếm được cho bố mẹ nhiều tiền hơn, nhưng tôi thấy hạnh phúc thực sự, và nhất định tôi sẽ làm bố mẹ tự hào về tôi.

Đọc báo tôi thấy nhiều người Việt tài năng được vinh danh ở nước ngoài, tôi thấy thật ngưỡng mộ, điều đó chứng minh người Việt mình rất thông minh, chúng ta hoàn toàn đủ khả năng tiến xa hơn nữa về khoa học công nghệ, bạn có ước mơ, lòng đam mê thì phải làm đến cùng, đừng làm việc gì cũng làm cho xong, cái kiểu đốt cháy giai đoạn, nóng vội muốn kết quả ngay chỉ giết chết ước mơ trong chúng ta.

Có những chuyện người ta nói công khai, trở thành điều quá đỗi bình thường, muốn xin vào ngân hàng phải chạy mấy trăm triệu, muốn xin làm giáo viên cũng phải mấy trăm triệu, muốn vào Sở này Bộ kia cũng phải mấy trăm triệu, bạn có tiền, phải, bạn được nhồi nhét vào một cái ghế yên vị như thế, bạn có cơ hội nhận hối lộ nhiều, cái ghế nào càng chắc, cơ hội ăn đút lót càng cao thì càng cần nhiều tiền để chạy chọt vào, rồi chúng ta đang đào tạo ra một tầng lớp lãnh đạo như thế nào? Tôi không vơ đũa cả nắm, vì thực sự có rất nhiều con người tâm huyết thực sự đang ngày đêm miệt mài cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cho đất nước, nhưng thực sự lo sợ trước sự suy đồi đạo đức của một bộ phận không hề nhỏ trong xã hội bây giờ.

Giới trẻ bây giờ thế nào? Một cô ca sỹ, người mẫu nổi tiếng nước ngoài, cả một hội ùn ùn kéo vào bình luận, buông những lời vô văn hóa, tràn ngập bình luận người Việt, còn rất nhiều người, ăn mặc hở hang, phản cảm, phát ngôn gây shock để được nổi tiếng, họ trơ lì với thái độ của người khác, người khác thấy thế cũng bắt chước theo, không cần biết ngày mai thế nào, không cần biết, tất cả quá đơn giản, hàng ngày ra đổ bê tông đường nắng oi ả ai biết đến, hàng ngày lao động cực khổ kiếm vài chục nghìn ai biết đến? Hàng ngày làm việc dưới hầm mỏ nguy hiểm tính mạng ai biết đến? Hàng ngày có những người thầy, người cô lặng lẽ truyền đạt tri thức đến cho những trẻ em nghèo ai biết đến? Tôi ước gì, ai đó chịu khó giành một chút thời gian quan tâm những gì tôi nói, và suy nghĩ thật nghiêm túc, ước gì…

Xin lỗi, đây là lần cuối tôi nói với mọi người về vấn đề này, có thể bạn đọc xong, suy nghĩ nhưng rồi cũng nhanh chóng quên đi trong cái xã hội mà đa phần chạy theo số đông, nhưng tôi muốn nói ra suy nghĩ của tôi, tạm biệt.

 

Đông Phương

Cho dù hoàn cảnh có thương đau, bạn vẫn là người hạnh phúc!

*Photo: George Hodan

 

Tôi gặp chị Vũ Nguyễn Thảo My (Lớp K50CLCD1, Đại Học Ngoại Thương TP.HCM)  từ hơn một tháng trước. Buổi nói chuyện cùng chị nhanh và ngắn. Thế nhưng, câu chuyện thì buồn.

Vào xuân 2014, chị đi exchange đến Malaysia dạy tiếng Anh cùng với Ming (sinh viên Úc gốc Hoa) và Timo (sinh viên Bỉ) tại nhà thờ Tao Yuan thuộc tổ chức từ thiện “Jeramiah Welfare Charity Society” tại thành phố Johor Bahru, Malaysia. Học trò của chị là những đứa trẻ 13 đến 18 tuổi, sống tập thể trong Tao Yuan luôn chứ không ở cạnh cha mẹ. Sáng các em đi làm lễ, hát thánh ca, trưa đi học, tối thì quay về dãy nhà riêng dọn dẹp, nấu ăn. Tao Yuan không phải là một ngôi trường tốt. Độ tuổi của các em thì khác nhau mà phải học chung một chương trình. Tụi nhóc không chú tâm học, không làm bài tập mà hay thường copy nhau. Có em chưa làm nổi những phép toán cơ bản.

Nhưng đằng sau bước chân của mỗi đứa trẻ trải dài một câu chuyện buồn. Các em bị đưa vào đây vì bố mẹ không đủ khả năng nuôi, hoặc chủ động từ bỏ con vì em quá quậy, có bạn trai sớm… Ngay cả những đứa trẻ đã tốt nghiệp từ Tao Yuan cũng không tìm được công việc tốt. Có em đã phải làm mẹ từ năm 17 tuổi.

Những ngày đầu chị không thể giao tiếp được với ai. Bởi nhà thờ toàn nói tiếng Trung, mà chị chỉ biết tiếng Anh. Một ngày chị, Ming và Timo họp lại, quyết tâm xin ban giám hiệu dạy tiếng Anh cho các em. Timo nói: “Chúng em đã lặn lội từ Bỉ, từ Úc, từ Việt Nam đến đây làm tình nguyện chỉ trong vài tuần. Chúng em không muốn lãng phí thời gian ít ỏi cho những đứa trẻ quậy phá. Có thể chọn ra những bé thực sự muốn học tiếng Anh để dạy được không?” Ban giám hiệu trả lời một câu khiến cả ba người nín lặng: “Con ơi, trường này vốn đã dành cho những đứa trẻ bị xã hội bỏ rơi rồi. Đừng phân loại tụi nhỏ nữa.”

Cuối cùng ba người dạy tất cả. Nhóm chị dạy những điều rất cơ bản, ví dụ như chào hỏi, cách đọc giờ đồng hồ. Đúng như Timo đoán, trong lớp vẫn có những thành phần “bất trị” như bé Eugene, thường bỏ ra ngoài giữa giờ học làm Timo rất tức giận. Nhưng từ khi dạy tụi nhóc, khi Thảo My chia sẻ nhiều về cuộc sống của chị, thì các em mới bắt đầu mở lòng. Những đứa trẻ 15, 16 tuổi rồi nhưng hành động vẫn ngông ngạo, thất thường như một đứa con nít, có lẽ để che giấu nội tâm dữ dội bên trong. Để che giấu những nỗi đau quá lớn ập đến khi em còn quá trẻ.

