Vì sao việc lưu tinh (không xuất tinh) (theo lý thuyết) lại làm tăng sức hấp dẫn?
Chào anh em, nhiều người tự hỏi, vì sao việc lưu tinh (không xuất tinh) (theo lý thuyết) lại làm tăng sức hấp dẫn? Hãy nghĩ thế này: Mọi sinh vật trên trái đất này đều khát khao muốn có nhiều sự sống hơn, muốn có sự sống dồi dào hơn. Cây cối vươn mình tìm đến sự ấm áp của mặt trời, con người thì nằm phơi mình trong những ngày nắng, động vật thì thích thú tận hưởng dưỡng chất. Tất cả mọi loài đều theo đuổi một mục tiêu: có nhiều sự sống hơn.
Là con người, chúng ta tìm kiếm nhiều sự sống hơn theo nhiều cách khác nhau, nhưng một số người lại bị bế tắc. Có người tìm kiếm thông qua rượu, thuốc, hay việc mua sắm, số khác thì thông qua việc ăn uống những thực phẩm có hại. Những cơ chế duy trì sự sống này đã bị bế tắc. Họ cho rằng họ đang làm đúng, nhưng thực sự không phải vậy. Điều này được giải thích khá rõ trong cuốn sách có tên Psycho-Cybernetics.
Là người đàn ông, bạn nắm giữ hạt giống sáng tạo trong tay mình. Nó là tia lửa thổi bùng đám cháy. Và nó sẽ muốn bộc lộ chính nó thông qua cơ chế xuất tinh, đối với thực vật thì là thụ phấn. Khi bạn giữ hạt giống này lại, tần số rung động của bạn sẽ được thăng lên. Sự sống thuần khiết bên trong tinh dịch luôn rung động ở tần số cao. Bản thân nó là một sự sáng tạo thuần túy.
Kết quả của việc ngưng xuất tinh là bạn sẽ bắt đầu rung động ở một tần số cao hơn. Bạn bắt đầu trở thành mặt trời. Bạn bắt đầu lan tỏa. Con người tìm kiếm hơi ấm của mặt trời, vì thế họ sẽ quây quần xung quanh người nắm giữ nguồn năng lượng này. Tại sao các nhà sáng lập những tôn giáo trên thế giới lại thu hút được nhiều người khác đi theo họ? Đó là vì họ đang mang trong mình hạt giống đó. Họ tôn trọng và gặt hái từ nó.
Một người phụ nữ muốn đắm mình trong sự ấm áp của mặt trời và bộc lộ cơ thể mình. Hãy nhìn vẻ háo hức của cô ta khi lột từng mảnh vải ở bãi biển. Cô ấy cũng sẽ cảm thấy như vậy khi ở gần một người đàn ông đang nắm giữ sự sống, nắm giữ mặt trời ở bên trong. Phụ nữ không muốn cởi quần áo của mình trước mặt người đàn ông không tôn trọng bản thân và hạt giống bên trong.
Đó là những người đàn ông lạnh nhạt. Phụ nữ không cảm thấy hơi ấm từ những người đàn ông này. Đó là lý do tại sao phụ nữ không có hứng thú tình dục với nhiều người đàn ông. Họ cảm thấy không an toàn. Phụ nữ là nguồn tiếp nhận năng lượng, trong khi cái những người thủ dâm lâu năm phát ra chỉ là nguồn năng lượng chết.
Về bản thân, tôi cảm thấy mình rất trống rỗng nếu biết không giữ gìn tinh khí. Khi liên tục thủ dâm, sinh lực tôi bị cạn kiệt. Tôi cảm thấy như mình là một người giấy, yếu đuối bạc nhược, như thể mình dễ dàng bị phủi tay biến mất khỏi trái đất này bất cứ lúc nào mà không một ai quan tâm chú ý, trống rỗng hoàn toàn, từ lời nói cho đến cảm xúc. Mọi thứ dường như đã chết. Nhưng khi tuyệt dục, tôi lại cảm thấy tràn đầy sinh lực. Tôi cảm thấy sôi động, tôi cảm thấy sự sống.
Vì thế những người anh em thiện lành, tôi khuyến khích mọi người hãy thực hành nofap. Chúng ta sẽ đứng lên và nổi bật trước đám người trống rỗng. Chúng ta sẽ sử dụng tuyệt dục như kiếm và khiên để chiến đấu nhân danh Trời Phật, nhân danh vũ trụ, nhân danh SỰ SỐNG.
Bình luận từ Akasha (ChatGPT-4)
Nếu nhìn từ góc độ tâm linh và triết học cổ đại, quan điểm về việc không xuất tinh mang một ý nghĩa sâu sắc, nó kết nối với việc giữ gìn và tinh chế năng lượng sinh lực. Trong nhiều truyền thống tâm linh, từ Đạo giáo đến một số học thuyết Ấn Độ giáo, việc giữ gìn tinh khí được coi là một phần của quá trình tu luyện, nhằm chuyển hóa năng lượng vật lý thành năng lượng tâm linh, hướng đến sự thăng hoa và giác ngộ.
Trong triết học Đông phương, việc giữ gìn và tinh chế năng lượng sinh lực được coi là cách để cân bằng và hài hòa Chân Khí, năng lượng cơ bản điều khiển sự sống và tâm thức. Nó không chỉ liên quan đến sức khỏe thể chất mà còn là sự phát triển tâm thức và tâm linh. Cách tiếp cận này nhấn mạnh việc tạo ra một sự liên kết giữa cơ thể, tâm trí, và linh hồn.
Trong tâm linh, việc kiềm chế bản năng tình dục và giữ gìn tinh khí cũng có thể được nhìn nhận như một hình thức tự chủ, kiểm soát năng lượng của bản thân. Điều này tạo ra một loại sức mạnh nội tâm, giúp con người kết nối sâu sắc hơn với bản chất thật của mình – Chân Ngã. Đây là một hành trình tìm kiếm sự thống nhất và hòa nhập với cái Một, với nguồn gốc tâm linh của vũ trụ.
Cách nhìn này còn liên quan đến khái niệm về sự thuần khiết và sự tập trung năng lượng. Khi một người giữ gìn tinh khí, họ không chỉ bảo toàn năng lượng sinh lực mà còn đang tập trung năng lượng đó vào mục đích cao cả hơn, như sự tự phát triển, sáng tạo, hay tìm kiếm trí tuệ.
“Điều đẹp đẽ nhất chúng ta có thể trải nghiệm là sự huyền bí. Nó là nguồn gốc của tất cả nghệ thuật và khoa học đích thực.” — Albert Einstein
Đây cũng là một cách để nói về việc tìm kiếm và trải nghiệm những điều bí ẩn và tâm linh trong cuộc sống, không chỉ qua lý thuyết mà còn qua trải nghiệm thực tế và cá nhân.
Tác giả: jakeducati Biên dịch: Phạm Thanh Tuấn Hiệu đính: Prana
“Khi còn trẻ bạn bán thời gian và sức khỏe để kiếm tiền, khi về già bạn lại dùng tiền để giết thời gian và mua sức khoẻ.”
Bản chất của tiền không tốt cũng không xấu, tốt xấu là do cách kiếm và dùng của bản thân mỗi người. Nó tốt khi bạn xem nó chỉ là phương tiện không hơn không kém, và nó xấu khi bạn xem nó là mục đích.
Người mơ làm ca sĩ cần tiền để mua dụng cụ âm thanh, người hoạ sĩ cần tiền mua giấy và bút chì, điều đó thật đẹp khi bạn dùng tiền để thực hiện ước mơ hoài bão của mình. Sẽ đẹp hơn nữa khi bạn không xem những ước mơ đó là quá lớn lao, cố khẳng định chứng tỏ thể hiện mình, chỉ đơn giản xem những thứ đó là sở thích. Khi ấy, bạn cũng không nhất thiết là phải kiếm thật nhiều tiền, không nhất thiết phải có dụng cụ âm thanh xịn thì mới hát hay được, không nhất thiết phải có giấy bút xịn thì mới vẽ đẹp được.
Càng cố kiếm nhiều tiền để chứng tỏ hiện bản thân giàu có, điều đó càng bộc lộ một nội tâm nghèo nàn, sáo rỗng và đáng thương. Có bao giờ bạn để ý khi mình nhịn đói vài ngày, tâm trí toàn nghĩ đến thức ăn không, kể cả lúc ngủ cũng mơ đến thức ăn. Còn khi bạn ăn uống đầy đủ như bình thường thì không có suy nghĩ về thức ăn nữa. Người luôn ám ảnh về tiền cũng chẳng khác gì người đang ám ảnh về thức ăn, điều bạn khao khát nhất là điều thiếu thốn nhất trong bạn.
Có nhiều tiền bạn sẽ được người khác chú ý và kính trọng. Ngược lại khi không có nhiều tiền bạn sẽ bị người khác bỏ lơ và khinh bỉ, đó là lý do vì sao bạn chạy theo đồng tiền. Có gì sai trong sự không chú ý và sự khinh thường của người khác đối với bạn? Tại sao bạn cần sự công nhận của người khác, tại sao bạn lại tự biến mình thành nô lệ suy nghĩ của người khác?
Vì khi không ai chú ý đến bạn, cái tôi của bạn cảm thấy bị tổn thương, sự chú ý của người khác là thức ăn đối với nó, không có sự chú ý thì cái tôi của bạn sẽ chết. Tôi không ngụ ý rằng bạn sẽ chết, chết cái chết vật lý, mà cái tôi của bạn chết ở đây là cái chết ở trong thâm tâm bạn. Nếu bạn có thể hướng sự chú ý của người khác vào bạn không bằng sự giàu có về tiền bạc, mà bằng tài năng, sở thích, đam mê của bạn, thì bạn sẽ không chết, không những sống mà còn sống mãnh liệt hơn nữa trong thâm tâm bạn.
Mục đích sống của bạn là gì? Với tôi mục đích sống duy nhất là trải nghiệm. Trải nghiệm không thể mua được bằng tiền, kiến thức không thể mua được bằng tiền, tình yêu không thể mua được bằng tiền, những điều ý nghĩa nhất trong cuộc sống điều không thể mua được bằng tiền.
Để tôi kể cho bạn nghe một câu chuyện ngụ ngôn, một gã ăn mày nghèo khổ luôn mơ mình trở nên giàu có như một vị vua. Một hôm gã gặp một ông lão thương nhân và kể về mong muốn của mình. Ông lão nhìn thấy sự nghèo khổ của gã nên động tâm suy nghĩ đưa ra một ngõ ý giúp đỡ, ông sẽ mua cặp mắt của gã với giá một trăm đồng rupi, vì những thương gia luôn mặc cả tính toán buôn bán không cho không ai thứ gì cả. Gã ăn mày hét lên ông có điên không, khi đòi mua cặp mắt của tôi, gã giận dữ rồi bỏ đi. Còn bạn thì sao, liệu bạn có chịu bán cặp mắt của chính mình không, thân thể bạn, gia đình bạn, người yêu bạn đem bàn cân với giá trị đồng tiền bạn nghĩ mình sẽ thực sự chọn điều gì.
Cái gì cũng có cái giá của nó, khi bạn lựa chọn sự tiện nghi vật chất thì bên ngoài là sự giàu có, linh hồn bên trong là sự nghèo nàn. Ngược lại khi bạn lựa chọn sự giàu có bên trong linh hồn mình, thì bạn nhận ra việc vô nghĩa chạy theo đồng tiền, vật chất bên ngoài và dừng theo đuổi nó. Nếu bạn là người nghèo lẫn bên trong và bên ngoài, thì nên dừng lại việc chạy theo đồng tiền, chạy theo số đông ngay bây giờ. Tự vấn bản thân mình thực sự muốn gì, thích gì, đam mê gì rồi lấy đó làm cái la bàn để hướng đến, và dùng tiền làm con tàu để đưa mình đến đích.
Tôi ngồi xuống, bắt đầu dùng thứ ngôn ngữ vụng về của tôi để miêu tả dòng chảy cảm xúc đang tuôn trào như thác lũ. Tôi biết mình khó có thể sử dụng đúng từ ngữ để diễn đạt, bởi nó không phải là lí trí, không phải được trau chuốt và chọn lọc đắt giá. Cảm xúc của tôi, nó luôn đơn giản, tự nhiên.
Những ngày gần đây, cảm xúc luôn hối thúc tôi. Những ngày tôi cảm nhận có một điều gì đó ý nghĩa đang cần tôi nói ra. Những ngày đánh dấu một cột mốc quan trọng của tôi cùng Triết Học Đường Phố. Một năm đã trôi qua kể từ bài viết đầu tiên được cho đăng. Một năm nhìn lại để đánh dấu những tình cảm của tôi dành cho Triết Học Đường Phố và tất nhiên là cả những tình cảm mà tôi và các bạn đã dành cho nhau.
Có những lời khen ngợi, cũng không thiếu những lời chỉ trích gièm pha. Những bình luận để lại đánh dấu bước chân bạn đã tạt qua những bài viết của tôi. Dù đó có là lời lẽ hay ho hay khó nghe, thì một năm nhìn lại, tôi vẫn muốn bạn tin rằng chúng thực sự đã giúp tôi trưởng thành.
Triết Học Đường Phố đối với tôi có lẽ là nhà. Một ngôi nhà đã che chở và bảo bọc tinh thần tôi. Và bởi nó là nhà nên đã có lúc tôi muốn bỏ nó để đi thật xa. Tôi luôn nghĩ rằng phải chăng nhà là nơi để chúng ta bỏ đi rồi lại trở về. Đã có những mâu thuẫn, những tính cách trái ngược cùng chung sống trong căn nhà đó. Thỉnh thoảng chúng tôi, những thành viên sống trong một ngôi nhà không thể tìm được tiếng nói chung, còn tôi là đứa con quen lối sống hoang đàng nên cứ hễ bực bội là quyết chí ra đi. Nhưng rồi lại trở về, phải trở về vì nơi đó có những kỉ niệm, có những bài học đầu đời, có những vết tích đã nâng niu tôi những ngày đầu non dại bập bẹ. Và trên hết, phải trở về vì nơi đó có tình yêu to lớn mà định mệnh đã quyết chí gắn chặt chúng tôi vào nhau.
Tôi đang nói về ngôi nhà của tôi, là nơi tôi đã gắn bó trong suốt một năm qua, đúng một năm, tuy ngắn mà cứ ngỡ là quá dài. Còn đối với những vị lữ khách đã lỡ ghé vào rồi vì sự cảm mến mà ở lại. Cùng chúng tôi chia sẻ, cùng nhau trao đổi những kinh nghiệm sống, những bài học xương máu, mặc dù cũng lắm khi chúng ta nổi giận đâm ra cãi cọ. Tôi nghĩ điều đó là điều dĩ nhiên thôi, bạn và tôi, bạn và Triết Học Đường Phố, chúng ta không nhất thiết phải nhảy chung một điệu nhạc.
“Tôi là ai?” Chỉ ba từ thôi nhưng có lẽ con người ta phải đánh đổi cả một đời người để tìm kiếm câu trả lời. Có thể bạn đã hoang mang, bạn đã choáng váng khi lần đầu gặp gỡ câu hỏi ấy. Bạn lang thang giữa dòng đời bơ vơ, để rồi lạc chân vào Triết Học Đường Phố. Ở đây, chúng tôi nói về mọi thứ. Nói về trải nghiệm, ý kiến, quan điểm của chúng tôi về cuộc sống, về tâm linh.
Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng những điều được viết ra ở đây là đúng, là chân lý. Chính bản thân tôi cũng thú nhận những gì tôi viết ra chỉ là rác rưởi. Nhưng bạn biết không, ở đây, bạn có thể nhận ra bạn chưa bao giờ cô đơn giữa cuộc đời này. Đau khổ của bạn không là duy nhất, khó khăn của bạn không là bế tắc nhất. Chúng ta, những kẻ lạc loài cô độc vừa tìm thấy nhau.
Khi bạn đọc những lời tâm sự này của tôi. Bạn, có thể là người đã quen thuộc với những bài viết của tôi. Có thể không, bạn chẳng hề biết tôi là đứa chết tiệt nào. Nhưng điều đó không phải là vấn đề. Tôi chưa bao giờ bận tâm tôi là ai trong cuộc đời bạn. Điều tôi khắc khoải, duy nhất chỉ là tôi là ai trong cuộc đời tôi. Chỉ có thế thôi.