*

Làm sao không đau cho được trong cái ngày em mới mười mấy tuổi, người sinh ra em buông câu nói cay đắng: “Ba mẹ không cần con nữa!” và đẩy em vào đây.

Làm sao không đau cho được, năm em lên 17 thì gia đình vỡ nát. Bố mẹ ly dị. Dì rời bỏ em, sang London vì con. Chẳng ai quản, em được sống trong tự do tuyệt đối và có bạn trai. Mọi người phát hiện ra, rồi bắt em vào trường này.

Làm sao không đau cho được, khi em mới chỉ là một đứa bé mà phải chứng kiến cảnh ba đi lấy vợ kế. Người “mẹ” mới theo đạo Hindu. Và căm ghét em, đánh em, nhốt em vào cũi, chỉ vì em theo đạo Tin Lành. Chỉ vì em tin vào Chúa.

Làm sao không đau cho được, khi mẹ em là giáo viên giữ trẻ, vô tình ngộ sát đứa nhỏ mình trông, bị kết án tù. Một ngày hạnh phúc của em – Irene và em trai Jason chính là được đi chung với sơ lên trại giam gặp mẹ. Khi trở về nhà thờ, hai chị em đủ cứng cỏi để không bật khóc, để vẫn đàn hát, chơi giỡn như bình thường. Nhưng Irene níu áo chị và nói: “Chị ơi, ước mơ của em lớn lên muốn trở thành luật sư. Để em có thể bảo vệ mẹ.” “Vậy thì phải giỏi tiếng Anh lên, nhóc à.” – My đáp. Chị ôm em, cố gắng không khóc.

Ơi cuộc đời. Mày ngọt ngào với ai, mà sao tàn nhẫn với các em đến như thế?

*

Eugene trong ký ức của Timo là đứa nhỏ “bất trị” thường hay bỏ ngang giờ Anh văn. Eugene trong ký ức của Thảo My là một bé trai mới 13, cao, già trước tuổi và lì nhất trong đám. Em ghét ngôi trường này, em ghét học. Em muốn đi xa nhà để được vẽ, được làm kiến trúc sư. Gia đình có nói bắt ép thế nào Eugene cũng không nghe. Chị dỗ mãi nhưng thằng bé vẫn không chịu. Một ngày, khi My sắp về Việt Nam, Eugene nắm tay My hỏi:

“Chị ơi, em muốn qua Việt Nam thăm chị. Làm sao để kêu được từ “mẹ” theo tiếng của chị?”

“Mẹ- ơ-i. Như vậy đó nhóc.”

“Chị My. M-ẹ ơ-i. Mẹ ơi!…”

Kể từ đó, lúc nào Eugene cũng theo chị và gọi “mẹ ơi”. Ban giám hiệu la: “Các em là tình nguyện viên thì đừng xưng hô như vậy, sẽ tổn thương tụi nó!”  Nhưng chị không đồng tình. Bởi đó là tấm lòng của Eugene. Có lẽ em không phải là đứa ngỗ ngược. Mà là em khát khao được yêu thương từ gia đình đến cháy bỏng. Đến nỗi có thể chạy theo gọi “mẹ” với một người chị lớn hơn 7 tuổi, mới ở bên em được một tháng; chỉ vì em được chị chia sẻ, được chị yêu thương.  Thầy cô không cho nhưng tiếng gọi “mẹ” của Eugene cứ vang mãi theo chị. Ngây thơ. Khao khát. Đau đớn. Dữ dội. Và xót xa.

Ơi cuộc đời. Mày dịu dàng với ai, sao lại keo kiệt tình yêu thương với các em đến như thế?

*

Chị My từng nói với tôi: “Càng nghe tâm sự của các em, chị càng thấy mình là một người may mắn. Nên chị phải cố gắng sống cho thật tốt để truyền cảm hứng cho tụi nhóc ấy…” Thức, một người bạn của tôi cũng nói rằng: “Đọc những bài viết về exchange, anh rất hiểu. Vì anh từng đến Indonesia để dạy cho những đứa trẻ khiếm thính. Số phận bất hạnh và nỗi đau của các em chỉ khi tiếp xúc rồi mới hiểu được.”

Tôi viết bài này, chỉ để nói rằng, đất nước có thể khác nhau nhưng bi kịch thì giống nhau. Nên bạn ơi, đừng bao giờ nói ai sướng hơn ai. Đi mới hiểu cuộc sống có những sự thật rất phũ phàng. Đi mới hiểu trên đời này có quá nhiều những đứa trẻ ngây thơ đã phải chịu đựng số phận cay đắng. Đi mới hiểu bên trong vẻ ngoài ngỗ ngược, quậy phá có khi là những tâm hồn chất chứa nỗi buồn dữ dội.

Bởi vì cuộc đời chỉ có một. Nên chỉ cần bạn còn được đi học, còn có việc làm, còn có thể đọc bài viết này, hay chí ít bạn còn sống, thì cho dù hoàn cảnh của bạn có thương đau, bạn vẫn là một người hạnh phúc.

Bạn ơi, xin đừng để mất may mắn đó. Đừng bao giờ.

 

Đỗ Thanh Lam

Vượt qua cái chết

*Photo: Gio Photos

 

Là con người, ai cũng sợ chết. Đó là điều hiển nhiên vì nó thuộc bản năng sinh tồn. Tôi cũng từng sợ chết, rất sợ! Nhưng không biết từ bao giờ, nỗi sợ đó đã đi vào tiềm thức. Có lẽ, bởi tôi được cọ xát và tập dượt để đón nhận nó quá nhiều lần. Và ơn trời, lần nào cũng may mắn vượt qua nó. Từ nhỏ, sức khoẻ tôi đã yếu, quặt quẹo từ bé. Có thể nói, một thể chất yếu đuối được che dấu trong một cơ thể hoàn hảo nếu đánh giá bằng mắt thường. Biểu hiện từ nhỏ của tôi là nhạy cảm thời tiết. Cứ thay đổi thời tiết là cơ thể lập tưc phản ứng. Bố mẹ thương con cũng chạy chữa khám xét nhiều nơi nhưng không tìm được bệnh. Nhưng thời điểm đó, tôi vẫn sợ chết lắm vì nó chỉ là những trận ốm liên miên nhưng vặt vãnh.

Khi người yêu (là chồng tôi bây giờ) dẫn về nhà ra mắt. Mẹ chồng tôi bấy giờ đồng ý ngay lập tức, trong đó có yếu tố nhìn nó khoẻ mạnh. Giờ có lúc bà phải thốt lên: “Sao con yếu thế không biết, nhìn có đến nỗi nào đâu!” Nghĩ thương mẹ, hơn 60 tuổi mà chưa lần nào tôi phải bưng cháo chăm mẹ chứ mẹ thì cháo hầm, cháo hành mang vào viện hay bê lên giường cho tôi như cơm bữa đến nỗi thành quen, giờ bà không kêu ca phàn nàn nữa chỉ xót xa thương.

Lần đầu tiên và cũng là lần tôi cảm nhận về cái chết rõ nhất đó là khi tôi hôn mê, nằm trên giường bệnh 13 ngày trời tại khoa điều trị tích cực. Cứ nói người sống thực vật không biết gì nhưng thực tế họ biết hết, nghe thấy hết những cuộc trò chuyện và thì thầm của người xung quanh thậm chí là nghe rất rõ chỉ có điều họ không thể nào phản ứng được thôi. Mười ba ngày, tôi như trong trạng thái giao hoà giữa âm dương trần thế. Tôi như một kẻ vừa xa lạ vừa thân quen bởi nghe rõ tiếng người thân nói, gọi, khóc lóc… Nhưng lại không nhìn được họ mà lại gặp toàn người lạ. Lúc ấy, tôi như kẻ lạc giữa chốn xa lạ, ngơ ngác tìm người thân trong đám đông xa lạ.

Có thể nói, lúc đó là lúc cơ thể tôi đang tranh đấu dành giật giữa cái chết và sự sống. Không biết đúng không, nhưng qua chiêm nghiệm tôi đều thấy những người ở giữa ranh giới sống-chết đều giống nhau ở một điểm đó là: Nếu tỉnh lại được thì trước khi thoát khỏi hôn mê họ đều thấy mình đi tới cuối đường hầm và gặp ánh sáng chói loà. Lúc đó, họ thường mở trừng mắt, hoặc hấp háy hé vic chói…..tôi cũng vậy!

Sau lần ốm đó, thì nhưng trận ốm ngắt, ngất xỉu và cơ thể cạn kiệt cảm giác chìm xuồng đáy diên ra thường xuyên. Tuy nhiên mệt nhưng cũng có cái hay là giờ tôi không cảm thấy sợ chết nữa. Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, thậm chí hôm nay còn nghĩ xem mình nên di chúc tiếp thân xác mình ra sao?! Hôm trước đã di chúc cho đứa em hàm răng rồi. Giờ tôi muốn sẽ cho ít tro vào cái lọ nhỏ để gửi đến một phương trời xa xôi… Hiii, nghĩ mà buồn cười thỉnh thoảng hâm hâm tôi hay có những ý nghĩ kỳ quặc như vậy.

 

May1980

Chuyện trộm cắp

*Photo: IFM Photographic

 

Mấy ngày gần đây báo chí xôn xao vụ việc em nhỏ ở Gia Lai ăn cắp hai quyển truyện bị bắt, sự việc có lẽ sẽ dừng tại đó nếu như các nhân viên không trói gô em lại rồi chụp hình cho lên mạng xã hội. Các bạn đã từng là nhân viên siêu thị, nhân viên nhà sách những người mà đã phải bỏ tiền túi đền hàng bị mất đều nghiêm giọng vụ này phải trị cho nghiêm. Bên cạnh đó lại là số đông các bạn độc giả lên án hành vi hạ nhục người khác của các nhân viên siêu thị.

Những vấn đề về nhân quyền, quyền trẻ em tôi xin không bàn đến nhưng có một vài bình luận khiến tôi suy nghĩ: “Em nó ăn cắp có hai quyển truyện, giá có 20.000VND mà siêu thị nó làm quá à” “Ăn cắp gì chứ sách là tha thứ được” Theo bà Phan Thị Hằng Nga – Phó giám đốc Sở Giáo Dục & Đào Tạo tỉnh Gia Lai phát biểu trên báo Dân Trí (15/3/2014): “Ăn cắp cũng có nhiều loại, và ăn cắp sách có thể coi là “ăn cắp văn hóa để làm giàu văn hóa cho mình.

Vậy ra chúng ta có những thứ được ăn cắp có những thứ thì không được quyền ăn cắp? Từ khóa “giải pháp chống trộm” sẽ được Google trả về bằng hàng loạt quảng cáo cũng như bài viết về camera chống trộm, tủ sắt, chuông báo động, cổng từ, truy vết GPS… Hiển nhiên muốn ăn cắp phải lấy những thứ cầm nắm được. Nhưng không, mọi thứ đều có thể bị đánh cắp, đánh cắp ngay trước mắt mọi người.

Có chuyện kể rằng một anh ăn mặc lịch sự đàng hoàng đến nói với bảo vệ hội chợ rằng: “Tôi là tên trộm đại tài. Hôm nay tôi sẽ ăn cắp tại đây.” Nghe thế người bảo vệ đi kè kè sát anh thanh niên. Khi ra về bảo vệ thở phào vì đi kèm cả ngày nó chẳng lấy được thứ gì cả. Ngày thứ hai anh kia lại xuât hiện và nói với bảo vệ: “Hôm qua tôi đã lấy trộm được rất nhiều. Hôm nay tôi đến để trộm tiếp đây.” Anh bảo vệ lại đi theo nhưng chẳng thấy anh thanh niên bỏ gì vào túi cả, khi ra cổng bảo vệ cẩn thận lục soát anh thanh niên nhưng cũng chẳng có gì, bảo vệ lại thở phào chắc nó lại hù mình mà thôi. Và trong suốt một tuần, ngày nào người thanh niên cũng tới và bảo vệ lại đi sát gót. Ngày cuối người bảo vệ cười mỉa mai: “Này, anh chẳng ăn cắp được gì ở đây bởi đội bảo vệ dày đặc, camera tứ phía. Anh chỉ giỏi khoác lác thôi.” Người thanh niên cười và bảo: “Anh lầm rồi, tôi đã ăn cắp tất cả ý tưởng và thu vén vào đầu tôi rồi. Tôi là kẻ cắp đại tài.”