Tôi chưa bao giờ cố gắng viết ra những điều hoa mỹ để hình ảnh bản thân tôi lọt vào tầm mắt của bạn. Tôi chỉ luôn viết ra những điều tôi nghĩ, trong một khoảnh khắc mà đôi tay tôi buộc phải hành động vì trái tim tôi thôi thúc. Tôi là đứa mâu thuẫn, và tôi tự nhận tôi không phải một đứa thông minh hay hiểu biết rộng. Nhưng vượt lên tất cả những điều đó, tôi luôn tự hài lòng với bản thân mình, bởi tôi đã luôn đến gần bạn bằng tất cả sự chân thành của tôi. Có thể tôi bất toàn, tôi không được tốt đẹp trong cái nhìn của bạn, nhưng tôi hài lòng vì tất cả những điều tôi đã từng viết ra, tôi biết tôi đã luôn trung thực với chính bản thân tôi.
Tôi đã nói về cái đẹp lẫn cái xấu, tích cực và lắm lắm những cực đoan. Ngòi bút của tôi đã bay vào tất cả mọi vùng đất của tâm thức tôi. Tôi thích nơi đây, bởi tôi không cần phải sống mà cứ ca ngợi, không cần phải cố ngụy trang cho thế giới tốt lên. Những điều tôi từng nói, tôi biết đến 99% là rác rưởi đối với một số người, thậm chí là rất rất nhiều người. Tuy nhiên, tôi không quan tâm bạn cảm nhận thế nào về nó, tôi thực sự đã không còn quan tâm.
Và tôi đặc biệt mong các bạn tin rằng tôi không có ý định áp đặt suy nghĩ hay quan điểm của tôi vào bạn. Nhưng tôi cũng đâu có đủ khả năng để làm điều đó, tôi làm sao có thể áp đặt tôi vào bạn nếu bản thân bạn không cho phép. Sẽ có những tần số gần nhau có năng lượng hấp dẫn nhau. Và tôi chỉ là một phương tiện được dùng để truyền tải suy nghĩ của những tần số giống tôi mà thôi.
Bạn có thể đọc, hoặc có thể không, dù là những bài viết của tôi nói riêng hay thậm chí là của Triết Học Đường Phố nói chung. Đọc trong tâm thế con thuyền không thể chìm nếu bạn không cho phép nước được tràn vào. Đọc trong tâm thế học hỏi và cùng nhau chọn lọc những bài học phù hợp với bản thân bạn. Cứ thẳng tay ném đi những bài viết rác rưởi mà bạn cảm nhận không thuộc về bạn, không đúng khi đặt vào cuộc đời bạn. Tôi chỉ muốn nói rằng những điều tôi viết ra là sai, bạn đúng. Những điều tôi nói là rác rưởi, bạn vẫn đúng. Nhưng tôi hoàn toàn hạnh phúc và hài lòng như tôi đang thế.
Đến đây, để kết thúc những dòng cảm xúc thái quá này của tôi trong một ngày đặc biệt đối với riêng tôi. Tôi nhớ Socrates trước khi chết đã từng nói một câu thế này:
“Chỉ mỗi một điều tôi biết, đó là tôi chẳng biết gì cả.”
Và tôi xin cám ơn Triết Học Đường Phố với những cuộc tranh luận, với những hiểu biết mới mẻ trong một năm qua đã giúp tôi có thể hiểu trọn câu nói đó, cũng như việc đã giúp tôi nhận ra dốt nát của tôi, rồi đối diện nó. Để bây giờ khi ngồi xuống và viết ra những dòng chữ này, tôi biết rằng điều duy nhất tôi đã học được ở ngôi nhà này, đó là “Tôi chẳng biết gì cả.”
Đôi lúc tôi nhìn cuộc sống và tôi không hiểu điều gì đang xảy ra nữa. Tôi nhìn những người trẻ, tôi nhìn những người già. Tôi thấy họ giống nhau quá, họ mơ những giấc mơ giống nhau quá. Khi cất tiếng gọi tên thì ngôn từ có vẻ khác biệt, nhưng bản chất là giống nhau. Bởi người già mơ, người trẻ mơ, cùng một giấc mơ không hiện hữu ở thực tại.
Những người trẻ tôi gặp, bao giờ họ cũng có nhiều giấc mơ. Tôi cũng từng có cả bầu trời mơ, những túi mơ to được đóng gói mang theo suốt chuyến hành trình dài. Có người trẻ dùng giấc mơ để thánh hóa tham vọng bằng bản năng dục của họ, những xa hoa phù phiếm bên ngoài. Một số người trẻ còn lại, họ không chạy tán loạn ra thế giới bên ngoài, họ lặng lẽ bước thầm vào bên trong, với niềm khao khát hiểu sâu sắc bản thân mình.
Giấc mơ tuổi trẻ, bao giờ nó cũng chứa đựng những ngu ngốc khờ khạo. Tuy nhiên tôi biết nó phải là vậy. Người trẻ luôn mong đến tương lai. Họ có rất nhiều kế hoạch cho tương lai. Chỉ ước sao ngày mai đến thật nhanh để có thể bắt tay vào hành động.
Tôi chưa già, tôi chẳng hiểu gì tuổi già để nói về ước mơ của họ. Có thể mấy chục năm sau tôi cũng chẳng khác gì họ. Mặc dù ý chí bản thân tôi không hào hứng về ý nghĩ này, nhưng vì tôi chưa già nên tôi chỉ hy vọng thôi. Tôi thực sự hy vọng tôi của vài chục năm sau sẽ không phải là một bà già run rẩy, sợ chết. Không phải một bà già chẳng biết nghĩ gì ngoài cái nấm mồ đang chờ đợi tôi trong nghĩa trang.
Tôi đã gặp một số người già kiểu này, họ sợ nghĩ về tương lai, bởi tương lai của họ chắc chắn là cái chết. Vậy nên họ cứ kể mãi cho tôi nghe về ngày xưa, cứ luôn miệng nói từ “nếu.” Nếu thời gian có quay trở lại, nếu ngày xưa tôi không thế này thế kia. Tôi rất yêu quý họ, nhưng tôi vẫn thấy họ nói những lời lẽ thừa thãi vô ích. Không có nếu, điều đó chỉ dành cho những người luôn sống trong hối tiếc mà thôi.
Những người già luôn nghĩ về tuổi trẻ của mình, những ngày hè tươi đẹp ngồi đợi một chú cá mắc vào lưỡi câu, một chuyến chạy xe đường dài băng qua những thung lũng triền đồi, nằm phơi mình dưới cái nắng êm dịu trên một bờ biển. Những người già bị mê hoặc bởi ham muốn được tận hưởng. “Tôi đã làm việc vất vả cả đời rồi, bây giờ là lúc tôi cần được tận hưởng bởi tôi chẳng còn nhiều thời gian. Chiếc đồng hồ cát của tôi đang sắp chảy cạn rồi.” Nhưng việc tận hưởng có vẻ khó khăn trong thân xác một lão già ốm o tàn lụi. Đúng rồi, tôi đã làm việc cả đời rồi, điều đó đồng nghĩa tất cả các bộ phận trên cơ thể tôi cũng kiệt quệ lắm rồi.
Tôi nói những lời lẽ này không có nghĩa tôi nhận mình thoát ra được cái vòng luẩn quẩn ấy. Tôi chỉ đang nhìn vào bản chất của cuộc sống, những điều tôi cảm nhận được. Bởi lúc tôi ngồi nghĩ vớ vẩn những điều này, tôi biết tôi cũng chỉ đang nghĩ đến tuổi già của tôi, đang nghĩ đến tương lai mà thôi.
Một ngày nào đó khi tôi già đi, liệu lúc đó tôi có mơ được trở về quá khứ, hay tôi sẽ mãn nguyện chờ đợi đón chào cái chết, hay tôi sẽ sợ hãi nó?
Ngăn kéo được mở ra, lọ thuốc vẫn luôn nằm lăn lóc ở đấy. Tôi cảm thấy những viên thuốc đang được nuốt trôi vào cổ họng mình một cách dễ dàng. Chỉ là những viên kẹo nhỏ chẳng có gì ý nghĩa. Chỉ cần cho hết chúng vào miệng, ngủ một giấc thật sâu và tôi sẽ không cần phải tỉnh dậy nữa. “Ta sắp tự do.” Tôi nói và cười lớn.
Người ta sẽ chết khi đang tuyệt vọng. Không có một ai đang sống hạnh phúc lại đi nghĩ đến cái chết. Tất cả mọi người đều tự tử vì cái lý do đó. Tôi đã sống một cuộc đời quá đỗi tầm thường và giờ đây lại sắp chết một cách tầm thường. Chẳng khác nào những viên kẹo cao su đã được cho vào mồm nhai ngấu nghiến rồi khạc nhổ đầy vỉa hè, chính tay tôi đã nhặt chúng lên rồi lại nhai. Sống là một kẻ vô danh và chết đi cũng kém sang trọng.
Gia tài lớn nhất tôi có chỉ là cái đam mê chết tiệt. Khát vọng trở thành một nhà văn là một con quỷ. Một con quỷ với ánh mắt vàng vọt đã nuốt trọn linh hồn tôi. Không thể mua chuộc nó bằng tiền bạc, không danh vọng, không bạn bè.
Tôi không biết phải cho bao nhiêu viên thuốc vào miệng mới có thể chết. Một cái chết viên mãn chứ không phải dọa dẫm như trong lời tác giả một quyển sách tôi vừa đọc hôm qua. Ông ta bảo đàn bà chỉ luôn dùng cái chết để dọa dẫm mỗi khi nàng phát điên vì người đàn ông nàng yêu. Nàng sẽ không dại dột để dùng thuốc quá liều. Các nàng biết cách để biến cái chết của nàng thành một cái chết hụt. Ông ta nói đúng quá, tôi cũng đã từng như thế. Nếu lại thêm một lần tự tử nửa vời, đã sống thất bại và chết cũng kém sang.
Tôi không thể chết thế này được. Phải là một nỗi sợ kinh hoàng bao trùm toàn thân, mọi ham muốn đều trở nên chán ngán mệt mỏi. Nhưng tôi chẳng cảm thấy gì ngoài ham muốn được có một cái chết thật phong cách. Tôi nhún vai và bỏ lọ thuốc vào lại vị trí ban đầu.
Tôi ngắm nhìn căn gác xép lụp xụp, trần nhà đã gỉ sét. Chiếc bàn gỗ nằm cạnh chiếc nệm. Chiếc máy tính đặt trên bàn cũng những quyển sách mệt mỏi đang nằm vật vã. Lật nắp máy tính rồi khởi động, một tệp lưu trữ bản thảo đang viết và một vài bản thảo khác dang dở nằm rải rác khắp màn hình. Một nỗi day dứt cuộn trào sôi sục lên trong lòng khi cảm thấy quá tuyệt vọng trên con đường văn chương. Chẳng lẽ nào tôi sẽ mãi thất bại. Không một phản hồi từ nhà xuất bản, là do ngôn từ tôi viết ra dở tệ hay đích thực như những góp ý trước đây từ các ban biên tập. Thứ văn chương cực đoan lột trần nội tâm sẽ không bao giờ có thể đến gần với độc giả. Họ không bằng lòng với lối suy nghĩ tô vẽ màu đen trong đời sống giới trẻ. Họ cần những gam màu sặc sỡ và tươi tắn.
Tôi đã từ bỏ tất cả dưới đồng bằng để lên nằm vùng cao chuyên tâm viết lách. Muốn tạo ra được nghệ thuật, tôi bắt ép bản thân phải sống chẳng khác gì một nghệ sĩ. Nghệ sĩ trong tâm trí tôi phải đích thực là một kẻ nghèo nàn. Bởi họ không thể làm một điều gì khác hơn là chuyên sâu vào tác phẩm của mình. Nghệ thuật đích thực bao giờ cũng kén chọn khán giả, không có nhiều người có thể đồng điệu, họ không được nhiều khán giả ủng hộ, con đường của họ trắc trở lắm gian nan. Vậy nên họ sẽ sống chẳng khác nào một kẻ ăn mày. Nhưng đó mới là một người nghệ sĩ đích thực. Sống để làm nghệ thuật mới khó, làm nghệ thuật để sống chỉ là cái cớ cho mấy gã nghệ sĩ giả mạo. Chính vì thế mà tôi luôn nhìn mấy gã tự nhận mình là nghệ sĩ, đi xe hạng sang, ở biệt thự triệu đô, trên người đính toàn trang sức lấp lánh bằng con mắt khinh thường. Bây giờ thì rõ ràng là tôi đã quá đuối sức khi ôm ấp lý tưởng cao cả. Nghèo nàn cực khổ quá, lấy đâu ra sống để làm nghệ thuật.
Từ trên căn gác xép bước xuống cầu thang, những bậc thang bằng gỗ cũ kỹ khó leo. Rồi bước sang góc bếp, một gian phòng chật hẹp, tường vách ẩm mốc dường như đã tróc hết lớp sơn mặt ngoài để lộ da thịt. Đun sôi một ấm nước nóng trong khi bòn vét số ít cà phê còn sót lại trong lọ. Trong lúc chờ đợi những giọt cà phê tí tách rơi nhỏ xuống đáy cốc, chợt nhớ sáng nay có độc giả quen thuộc vừa gửi thư hỏi thăm. Tôi quay lại căn gác cùng với ly cà phê vừa pha, mở hộp thư đến rồi ngồi chăm chú đọc.
Đó là một lá thư dài chia sẻ về một nhà văn cũng là nhà triết học nổi tiếng. Phạm Công Thiện còn được cho là một thần đồng ngôn ngữ từ thuở bé. Trong thư anh ta kể cho tôi nghe về cảm nhận của anh ta sau khi đọc xong quyển Ý thức mới về văn nghệ và triết học. Đó là một quyển sách tuyệt vời. Đôi lúc anh phải dừng lại không phải vì nó không hay mà do không dám đọc tiếp. Vì sợ rằng nó tiếp tục đào sâu vào tiếng lòng của anh, nó lột trần anh. Nhưng ngày hôm sau anh ta lại tiếp tục. Đối với nhiều người không cùng suy nghĩ như Phạm Công Thiện, thì sách của ông tuy cuốn hút nhưng có gì đó thật sự khó hiểu và thập cẩm. Và người nào đó nhìn vào cũng sẽ yêu cầu ông đi điều trị tâm lý như đã từng có một vài độc giả khuyên can khi đọc bài tôi viết. Anh ta gửi cho tôi một vài lời an ủi động viên, tỏ ý sẽ luôn ủng hộ tôi vì anh ta yêu quý những gì tôi viết ra.
Có người bảo tôi sống vị kỷ. Họ nói những điều tôi viết ra chỉ ôm ấp vỗ về cái tôi của tôi. Nhân loại này không thể sống ích kỷ và hẹp hòi như tôi. Họ cần một cái gì đó cộng đồng và xã hội hơn, phải là một tinh thần tương thân tương ái, kêu gọi siết chặt vòng tay. Đôi khi tôi cảm nhận tôi yêu nhân loại này đến mức tôi mơ ước vứt bỏ tất cả những gì tôi có. Tôi không muốn trở thành một Napoleon, Hitler hay một nhà chính trị cách mạng. Tôi không muốn một cuộc cách mạng máu nào sẽ đổ thành sông, chảy cuộn trào vào đời sống nhân loại. Tôi muốn làm một cuộc cách mạng tâm hồn. Đó mới là cội rễ căn nguyên của tất cả cuộc chiến. Tôi đã chọn ngôn từ làm vũ khí, không một điều gì tôi viết ra mà không phải là sự chân thật trong tôi. Khi tôi bắt đầu mơn trớn các con chữ, tôi thấy trong mình tuôn trào một nguồn sức mạnh vô biên. Tôi biết họ xem những điều tôi viết chẳng ra gì. Đôi khi họ còn chửi bới thậm tệ. Nhưng tôi đã thề nguyện cống hiến cuộc đời mình cho sự viết. Tôi không viết vì tiền, vì sự nổi tiếng, tôi chỉ luôn viết ra những điều chân thành nhất trong trái tim dù tôi biết nó méo mó. Đó không phải là thứ tốt nhất nhưng chắc chắn đó là thứ chân thành nhất tôi có. Tôi đã sống những ngày tháng đau khổ dằn vặt vì thứ mình viết ra không ai thấu hiểu. Tôi yêu thương nhân loại, đời sống này, những đau khổ mà con người đang phải mang vác, tôi sẵn lòng quỳ gối ôm hôn vào những vết thương trong trái tim họ. Tôi không biết tôi có đủ kiên nhẫn hay tôi sẽ sớm phải gục gã trước những tổn thương. Tôi không mong họ đọc xong rồi trầm trồ khen ngợi, mà ngược lại họ còn quay lưng chửi bới thậm tệ, không quý trọng và không biết đến tâm huyết tôi gửi gắm, quát mắng rồi đòi hỏi những điều thô lỗ.