“Có những thứ không thấy được, không sờ không chạm được vẫn bị đánh cắp. Bản quyền, công trình nghiên cứu đến cả trái tim, lòng tin trong thời đại này đều là mục tiêu trộm cắp. Người ta hay trách lòng tham của kẻ trộm nhưng lòng tham đó thường trỗi dậy khi có quá nhiều thứ-trộm-được ở trước mặt. Vâng, bởi “kẻ trộm được tạo ra từ những cơ hội.” – Francis Bacon

Mặc nhiên người ta dễ tha thứ cho hành vi ăn cắp những vật giá trị nhỏ. Mất đi những thứ không mấy giá trị thì có thể cho qua dễ dàng bởi nó không gây tác hại lớn. Người ta so sánh em bé với những cô tiếp viên tuồn hàng giá trị chục triệu rồi bảo: “Đấy ăn cắp là thế chứ vài chục nghìn mà làm lớn chuyện.” Nhưng kẻ trộm theo cá nhân tôi võ đoán, cũng nhón những thứ giá trị nhỏ như “cái trứng” rồi mới từ từ ôm những món giá trị lớn dần là những “con bò”. Quá trình đó phát triển bởi họ được tha thứ một cách dễ dàng đồng thời họ chuyên nghiệp hơn, khéo léo hơn và lương tâm họ cũng quen dần khi nó không bị khó chịu nữa bởi việc tước đoạt đi vài thứ của người khác. Cảm giác kẻ trộm ban đầu có lẽ là xấu hổ khó chịu sợ bị phát hiện, nhưng dần dà nó là sự chai sạn với đau khổ của người khác và đích đến là sự sung sướng tự hào khi hoàn thành xong phi vụ.

Rất nhiều người trong chúng ta cảm phục và thần tượng anh chàng Robin Hood bởi anh cướp của người giàu chia cho người nghèo. Mặc nhiên người giàu là đáng bị cướp hay động cơ đằng sau chuyện ăn cướp cao thượng nên anh được tôn vinh? Rõ ràng anh cướp Trúc và đồng bọn chặt tay cô gái đi SH do cô gái quá giàu so với đại đa số người dân là đúng theo nguyên tắc “cướp nhà giàu” nhưng chỉ vì anh thiếu “chia cho người nghèo” nên anh mới bị tử hình thôi. Cũng thế, quay lại chuyện cô bé ở đầu bài viết, người ta nói ăn cắp sách là hành động tha thứ được bởi nó là ăn cắp “văn hóa”. Chẳng thế mà một anh thanh niên không ngần ngại cười rất tươi đeo tấm bảng “tôi đã từng ăn cắp sách tại đây” anh hiểu rõ người ta sẽ tha thứ dễ dàng vì cái anh ăn cắp là văn hóa chứ không phải là những thứ vô bổ, anh không xấu hổ bởi anh đang đứng ra bảo vệ cho lẽ phải bảo vệ quyền trẻ em và thông điệp đó chắc chắn sẽ đánh bay chuyện ăn cắp mà phải nói rõ là ăn-cắp-vì-mục-đích-cao-thượng.

Dù vật bị đánh cắp là vô hình hay hữu hình, dù giá trị là lớn hay nhỏ, dù mục đích biện minh có là gì thì ăn cắp vẫn là ăn cắp. Quay lại chuyện cô bé ở Gia Lai lần nữa, bố mẹ cô phát biểu: “Chỉ có hai quyển truyện” Giáo viên phát biểu: “Cô cũng đã từng như em” Phó giám đốc sở GD-ĐT: “Ăn cắp văn hóa thì tha thứ được.” Vâng thay cho lời kết tôi thấy rất tội nghiệp không phải cho em mà là cho các nhà sách những nơi làm văn hóa, bởi đó là những nơi sẽ bị đánh cắp dài hạn.

 

Cht

Nền văn hóa của tự do

Featured image: Wiki Commons

 

Những cuộc công kích hiệu quả nhất nhằm chống lại quá trình toàn cầu hóa thường lại không phải là những cuộc công kích liên quan tới kinh tế học. Mà là những cuộc công kích về mặt xã hội, đạo đức, và trên hết là lĩnh vực văn hóa. Những luận cứ này từng nổi lên trong những vụ lộn xộn ở Seattle vào năm 1999 và lại vang lên ở Davos, ở Bangkok, và Prague trong thời gian gần đây. Họ nói như sau:

Sự biến mất của các đường biên giới quốc gia và giới quyền uy trên thế giới gắn bó với thương trường sẽ giáng những đòn chí tử vào nền văn hóa khu vực và quốc gia, vào truyền thống, thói quen, truyền thuyết và tập tục, tức là những thứ quyết định bản sắc văn hóa của đất nước và khu vực. Vì đa số các nước và các khu vực trên thế giới không đủ sức chống lại sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa từ các nước đã phát triển – mà cụ thể là từ siêu cường Mỹ – nước chắc chắn sẽ mở đường cho các công ty đa quốc gia cực kì lớn, nền văn hóa Bắc Mỹ cuối cùng sẽ buộc người ta phải chấp nhận nó, nó sẽ định ra tiêu chuẩn cho thế giới và xóa sổ sự đa dạng của những nền văn hóa khác nhau. Theo cách này, tất cả các dân tộc, chứ không chỉ các dân tộc nhỏ và yếu, sẽ đánh mất bản sắc, sẽ đánh mất tâm hồn mình và chỉ còn các thuộc địa trong thế kỉ XXI – những thây ma hay những hình nộm được làm theo những tiêu chuẩn văn hóa của chủ nghĩa thực dân mới, đấy là chủ nghĩa thực dân mà ngòai việc cai trị thế giới bằng đồng vốn, sức mạnh quân sự và kiến thức khoa học của nó, còn áp đặt cho người ta ngôn ngữ, cách tư duy, niềm tin, thú vui và ước mơ của nó nữa.

Cơn ác mộng hay là điều hoang tưởng theo nghĩa tiêu cực về một thế giới mà do toàn cầu hóa đang đánh mất dần sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, đang bị Mỹ xâm lược về mặt văn hóa không chỉ là địa hạt của các chính trị gia tả khuynh, luyến tiếc Marx, Mao hay Che Guevara. Cơn mê sảng về việc bị ngược đãi – do lòng thù hận người khổng lồ Bắc Mỹ mà ra – còn được thể hiện rõ ở cả những nước đã phát triển và những dân tộc có nền văn hóa cao, được cả các nhóm tả, trung dung và hữu khuynh chia sẻ nữa.