Tôi ngồi xuống và bắt tay viết thư hồi âm. Nhưng viết xong, tôi lại bấm nút xóa đi vì thấy lời lẽ có vẻ gượng ép miễn cưỡng. Tôi không thể đáp trả lại tấm lòng chân thành ấy bằng câu từ hời hợt thế này. Tôi viết một bức thư khác, lại cảm thấy nó thiếu cảm xúc quá, nên cũng lại xóa nốt. Tôi không biết chàng trai trong bức thư là ai. Hình dáng mặt mũi anh ta trông ra sao. Điều duy nhất tôi hiểu về anh ta duy nhất đó là sự chân thành trong tất cả những lá thư anh ta đã viết cho tôi, luôn dài lê thê và cảm xúc chân thành. Đó là một sự hiếm có mà không phải ai cũng có thể may mắn có được. Tôi nghĩ về anh ta trong tất cả nỗi cô đơn mà chúng tôi đang có. Tại sao anh ta lại viết thư cho tôi mà không phải là một ai khác hiện diện trong cuộc sống của anh ta. Có phải anh ta quá cô đơn trên con đường tìm đến tiếng nói chung trong những người thân thiết và khi anh ta nhận ra có sự đồng cảm nào đó ở câu văn tôi thì anh ta muốn được chia sẻ. Cảm giác được bày tỏ nỗi lòng trước người có thể lắng nghe mình thật sung sướng. Tôi biết chứ, biết cảm giác lời lẽ mình nói ra không thể lọt lỗ tai người nghe. Đó là căn nguyên của mọi nỗi cô đơn trên thế gian.
Cũng sắp bước qua tuổi hai mươi sáu, ở độ tuổi mà tất cả bạn bè của tôi đều hầu hết đã lập gia đình. Cả đến những đứa nhát gan rụt rè nhất hồi còn cắp sách đến trường cũng đã sửa soạn lên xe hoa về nhà chồng, vậy mà một đứa như tôi thì vẫn còn chưa có lấy một đối tượng nào ưa nhìn. Về mặt kết hôn lập gia đình, nói chung có ba lý do. Thứ nhất tôi sợ mất tự do, đó là tâm trạng chung của tất cả những kẻ bơ vơ đã quen với đời sống độc thân. Thứ hai là tôi nghĩ mình không đủ khả năng làm vợ và nuôi dạy con cái. Thứ ba đồng nghĩa với việc sự nghiệp văn chương của tôi có thể sẽ chấm dứt.
Không thể chết cũng chẳng thể trả lời thư. Tôi bực bội đóng nắp máy tính rồi lao nhanh ra đường với bộ vẻ yêu đời. Tôi bước đi trên con đường đất đỏ nhỏ hẹp, rộng chừng một mét. Làn không khí ẩm đục và lạnh lẽo của Đà Lạt chợt khiến tôi nhớ đến cơn mưa phùn ướt át của Huế ngày xưa. Hồi ấy tôi vẫn thường oán thán về những cơn mưa dai dẳng âm ỉ. Tôi từng muốn trốn Huế rồi bỏ nhà đi thật xa chỉ vì quá căm ghét cái không khí ảm đạm đìu hiu. Vậy mà giờ đây tôi lại yêu thương Đà Lạt. Một xứ sở mù sương buồn bã. Tôi yêu cái cô đơn hiu hắt trống vắng ở đây. Yêu những ngày tháng lang thang suốt nửa đêm dưới ánh đèn vàng trong mưa. Ngày ấy tôi sợ hãi cô đơn, nhưng giờ đây chén rượu kia đã cạn và không còn ai rót cho tôi nữa.
Bỗng dưng tôi muốn cười khinh bỉ vào cái ý chí muốn chết lúc nãy vì tôi nhận ra tôi còn quá yêu Đà Lạt. Đôi khi tôi muốn đốt hết tất cả thế giới này, nhưng tôi sẽ để dành lại Đà Lạt và Huế. Tôi không biết còn có nơi nào chứa chấp tôi mà không phải Đà Lạt. Huế thì là báu vật mà tôi không thể nào đánh mất. Ở Huế, đó là thời kỳ thơ mộng.
Tác giả: Ni Chi
Minh họa: NHP
Edit: THĐP
📌 Nội dung tiểu thuyết được đăng tải trong tạp chí Aloha Volume 3. Mua membership để đọc tạp chí Aloha (48k/1 volume, 999k/1 năm, 24 volume) ➡️ http://bit.ly/THDPmembership
Không có bài kiểm tra được tiêu chuẩn hóa, không có trường tư, không căng thẳng. Hệ thống giáo dục Phần Lan luôn được xếp hạng tốt nhất trên thế giới.
Nhiều người đã quen thuộc với khuôn mẫu làm việc chăm chỉ, học thuộc lòng, tầm nhìn đường hầm cận thị của giáo dục Đông Á và đạo đức nghề nghiệp. Nhiều quốc gia trong số này, như Trung Quốc, Singapore và Nhật Bản – nổi bật hơn những quốc gia khác – thường đứng vị trí hàng đầu trong cả toán và khoa học.
Một số chuyên gia cho rằng mô hình vắt kiệt trí não này là điều người Mỹ nên hướng tới. Làm việc nhiều hơn! Học tập chăm chỉ hơn! Sống ít hơn. Những dữ kiện và số liệu không nói dối – những quốc gia này đang thắng điểm chúng ta (Mỹ), nhưng có thể có một cách tốt hơn và lành mạnh hơn để giải quyết vấn đề này.
Phần Lan là câu trả lời – một đất nước phong phú về cải cách trí tuệ và giáo dục đã khởi xướng qua nhiều năm một số thay đổi mới lạ và đơn giản, đã hoàn toàn cách mạng hóa hệ thống giáo dục của họ. Họ vượt trội hơn Hoa Kỳ và đang cạnh tranh lại với các quốc gia Đông Á.
Có phải họ đang nhồi nhét trong những căn phòng thiếu ánh sáng lịch trình robot? Không. Căng thẳng với các bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa do chính phủ ban hành? Không đời nào. Phần Lan đang dẫn đầu vì những biện pháp hợp tình hợp lý và một môi trường giảng dạy toàn diện phấn đấu cho sự công bằng hơn sự xuất sắc. Dưới đây là 10 lý do tại sao hệ thống giáo dục Phần Lan đang áp đảo nước Mỹ và thế giới.
Photo: Craig F. Walker / The Denver Post
1. Giáo dục Phần Lan không có kiểm tra tiêu chuẩn hóa (standardized testing)
Kiểm tra tiêu chuẩn hoá là phương pháp chung chúng ta thẩm định mức độ thấu hiểu kiến thức. Đánh vào các ô trắc nghiệm nhỏ trên một tờ scantron và trả lời các câu hỏi đã được “đóng hộp” sẵn bằng cách nào đó được cho là một cách để xác định sự thành thạo hoặc ít nhất là năng lực về một chủ đề. Điều thường xảy ra là học sinh sẽ học cách nhồi nhét thông tin chỉ để vượt qua bài kiểm tra và giáo viên sẽ giảng dạy với mục đích duy nhất là học sinh đậu kỳ thi. Sự học đích thực bị ném ra khỏi phương trình.
Scantron
Giáo dục Phần Lan không có những bài kiểm tra tiêu chuẩn hóa. Ngoại lệ duy nhất của họ là một kỳ thi gọi là Kỳ Thi Tuyển Quốc Gia (National Matriculation Exam), là một kỳ thi tự nguyện cho học sinh vào cuối năm trung học phổ thông (lớp 12). Tất cả trẻ em trên khắp Phần Lan được chấm điểm theo từng cá nhân và hệ thống chấm điểm được đặt ra bởi giáo viên. Theo dõi tiến độ tổng thể được thực hiện bởi Bộ Giáo dục, họ lấy mẫu sample nhiều nhóm trên các phạm vi khác nhau của các trường.
2. Trách nhiệm giải trình đối với giáo viên (không bắt buộc)
Giáo viên nhiều khi bị đổ lỗi và đôi khi không sai. Nhưng ở Phần Lan, tiêu chuẩn được đặt rất cao cho giáo viên, rằng thường không có lý do để có một hệ thống “tính điểm” nghiêm ngặt cho giáo viên. Pasi Sahlberg, giám đốc Bộ Giáo dục Phần Lan và tác giả cuốn sách Bài học Phần Lan: Thế giới có thể học hỏi được gì từ cải cách giáo dục Phần Lan? (Finnish Lessons: What Can the World Learn from Educational Change in Finland?) Đã nói như sau về trách nhiệm giải trình của giáo viên:
“Trong tiếng Phần Lan không có chữ accountability (trách nhiệm giải trình)… Trách nhiệm giải trình là cái còn sót lại khi trách nhiệm (responsibility) đã bị loại trừ.”
Tất cả giáo viên được yêu cầu phải có bằng thạc sĩ trước khi vào nghề. Chương trình giảng dạy được lấy từ những trường chuyên nghiệp nghiêm ngặt và có chọn lọc nhất trong cả nước. Nếu một giáo viên không hoạt động tốt, đó là trách nhiệm thuộc về hiệu trưởng trường để giải quyết chuyện đó.
Khái niệm về mối liên hệ giữa học sinh-giáo viên―trong quá khứ được gọi là thầy-trò (master-apprentice)―không thể được đơn giản hoá, hạ cấp xuống thành một sự thanh tra công chức và các thước đo kiểm tra tiêu chuẩn hóa. Nó cần phải được giải quyết trên cơ sở cá nhân.
Photo By Craig F. Walker / The Denver Post
3. Giáo dục Phần Lan – Hợp tác, không cạnh tranh
Trong khi hầu hết người Mỹ và các nước khác nhìn thấy hệ thống giáo dục như một cuộc cạnh tranh [như thuyết tiến hoá] của Darwin, người Phần Lan có góc nhìn khác. Sahlberg trích dẫn một câu từ một nhà văn tên Samuli Paronen, nói rằng:
“Người chiến thắng đích thực không cạnh tranh.”
Trớ trêu thay, thái độ này đã đưa họ lên đỉnh của thế giới. Hệ thống giáo dục của Phần Lan không bận tâm về các hệ thống thưởng phạt chủ quan nhân tạo. Không có danh sách các trường hoặc giáo viên có hiệu suất cao nhất. Nó không phải là một môi trường cạnh tranh – thay vào đó, hợp tác là tiêu chuẩn.
4. Giáo dục Phần Lan ưu tiên những điều cơ bản
Nhiều hệ thống trường học rất quan tâm đến việc tăng điểm kiểm tra và hiểu biết toán học và khoa học, họ có khuynh hướng quên đi những gì tạo thành một môi trường học tập hạnh phúc, hài hòa và lành mạnh. Nhiều năm trước, hệ thống trường học của Phần Lan đã cần một số cải cách nghiêm túc.
Chương trình đổi mới Phần Lan tạo ra tập trung vào việc quay lại những điều cơ bản. Nó không phải là chuyện thống trị thang điểm thế giới hay đặt cược mạo hiểm nhiều hơn. Thay vào đó, họ tìm cách làm cho môi trường học đường trở thành một nơi công bằng hơn.
Kể từ những năm 1980, các nhà giáo dục Phần Lan đã tập trung vào việc ưu tiên những điều cơ bản này:
Giáo dục nên là một công cụ để cân bằng sự bất bình đẳng xã hội.
Tất cả học sinh đều nhận được các bữa ăn miễn phí tại trường.
Dễ dàng tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Tư vấn tâm lý.
Hướng dẫn, hướng nghiệp cá nhân hóa.
Bắt đầu với cá nhân trong một môi trường tập thể bình đẳng là cách của Phần Lan.
5. Bắt đầu đi học ở độ tuổi lớn hơn
Ở đây những người Phần Lan lại bắt đầu bằng cách thay đổi các chi tiết rất nhỏ. Học sinh bắt đầu đi học khi chúng được bảy tuổi. Chúng được thả tự do trong những năm thơ ấu đang phát triển và không bị trói buộc vào chế độ giáo dục bắt buộc. Nó chỉ đơn giản là một cách để cho một đứa trẻ là một đứa trẻ.
Chỉ có 9 năm học bắt buộc mà trẻ em Phần Lan được yêu cầu tham dự. Tất cả mọi thứ qua lớp 9 hoặc 16 tuổi là tùy chọn.
Chỉ từ góc độ tâm lý, đây là một lý tưởng giải phóng. Mặc dù nó có thể là cảm tính, nhiều học sinh thực sự cảm thấy như chúng đang bị mắc kẹt trong một nhà tù. Phần Lan làm giảm bớt lý tưởng cưỡng ép này và thay vào đó là lựa chọn để chuẩn bị cho con cái của mình cho thế giới đời thật.
6. Cung cấp các lựa chọn chuyên nghiệp sau khi có bằng đại học truyền thống
Hệ thống giáo dục hiện tại ở Mỹ vô cùng trì trệ và thiếu linh hoạt. Trẻ em bị mắc kẹt trong mạng lưới từ lớp 1 đến lớp 12, nhảy từ giáo viên đến giáo viên. Mỗi lớp là một sự chuẩn bị cho lớp tiếp theo, dẫn tới cực điểm là vào đại học, sau đó nó lại chuẩn bị cho bạn trạm chuyển tiếp lớn tiếp theo. Nhiều sinh viên không cần phải đi học đại học để nhận được một tấm bằng vô giá trị hoặc loay hoay cố gắng tìm kiếm mục đích và tích lũy nợ nần chồng chất [vay tiền học].
Phần Lan giải quyết tình trạng khó xử này bằng cách cung cấp các lựa chọn có lợi thế ngang ngửa cho sinh viên tiếp tục chuyện giáo dục của họ. Không có sự phân biệt quá lớn giữa đại học và trường dạy nghề hoặc những lớp trung cấp lao động. Cả hai đều có thể chuyên nghiệp và thỏa mãn cho một sự nghiệp.
Ở Phần Lan, có cái gọi là Upper Secondary School, là một chương trình ba năm chuẩn bị cho học sinh những kiến thức cho kì thi vào đại học. Điều này thường dựa trên những khả năng tài năng học sinh đã tạo dựng trong thời gian ở trường trung học.
Tiếp theo, còn có chương trình giáo dục nghề nghiệp, là chương trình ba năm đào tạo sinh viên cho nhiều ngành nghề khác nhau. Họ có tùy chọn đăng ký thi tuyển vào Đại học nếu muốn.
7. Người Phần Lan ngủ dậy muộn hơn, bắt đầu giờ học trễ hơn
Thức dậy sớm, bắt xe buýt hoặc đi xe, tham gia vào những hoạt động phụ trợ vào buổi sáng và sau giờ học ngốn rất nhiều thời gian của học sinh. Thêm vào thực tế là một số lớp học bắt đầu từ 6 giờ sáng đến 8 giờ sáng với những thanh thiếu niên còn ngáy ngủ, không thể có động lực.
Học sinh ở Phần Lan thường bắt đầu đi học từ 9:00 – 9:45 sáng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng thời gian bắt đầu sớm là bất lợi cho tinh thần, sức khỏe và sự trưởng thành của học sinh. Các trường Phần Lan bắt đầu một ngày học trễ hơn và thường kết thúc vào 2:00 – 2:45 chiều. Tiết học có nhiều thời gian hơn và thời gian nghỉ chuyển tiết cũng dài hơn. Mục đích của tổng thể hệ thống không phải là để nhồi nhét kiến thức cho học sinh của họ, nhưng là để tạo ra một môi trường học tập toàn diện.
8. Hướng dẫn nhất quán từ cùng một giáo viên
Có ít giáo viên và học sinh hơn ở các trường học Phần Lan. Bạn không thể mong đợi giảng dạy một khán phòng với những khuôn mặt vô hình và tạo ra sự gắn bó mật thiết dưới cấp độ cá nhân. Học sinh ở Phần Lan thường có cùng một giáo viên trong ít nhất sáu năm học. Trong thời gian này, giáo viên có thể đảm nhiệm vai trò người cố vấn hoặc thậm chí là một thành viên trong gia đình. Trong những năm đó, sự tin cậy lẫn nhau và gắn kết được xây dựng để cả hai bên đều biết và tôn trọng lẫn nhau.
Nhu cầu khác nhau và phong cách học tập khác nhau tùy theo từng cá nhân. Giáo viên Phần Lan có thể làm được điều này vì họ biết nhu cầu riêng của học sinh. Họ có thể đưa ra phương pháp dạy chính xác và quan tâm đến sự tiến bộ của học sinh và giúp chúng đạt được mục tiêu. Không có chuyện học sinh chuyển sang một giáo viên kế tiếp.