Khét tiếng nhất là nước Pháp, ở đây chúng ta thường thấy chính phủ tung ra những chiến dịch nhằm bảo vệ “bản sắc văn hóa Pháp”, một nền văn hóa được cho là đang bị quá trình toàn cầu hóa đe dọa. Một lọat các nhà tri thức và chính trị gia Pháp lo lắng về khả năng là cái vùng đất từng sinh ra Montaigne, Descartes, Racine, và Baudelaire – và đất nước đã có một thời gian dài từng là người đưa ra tiếng nói cuối cùng về thời trang, tư duy, nghệ thuật, ẩm thực và về tất cả những lĩnh vực tinh thần khác – có thể bị những McDonald’s, Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken, rock, rap, và phim ảnh của Hollywood, quần bò, bánh sneakers, áo T-shirts xâm lấn.

Nỗi sợ này đã dẫn tới, thí dụ, những khoản tài trợ rất lớn của Pháp cho ngành công nghiệp điện ảnh và đòi hỏi các rạp chiếu bóng phải chiếu một số lượng phim trong nước và hạn chế nhập phim Mỹ. Nỗi sợ này còn là lý do vì sao các chính quyền địa phương ban hành những quy định xử phạt nặng những băng rôn quảng cáo làm ô uế ngôn ngữ của Molière bằng những từ ngữ tiếng Anh. (Mặc dù, nếu nhìn vào vỉa hè các đường phố ở Paris thì thấy rằng những quy định như thế cũng không được người ta tôn trọng cho lắm). Đấy là lý do vì sao José Bové, một điền chủ có thái độ bài xích các món ăn tạp nham (ngụ ý thức ăn nhanh của Mỹ – ND) đã trở thành một nhân vật nổi tiếng ở Pháp. Và việc ông ta bị bắt giam ba tháng trong thời gian gần đây có vẻ như chỉ làm cho ông ta nổi tiếng thêm mà thôi.

Nhưng tôi tin rằng luận cứ chống toàn cầu hóa như thế là không thể chấp nhận được, chúng ta phải công nhận rằng nó ẩn chứa một sự thật không thể bác bỏ được. Trong thế kỷ này, cái thế giới chúng ta sống sẽ kém sinh động và không có nhiều màu sắc như là cái thế giới mà chúng ta đã bỏ lại phía sau. Những buổi lễ hội, đồ trang sức, phong tục, nghi lễ, nghi thức và tín ngưỡng, tức là những thứ đã tạo cho nhân lọai sự khác biệt mang màu sắc dân tộc và văn hóa dân gian, đang dần dần biến mất hoặc sẽ thu mình vào trong những nhóm thiểu số, trong khi phần lớn xã hội từ bỏ chúng và chấp nhận những thứ khác, phù hợp hơn với thời đại của chúng ta. Tất cả các nước trên thế giới đang trải qua quá trình này, nhanh chậm khác nhau, nhưng đấy không phải là do toàn cầu hóa. Mà đấy là do quá trình hiện đại hóa, tòan cầu hóa là kết quả chứ không phải là nguyên nhân.

Có thể khóc than, dĩ nhiên là như thế, rằng quá trình này đang diễn ra và có thể nuối tiếc về cuộc sống của một thời đã qua, mà với những tiện nghi của ngày hôm nay dường như đấy là cuộc sống vui vẻ, độc đáo và đầy màu sắc. Nhưng đây là quá trình không thể nào tránh được. Những chế độ toàn trị như Cuba hay Bắc Hàn sợ rằng mở cửa sẽ là tự sát, họ tìm cách bế quan tỏa cảng, ban hành đủ thứ quy định kiểu cấm đóan và chỉ trích hiện đại hóa. Nhưng ngay cả những nước đó cũng không ngăn cản được sự thẩm thấu một cách từ từ của quá trình hiện đại hóa và nó sẽ gặm nhấm dần cái gọi là bản sắc văn hóa của họ. Về lý thuyết, một đất nước có thể giữ được bản sắc của mình, nhưng với điều kiện là họ phải sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn, chấm dứt mọi trao đổi với các dân tộc khác và thực hiện một nền kinh tế tự cấp tự túc – giống như một vài bộ lạc ở Châu Phi hay những bộ lạc sống trong rừng già Amazon vậy. Bản sắc văn hóa dưới hình thức như thế sẽ đưa xã hội trở lại với cách sống của thời tiền sử.

Đúng là hiện đại hóa làm cho nhiều lối sống truyền thống không thể tồn tại được. Nhưng đồng thời nó lại mở ra cơ hội và làm cho cả xã hội tiến những bước quan trọng về phía trước. Đấy là lý do vì sao khi có cơ hội tự do lựa chọn quần chúng lại ủng hộ hiện đại hóa mà không hề có chút lưỡng lự nào, đôi khi họ còn phản đối điều mà các nhà lãnh đạo hay những người nệ cổ ủng hộ.

Những luận điệu nhằm chống lại toàn cầu hóa và ủng hộ bản sắc văn hóa tiết lộ cho ta thấy quan niệm tĩnh về văn hóa, một quan niệm không có cơ sở lịch sử. Nền văn hóa nào đã từng giữ mãi bản sắc và không thay đổi theo thời gian? Muốn tìm được những nền văn hóa như thế, chúng ta phải thâm nhập vào những cộng đồng tôn giáo ma thuật nguyên thủy và nhỏ bé, tức là những cộng đồng sống trong hang hốc, thờ thần sấm và thú dữ; và vì tính chất nguyên thủy như thế mà họ càng ngày càng dễ bị bóc lột và hủy diệt.

Tất cả những nền văn hóa khác, nhất là những nền văn hóa có quyền được gọi là hiện đại và sống động đều tiến hóa đến mức mà chúng chỉ còn là cái bóng mờ của nền văn hóa từng hiện diện cách đây vài ba thế hệ mà thôi. Sự tiến hóa này thể hiện rõ nhất ở các nước như Pháp, Tây Ban Nha và Anh, nơi đã diễn ra những thay đổi cực kì ngoạn mục và sâu sắc đến mức Marcel Proust, Federico García Lorca, hay Virginia Woolf khó mà có thể coi đây là những xã hội nơi họ đã ra đời – những xã hội mà tác phẩm của họ đã có đóng góp rất lớn trong việc làm cho chúng thay da đổi thịt.