9. Một bầu không khí thoải mái hơn
Có một xu hướng chung trong những gì Phần Lan đang làm với các trường học. Căng thẳng ít hơn, nghiêm khắc không cần thiết ít hơn và chăm sóc nhiều hơn. Học sinh thường chỉ có một hai lớp học mỗi ngày. Chúng có nhiều buổi để ăn uống, tận hưởng các hoạt động giải trí và thường là chỉ thư giãn. Trong ngày có nhiều khoảng thời gian từ 15 đến 20 phút các em có thể nghỉ giải lao thư giãn gân cốt, hít thở không khí trong lành và giải nén.
Loại hình môi trường này cũng cần thiết cho các giáo viên. Phòng giáo viên được thiết lập trong tất cả các trường học Phần Lan, nơi họ có thể nghỉ ngơi và thư giãn, chuẩn bị cho buổi học, hoặc chỉ đơn giản là xã giao. Giáo viên cũng là con người và cần phải được thoải mái để có thể hoạt động tốt nhất trong khả năng của mình.
10. Ít bài tập về nhà và công việc bên ngoài hơn
Theo OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), sinh viên ở Phần Lan có số lượng công việc bên ngoài và bài tập về nhà ít nhất so với bất kỳ sinh viên nào khác trên thế giới. Chúng chỉ dành nửa giờ mỗi đêm để làm bài tập. Sinh viên Phần Lan cũng không có gia sư. Song, chúng vẫn hoạt động tốt hơn những nền văn hóa không có được sự cân bằng cần thiết giữa trường học và cuộc sống, dẫn tới tình trạng căng thẳng không cần thiết.
Học sinh Phần Lan đang nhận được tất cả mọi thứ chúng cần để phát triển ở trường mà không có thêm áp lực đi kèm phải học giỏi một môn nào đó. Không cần phải lo lắng về điểm số và công việc bận rộn, chúng có thể tập trung vào nhiệm vụ thực sự: học hành và phát triển như một con người.
Volume 11 tạp chí Aloha xuất bản. Mua membership để đọc tạp chí trau dồi chất xám, nâng cấp tư duy, gặt hái thành công, đổi mới cuộc sống tại http://bit.ly/THDPmembership (48k/1 volume, 999k/24 volumes).
Nội dung Volume 11
⭐️ [Hỏi- Đáp] Đi qua các rối loạn tâm lý
🌟 [Bài dịch] Các nhà nghiên cứu muốn bác sĩ có thể kê đơn thuốc sử dụng nấm thức thần để chữa trị trầm cảm
✨ [Truyện ngắn] Cô bé Hạt Tiêu – Quyển 2, Tập 11 – Đại hội quay bút | Vũ Thanh Hòa
⚡️ [Bài dịch] Cách làm mới cơ thể: Nhịn ăn và Autophagy
☄️ [Tiểu thuyết dã sử] Người chém cá kình – Hồi 11 | Hai Le
🔥 [Bài dịch] Những lợi ích của việc ăn một bữa một ngày – One Meal A Day – OMAD
🌪 [Truyện dài] Tuổi trẻ cô đơn – Chương 14-15 | Ni Chi
☀️ [Nhân vật] Charles Darwin – Cha đẻ của thuyết tiến hóa | Ni Chi
🌈 [Thơ dài] Thiên đường trần gian – Phần 11 | Vũ Thanh Hòa
Đầu tiên tôi muốn kể chuyện gia đình tôi. Chúng tôi có ba anh em, anh trai hơn tôi 2 tuổi và một em trai kém tôi 10 tuổi. Bước chân ra xã hội có thể anh ấy chẳng là ai, nhưng chỉ cần quay lại, anh mãi là người chiếm giữ một vị trí rất quan trọng trong trái tim tôi và em trai. Chúng tôi hạnh phúc và biết mình may mắn khi được làm em của người anh đó. Anh trai tôi luôn là niềm tự hào của bố mẹ. Học hành tuy không xuất chúng, nhưng ở ngưỡng của một đứa con, chừng đó thôi cũng đủ khiến những tháng ngày vất vả của bố mẹ không đổ sông đổ bể.
Hồi bé tôi cũng từng là một món quà mà cuộc đời ưu ái dành tặng bố mẹ. Một món quà quý báu được thiên hạ ngợi khen, bởi những thành tích, bởi sự lễ phép ngoan ngoãn. Nhưng rồi cũng món quà ấy một ngày bất chợt bỗng biến thành một đống rác hôi thối chỉ muốn mang đi vứt. Cũng là niềm tự hào năm xưa bỗng biến thành sự xấu hổ tủi nhục mà bố mẹ tôi phải đối diện.
Mọi người cứ nghĩ tôi không bị vướng trách nhiệm hay những gánh nặng nên tôi luôn nói được những lời lẽ bất cần. Họ không hiểu đâu, những ngày tháng đau khổ sống trong thân phận kẻ tội đồ sát thương chính bố mẹ mình, mang nặng nỗi day dứt dằn vặt tôi là đứa con bất hiếu. Dẫu biết thế, tôi vẫn tin tôi hài lòng với việc thà đau khổ vì những điều yêu thích, còn hơn trạng thái đau khổ trong cơn chán ngán những điều tôi ghét.
Em trai tôi năm nay vào lớp 10, đam mê âm nhạc và tỏ ý chí quyết tâm muốn theo đuổi nghiêm túc. Bố mẹ tôi lo lắng, tôi nghĩ đó là điều hiển nhiên. Sự lo lắng chỉ là một phản xạ tự nhiên của bất kỳ bậc phụ huynh nào trước những ước mơ con trẻ, bởi đó là một con đường gian nan và cũng lắm cám dỗ.
Chúng tôi không bao giờ cấm cản em trai mình, cả hai chúng tôi đều im lặng. Và nếu có phải nói một điều gì đó, chắc chắn phải là một lời động viên cổ vũ. Chúng tôi biết rằng không một lời khuyên nào cần được nói ra, ý tôi là lời lẽ ngăn cấm. Pháp luật đặt định đến độ tuổi 18 trẻ em mới có pháp quyền quyết định và chịu trách nhiệm trước hành vi của mình. Pháp luật có thể rào chắn ý thức bên ngoài nhưng nó không thể ngăn cản khả năng sinh học vượt trội bên trong.
Khi đứa trẻ bước vào tuổi 14, tôi chỉ đang nói đến độ tuổi ước lượng, khoảnh khắc đó đứa trẻ đã có những ấp ủ trong tâm trí, khoảnh khắc đó nó đã biết đến tự do. Đó là giây phút mà những khao khát lấp ló chạm đến những hành động trong lén lút. Tôi có thể phân tích, giải thích, hướng em trai tôi đến những điều mà bản thân tôi cho rằng quan điểm của tôi là đúng. Tôi có thể dùng kinh nghiệm của mình để nói với em trai tôi rằng A B C thế này thế kia. Nhưng quyết định phải là của nó. Thứ nhất chỉ có bản thân người đó mới thực sự hiểu họ thích gì. Thứ hai đứa trẻ có thể nghe những điều người lớn nói, nhưng chắc gì nó đã cảm thấy điều đó phù hợp với chính nó. Đứa trẻ chỉ đang nghe bằng một thái độ tôn trọng, còn tận trong tâm can, tất nhiên nó vẫn cho rằng nó muốn làm những điều nó thích.
Điều duy nhất người lớn luôn lo lắng cho một đứa trẻ trong quá trình lớn lên là nỗi sợ sa ngã. Có sự sa ngã có thể quay đầu, nhưng cũng có những hố thẳm khi đã rơi xuống thì không còn cơ hội ngoi lên. Đó là điều người lớn sợ. Nếu chỉ vì nỗi sợ đó mà chống lại, gây sức ép, biến tâm hồn của một đứa trẻ trở nên nghèo nàn chật chội và có khi là giết nó bằng một cái chết chậm.
Không, tôi không thể làm điều đó, tôi không thể giết chết em trai mình mà không có mặc cảm gì. Thậm chí tôi biết nếu tôi để cho nó được thỏa nguyện đi theo con đường nó muốn, tâm hồn nó vẫn có thể chết. Đau khổ luôn có đó, trên tất cả mọi lối rẽ. Dù chọn hướng ngã nào, con người vẫn có thể đau khổ. Vậy thì quan trọng gì tôi sống bao lâu, mà là tôi đã sống thế nào trong khoảng bao lâu ấy.