Khái niệm “bản sắc văn hóa” là khái niệm nguy hiểm. Từ quan điểm xã hội thì đấy có thể chỉ là quan niệm nhân tạo và đáng ngờ, nhưng từ viễn cảnh chính trị thì nó đe dọa ngay thành tựu quý giá nhất của nhân loại: Quyền tự do. Tôi không phủ nhận rằng những người nói cùng một ngôn ngữ, sinh ra và sống trên cùng một vùng lãnh thổ, phải giải quyết những vấn đề giống nhau, theo những phong tục và tôn giáo như nhau, có những đặc điểm như nhau. Nhưng tính chất chung đó không bao giờ có thể xác định được đầy đủ đặc tính của từng người, nó chỉ xóa bỏ hoặc đẩy tất cả những tính chất và đặc điểm đơn nhất, tức là những đặc điểm làm người nọ khác biệt với người kia, xuống hàng thứ yếu mà thôi.

Quan niệm bản sắc, khi không được áp dụng cho từng cá nhân riêng biệt, là một quan niệm đã được đơn giản hóa và phi nhân tính, nó là sự trừu tượng hóa mang tính ý thức hệ và tinh thần tập thể của tất cả những gì là độc đáo và sáng tạo trong mỗi con người, của tất cả những gì không được áp đặt bởi di sản, nơi sinh hay áp lực xã hội. Mà sự thật là, bản sắc xuất phát từ khả năng của con người trong việc chống lại những ảnh hưởng đó và phản công lại với chúng bằng những hành động tự do theo sáng kiến của riêng mình.

Khái niệm “bản sắc tập thể” là khái niệm hư cấu mang tính ý thức hệ và là nền tảng của chủ nghĩa dân tộc. Nhiều nhà nhân chủng học và nhân loại học cho rằng ngay cả các cộng đồng cổ xưa nhất cũng không có bản sắc tập thể. Những thói quen và phong tục được nhiều người chia sẻ có thể là những điều tối cần thiết đối với việc bảo vệ cả nhóm người, nhưng sự cách biệt về khả năng sáng tạo và sáng kiến giữa các cá nhân – điều kiện để họ tách biệt khỏi nhóm – bao giờ cũng khá lớn, và khi các cá nhân được thử thách theo những khả năng của riêng họ thì những khác biệt của từng người sẽ lấn át những đặc tính chung, chứ không chỉ là những thành tố ngoại vi của tập thể nữa.

Toàn cầu hóa mở rộng một cách căn bản khả năng của tất cả các công dân trên hành tinh này, nó tạo điều kiện cho họ thông qua những hành động tự nguyện mà tạo dựng bản sắc văn hóa của riêng mình, phù hợp với sở thích và động cơ thầm kín của họ. Bây giờ người công dân không phải lúc nào cũng phải – như trong quá khứ và ở nhiều nơi hiện nay – tôn trọng bản sắc nhưng trên thực tế là làm cho họ mắc kẹt vào trại tập trung không thể nào thoát ra được – đấy là bản sắc được áp đặt lên mỗi người thông qua ngôn ngữ, dân tộc, nhà thờ, thói quen của vùng đất nơi họ ra đời. Theo nghĩa này thì ta phải hoan nghênh toàn cầu hóa vì nó mở rộng một cách đáng kể chân trời cho tự do cá nhân.

Hai lịch sử của cùng một lục địa

Châu Mỹ Latin có thể là thí dụ tốt nhất của những thủ đoạn và sự phi lý của việc cố tình thiết lập bản sắc tập thể. Cái gì có thể là bản sắc văn hóa của châu Mỹ Latin? Phải đưa những gì vào cái tập hợp những tín điều, phong tục, truyền thống, thói quen và những câu chuyện cổ tích để thể hiện rằng khu vực này có một tính cách duy nhất, không ai có và không chuyển nhượng được? Lịch sử của chúng ta được trui rèn trong những cuộc tranh luận trí tuệ – đôi khi quyết liệt – nhằm tìm cho ra đáp án cho câu hỏi đó. Đáp án nổi bật nhất là đáp án của những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm[i] đưa ra trong cuộc đấu trí với những người ủng hộ văn hóa bản địa và có ảnh hưởng trên khắp lục địa ngay từ những năm đầu thế kỉ XX.

Đối với những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm như José de la Riva Agüero, Victor Andrés Belaúnde, và Francisco García Calderón thì Mỹ Latin hình thành khi – nhờ quá trình phát hiện và chinh phục – nó gặp ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chấp nhận Thiên Chúa giáo và trở thành một phần của nền văn minh phương Tây. Những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm không coi thường những nền văn hóa tiền-Tây Ban Nha, nhưng họ coi đấy chỉ là một lớp chứ không phải là cốt lõi của hiện thực xã hội và lịch sử, phải nhờ ảnh hưởng của phương Tây mà nó mới hoàn thiện được bản chất và tính cách của mình.

Mặt khác, những người ủng hộ văn hóa bản địa lại cực lực bác bỏ những lợi ích mà có người cho rằng người châu Âu đã mang tới Mĩ Latin. Theo họ, bản sắc của chúng ta có nguồn gốc và linh hồn trong nền những nền văn hóa và văn minh tiền-Tây Ban Nha, quá trình phát triển và hiện đại hóa của nó đã bị kìm hãm bằng bạo lực và là đối tượng của kiểm duyệt, đàn áp và đẩy ra ngoài lề không chỉ trong suốt ba thế kỉ thuộc địa mà còn cả sau này, tức là sau khi có chế độ cộng hòa nữa. Theo những tư tưởng gia ủng hộ văn hóa bản địa thì “Biểu hiện Mỹ” (tên một tác phẩm của José Lezama Lima) nằm ở tất cả những biểu hiện mang tính văn hóa – từ ngôn ngữ bản xứ tới đức tin, nghi lễ, nghệ thuật và tập tục của nhân dân – nhằm chống lại sự áp chế về mặt văn hóa của phương Tây và còn tồn tại cho đến ngày nay.

Ông Luis E. Valcárcel, một nhà sử học nổi tiếng của Peru, thậm chí còn khẳng định rằng cần phải đốt bỏ tất cả các nhà thờ, các nhà tu và tượng đài theo phong cách kiến trúc thuộc địa vì chúng thể hiện tinh thần “bài-Peru”. Chúng là những kẻ giả hình, là sự phủ nhận bản sắc nguyên thủy của châu Mỹ, một bản sắc có nguồn gốc hoàn toàn bản địa. Và ông José María Arguedas, một trong những tiểu thuyết gia độc đáo nhất của Mỹ Latin đã xây dựng được – trong những câu chuyện cực kì duyên dáng và đầy tinh thần phản kháng – bản anh hùng ca về tàn tích của nền văn hóa Cuechua trong dãy núi Andes, mặc dù đã bị phương Tây chẹn họng và làm cho méo mó đi.

Những người thân Tây Ban Nha cũng như những người ủng hộ văn hóa bản địa đã viết được những tác phẩm lịch sử tuyệt vời và những cuốn tiểu thuyết đầy tinh thần sáng tạo, nhưng nếu xét theo bối cảnh của chúng ta ngày hôm nay thì cả hai học thuyết này đều là những học thuyết mang tính bè phái, giản lược và sai lầm. Không bên nào đủ sức nhồi nhét sự đa dạng đang gia tăng của châu Mỹ Latin vào những khuôn khổ ý thức hệ của họ, và cả hai bên đều sặc mùi phân biệt chủng tộc.

Hiện nay ai còn dám tuyên bố rằng chỉ có những cái mang “phong cách Tây Ban Nha” hoặc “da đỏ” mới có quyền đại diện hợp pháp cho Mỹ Latin? Thế mà hiện nay những cố gắng nhằm trui rèn và phân lập “bản sắc văn hóa” đặc thù của chúng ta vẫn được tiếp tục thực hiện với lòng nhiệt tình chính trị và tri thức đáng lẽ nên dành cho những công việc xứng đáng hơn. Tìm cách áp đặt bản sắc văn hóa cho quần chúng nhân dân cũng chẳng khác gì nhốt họ vào tù và không cho họ được hưởng một trong những quyền tự do quý giá nhất – đấy là quyền lựa chọn: Họ muốn thành người như thế nào, và bằng cách nào? Châu Mỹ Latin không có một mà có nhiều bản sắc văn hóa, không có bản sắc nào có thể tuyên bố là hợp pháp hơn hay trong sạch hơn những bản sắc khác.

Dĩ nhiên là Mỹ Latin bao hàm trong nó cả thế giới tiền-Tây Ban Nha lẫn các nền văn hóa của nó, những nền văn hóa đó còn giữ được sức mạnh xã hội đáng kể ở các nước như Mexico, Guatemala, và các nước vùng Andes. Nhưng Mỹ Latin còn là rất đông người nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, với truyền thống của năm thế kỉ ở sau lưng, sự hiện diện và hành động của họ có ý nghĩa quyết định trong việc định hình những đặc điểm hiện nay của châu lục. Và chả lẽ Mỹ Latin không phải là một phần của Châu Phi, châu lục đã đến bến bờ của chúng ta cùng với châu Âu hay sao?

Không phải sự hiện diện của châu Phi đã tạo ra làn da, âm nhạc, khí chất và xã hội của chúng ta hay sao? Những thành tố mang tính xã hội, sắc tộc và văn hóa làm nên Mỹ Latin đã liên kết chúng ta với hầu như tất cả các khu vực và các nền văn hóa trên thế giới. Chúng ta có nhiều bản sắc văn hóa đến nỗi tưởng như chẳng hề có một bản sắc nào hết. Thực tế đó – trái ngược với niềm tin của những người dân tộc chủ nghĩa – là tài sản quý báu nhất của chúng ta. Đấy cũng là phẩm chất tuyệt vời, làm cho chúng ta cảm thấy mình là những công dân đầy đủ tư cách trong thế giới toàn cầu hóa này.

Giọng điệu địa phương, lan tỏa toàn cầu

Sợ Mỹ hóa toàn bộ hành tinh là hoang tưởng mang tính ý thức hệ chứ không phải là thực tế. Dĩ nhiên là không nghi ngờ gì rằng cùng với quá trình toàn cầu hóa, tiếng Anh sẽ trở thành ngôn ngữ phổ biến trong thời đại của chúng ta, cũng như tiếng Latin trong thời Trung Cổ vậy. Nó sẽ còn tiếp tục vươn lên vì đấy là phương tiện không thể thiếu được trong giao dịch và thông tin quốc tế. Nhưng điều đó có nghĩa là tiếng Anh nhất thiết sẽ phát triển, sẽ gây thiệt hại cho các ngôn ngữ lớn khác hay không? Hoàn toàn không. Trên thực tế, ngược lại mới đúng. Sự xóa nhòa các đường biên giới và thế giới ngày càng tương thuộc lẫn nhau hơn đã và đang khuyến khích các thế hệ trẻ học và đồng hóa với những nền văn hóa khác, đấy không chỉ là sở thích mà còn là điều cần thiết, vì nói được vài thứ tiếng và thích ứng một cách dễ dàng trong những nền văn hóa khác nhau đã trở thành yếu tố quyết định cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp.

Hãy xem xét trường hợp tiếng Tây Ban Nha. Nửa thế kỉ trước những người nói tiếng Tây Ban Nha là cộng đồng hướng nội, chúng ta cho rằng mình chẳng có mấy cơ hội ở bên ngoài biên giới ngôn ngữ truyền thống. Hiện nay tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ năng động và có nhiều người dùng, nó đã chiếm được những thành tựu ban đầu hay thậm chí những vùng đất rộng lớn trên cả năm châu lục. Sự kiện là có từ hai mươi lăm đến ba mươi triệu người nói tiếng Tây Ban Nha ở Mỹ là nguyên nhân vì sao hai ứng viên tổng thống Mỹ gần đây – thống đốc Texas là George W. Bush và phó tổng thống Al Gore – tiến hành vận động tranh cử không chỉ bằng tiếng Anh mà còn dùng cả tiếng Tây Ban Nha nữa.

Có bao nhiêu triệu thanh niên nam nữ trên khắp hoàn cầu đã và đang phản ứng lại những thách thức của tòan cầu hóa bằng cách học tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Quan thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Nga hay tiếng Pháp? May thay, xu hướng này sẽ gia tăng trong những năm sắp tới. Đấy là lý do vì sao cách bảo vệ tốt nhất nền văn hóa và ngôn ngữ của chúng ta là nỗ lực quảng bá chúng trên khắp thế giới chứ không phải cứ vờ vịt tìm cách làm cho nó miễn nhiễm với sự đe dọa của tiếng Anh. Những người đưa ra những biện pháp như thế là những người nói rất nhiều về văn hóa, nhưng đấy là những kẻ dốt nát, họ đang che dấu ý định thật sự của mình: Chủ nghĩa dân tộc. Đấy không phải là họ đang tranh luận về những xu hướng phổ quát của văn hóa, đấy là những cách nhìn thiển cận, lầm lẫn, biệt lập, mà những người có quan điểm dân tộc chủ nghĩa tìm các áp đặt lên đời sống văn hóa.

Bài học tuyệt vời nhất mà văn hóa dạy cho chúng ta là nó không cần những quan chức hay các chính trị viên bảo vệ, cũng không cần che chắn sau song sắt hay dùng lực lượng hải quan để cách ly nhằm giữ cho nó sống và đơm hoa kết trái; ngược lại, những cố gắng như thế chỉ làm cho nó khô kiệt hoặc trở thành tầm thường mà thôi. Văn hóa phải sống một cách tự do, phải thường xuyên va chạm với những nền văn hóa khác. Điều đó sẽ làm cho nó luôn luôn đổi mới, luôn luôn tái tạo, làm cho nó tiến hóa và thích ứng với dòng chảy liên tục của cuộc đời. Ngày xưa tiếng Latin đã không giết chết tiếng Hy Lạp; ngươc lại, sự độc đáo và chiều sâu trí tuệ của nền văn hóa Hy Lạp đã thẩm thấu vào nền văn minh La Mã và nhờ nó mà những bản trường ca của Homer và triết lý của Plato và Aristotle mới vươn ra khắp thế giới. Toàn cầu hóa không xóa bỏ các nền văn hóa khu vực, trong không gian bao la của cả hòan vũ, tất cả những gì có giá trị và đáng sống trong những nền văn hóa khu vực sẽ tìm thấy những mảnh đất màu mỡ để có thể đơm hoa kết trái.

Điều đó đã diễn ra trên khắp châu Âu. Đặc biệt đáng ghi nhận là ở Tây Ban Nha, ở đây những nền văn hóa địa phương đang tái xuất hiện với một sức mạnh đặc biệt. Dưới chế độ độc tài của tướng Francisco Franco, những nền văn hóa địa phương bị đàn áp và buộc phải sống trong vòng bí mật. Nhưng cùng với sự trở về của chế độ cộng hòa, sự đa dạng của nền văn hóa đã được cởi trói và được tự do phát triển. Ở những khu vực tự trị, văn hóa địa phương càng phát triển mạnh, đặc biệt là ở Catalonia, Galicia, và xứ Basque; các khu vực khác ở Tây Ban Nha cũng đều như thế cả. Nhưng dĩ nhiên là chúng ta không được đánh đồng sự hồi sinh của văn hóa khu vực – một hiện tượng tích cực và làm cho đời sống ngày càng phong phú thêm – với chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc sẽ tạo ra những mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền văn hóa của tự do.

Trong tác phẩm nổi tiếng: Góp phần định nghĩa văn hóa (Notes Towards the Definition of Culture) xuất bản năm 1948, T.S. Eliot đã dự đoán rằng trong tương lai, nhân loại sẽ được chứng kiến sự phục hưng của những nền văn hóa địa phương và khu vực. Lúc đó, đấy là một lời tiên đoán quá táo bạo. Nhưng toàn cầu hóa có vẻ như sẽ làm cho nó trở thành hiện thực trong thế kỉ XXI và chúng ta nên vui mừng vì chuyện đó. Sự phục sinh của những nền văn hóa nhỏ bé, mang tính khu vực sẽ trả lại cho nhân lọai sự đa dạng trong cách thể hiện và hành vi mà cuối thế kỉ XVII và đặc biệt là trong thế kỉ XIX các quốc gia-dân tộc đã từng hủy bỏ nhằm tạo ra cái gọi là bản sắc văn hóa. (Sự kiện này đã dễ dàng bị lãng quên hay chúng ta tìm cách lãng quên vì những ẩn ý mang tính đạo đức sâu sắc của nó).

Các nền văn hóa dân tộc thường được trui rèn trong máu lửa, nó cấm đoán giảng dạy và xuất bản các tác phẩm viết bằng thổ ngữ hay cấm đoán thực hành các tôn giáo và tục lệ khác biệt với những tôn giáo và tục lệ được quốc gia-dân tộc coi là lý tưởng. Bằng cách đó, các quốc gia-dân tộc tại nhiều nước trên thế giới đã áp đặt nền văn hóa ưu trội lên các nền văn hóa địa phương, văn hóa địa phương bị đàn áp và bị loại bỏ khỏi đời sống chính thức. Nhưng, trái ngược với những cảnh báo của những người sợ toàn cầu hóa, không dễ gì xóa bỏ một nền văn hóa – dù nó có nhỏ đến đâu – nếu đằng sau nó là một truyền thống phong phú và có những người thực hành nó, dù là thực hành một cách bí mật. Và hôm nay, nhờ có sự suy yếu của quốc gia-dân tộc, chúng ta mới được nhìn thấy sự tái xuất hiện của những nền văn hóa đã từng bị lãng quên, bị đẩy ra bên lề và vị bóp nghẹt và thể hiện một đời sống năng động trong sự hài hòa vĩ đại của hành tinh toàn cầu hóa này.

**************

Tác giả: Mario Vargas Llosa

Dịch giả: Phạm Nguyên Trường

******************

[themify_box style=”blue info”]
Mario Vargas Llosa là tiểu thuyết gia và trí thức nổi tiếng thế giới. Năm 2010 ông được trao giải Nobel văn chương vì “những thành tựu trong việc mô tả cơ cấu của quyền lực và những hình tượng sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất bại của cá nhân con người”. Ông là tác giả của những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng như: Bữa tiệc của con dê (The Feast of the Goat), Cuộc chiến của ngày tận thế (The War of the End of the World), Cô Julia và người viết kịch bản (Aunt Julia and the Scriptwriter), Cô gái không ra gì (The Bad Girl), Cuộc đời thực của Alejandro Mayta (The Real Life of Alejandro Mayta), và nhiều cuốn khác.[/themify_box]