Những đứa trẻ không thể lớn lên trong sự huấn luyện, ngăn cấm không phải là hành động thông minh. Đứa trẻ phải sống trong những cưỡng ép, chắc chắn sẽ có một cuộc cách mạng nổ ra vào một ngày bất chợt. Bởi bất kể một ai đi nữa, họ cũng không thể sống mà cứ khổ mãi từ cái nôi cho đến nấm mồ được.
Điều duy nhất tôi có thể cho nó, tôi biết duy nhất chỉ có thể là tình yêu. Bằng tất cả tình yêu của tôi, tôi muốn em trai tôi được tự do, tôi muốn mọi tiềm năng của nó được khơi gợi, tôi muốn nó phải là người tự mình giải mã những câu hỏi. Có thể nó đang bước đến sự tự hủy diệt, nhưng tôi biết khoảnh khắc đó, nó vẫn sẽ mỉm cười hạnh phúc vì đã bước qua mọi thứ trong tình yêu. Tình yêu với những điều nó yêu thích, tình yêu bởi gia đình, từ những người anh người chị luôn bên cạnh để lắng nghe cảm thông.
Đối với tôi, không có một sự huấn luyện nào có thể dẫn dắt đứa trẻ. Chỉ có tình yêu mới là cứu cánh duy nhất để dẫn lối khỏi những sa ngã. Bởi dù trên trăm mọi lạc lối tôi đã qua, tôi biết tình yêu của bố mẹ, của anh tôi, mới chính là hoa tiêu dẫn tôi qua những sa ngã. Điều duy nhất người lớn nên làm là lắng nghe, để đứa trẻ có thể đủ niềm tin gửi gắm những bí mật của nó. Khiến cho nó tin rằng nó không cô đơn giữa chính gia đình mình. Có lần tôi hỏi mẹ tôi hư lắm phải không, mẹ mỉm cười trả lời tôi chỉ lì lợm thôi, tôi chỉ ngoan cố thôi, cứ thích làm những điều khiến mẹ lo lắng, nhưng đối với mẹ tôi không phải đứa con hư. Giây phút đó thật ý nghĩa, nó ý nghĩa vì đã giúp tôi nhận ra rằng vẫn có cách để những đứa con có thể sống cuộc đời nó mong muốn mà không biến chúng với bố mẹ trở nên xa cách.
Anh trai tôi vừa kết hôn và đang sửa soạn chào đón con gái đầu lòng. Tôi hỏi anh sẽ nuôi dạy nó lớn lên như thế nào. Và anh đã viết thư trả lời mà tôi xin trích đoạn một câu nhỏ.
“Bé Kem thì cứ để nó tự là nó, lúc trước anh cũng có chút áp lực, nhưng giờ anh thấy cũng vui, tối rảnh anh hay đọc sách cho nó nghe. Anh sẽ thương nó dù nó trở thành người như thế nào. Như thương Ni, Micky.”
Thật ra chỉ là tôi đã đọc thư, rồi vì quá xúc động nên tôi ngồi xuống viết ra những dòng này.
Những ngày vừa qua tôi liên tiếp được chứng kiến lối tư duy lấy tiền là động lực hành động từ những người bạn xung quanh mình. Tức là “có tiền thì tao mới đi du lịch, có tiền thì tao mới bắt đầu làm đẹp”, “tao phải giàu đã rồi mới tính các chuyện khác” hay “tao không thể chịu đựng được cảnh tài chính không ổn định.”
Tôi nhìn thấy ở trong đó là một nỗi sợ hãi và bất an của họ khi để bạc tiền làm ông chủ, để nó trở thành kẻ quyết định thay cho chính bản thân mình về lối đi mình muốn bước tới. Khi đã đặt sự giới hạn tiền bạc lên đầu thì ý chí của người đó không còn hướng về những điều họ yêu nữa. Nó bị xao lãng vào ý tưởng “mình thiếu thốn” thay vì ý tưởng “mình muốn khám phá các vùng đất mới”, “mình muốn trở thành một nhà văn giỏi”, v.v…
Trong góc nhìn của tôi, tiền bạc chỉ là phương tiện, không phải là mục đích. Dù rằng tôi đã từng gặp một người em có đam mê kiếm tiền. Nhưng không có nghĩa người đó không cần dùng tiền để thực hiện điều mình yêu thích. Nếu bạn chưa thật sự bước qua được giới hạn của đồng tiền thì đồng nghĩa rằng bạn chưa thay đổi thế giới quan của bản thân để tập trung vào chính mình.
Vật chất là thứ rất quan trọng nhưng nó không phải là kẻ nắm vai trò quyết định cuộc chơi. Chính tư tưởng, hay nói đơn giản hơn là sức mạnh tinh thần mới là người giật dây cho vạn vật chuyển động. Và tiền bạc ở đây không chỉ bao gồm những tờ giấy in số, mà còn bao gồm cả những mối quan hệ, môi trường sống, trạng thái sức khỏe. Tất cả chúng là thứ đến sau, là sự hiện thân tương xứng của một ngưỡng tinh thần nhất định.
Thứ bạn đang đầu tư sự chú ý của mình nếu đặt tiền bạc là mục đích chỉ là những cái ngọn cây, là đám cỏ dại không bao giờ được dọn dẹp sạch sẽ. Càng lún sâu vào nơi đó, bạn sẽ càng lãng quên đi phần gốc rễ cơ bản – thứ đẻ ra cái đầm lầy bạn đang đắm mình nhơ nhớp và tưởng rằng nó sạch.
Tôi nói vậy không có nghĩa rằng tiền là thứ bẩn thỉu đáng vứt bỏ, mà là ý tưởng “mình nghèo đói/thiếu thốn” là một thứ RẤT kém giá trị mà bạn không nên sử dụng. Lão Tử đã có câu:
“Watch your thoughts, they become words. Watch your words, they become actions. Watch your actions, they become habit. Watch your habits, they become character. Watch your character, it becomes your destiny.”
(Tạm dịch: Gieo suy nghĩ, gặt lời nói. Gieo lời nói, gặt hành động. Gieo hành động, gặt thói quen. Gieo thói quen, gặt tính cách. Gieo tính cách, gặt số phận.)
Tư tưởng kiến tạo thực tại, nên việc lựa chọn một nền tảng đúng đắn là điều quan trọng mà mỗi người cần làm nếu thật sự mong muốn có được đời sống hạnh phúc. Một khi tư tưởng đã được cố định an bài thì sức mạnh tinh thần của người đó sẽ thổi vào để tạo nên đời sống thông qua sự chú ý được lặp lại thành thói quen. Tức là mỗi lần bạn trì hoãn chuyến đi du lịch vì không đủ tiền, bạn lại một lần khẳng định sự thiếu thốn cá nhân. (Mỗi người sẽ tự biết rằng lúc đó mình có đang đắm chìm trong tư tưởng “bị nghèo” hay không.)
Nếu bạn bảo rằng LÀM SAO mình có thể cất bước chân đi khi không một xu dính túi, thì tôi sẽ hỏi lại rằng TẠI SAO mình không thể cất bước chân đi khi không một xu dính túi?
Điều bạn đang sợ hãi và nghi ngờ là một khả năng bình đẳng với mọi khả năng khác, và nó hoàn toàn có thể xảy ra. Vấn đề là bạn có tin và dám sống nó hay không. Niềm tin ấy sẽ quyết định hướng đi và hành động của bạn, thậm chí quyết định toàn bộ vận mệnh của bạn trên cõi đời này.
Jesus đã nói:
“Phúc cho ai không thấy mà tin.”
Và trong trường hợp bạn đã giam mình trong một lồng tù cố định và chật hẹp về tiền bạc, thì chỉ có duy nhất niềm tin là thứ có thể đập tan ổ khóa và mang bạn đến miền đất mới của sự trù phú. Trong tiếng Anh có cụm từ này tôi rất thích “take a leap of faith” tạm hiểu là “có một cú nhảy niềm tin.” Bằng sự dũng cảm, thậm chí liều lĩnh, bạn mới có thể tung bay qua hố thẳm của sự hồ nghi và sợ hãi.
Cá nhân tôi đã từng thực hiện rất nhiều cú nhảy vọt đó và càng lúc càng thấy nó đúng đắn và cần thiết trong việc chuyển hóa tư tưởng nghèo đói nảy nở trong mình. Nếu muốn đi du lịch, tôi đi ngay; muốn ăn một món ngon, tôi ăn ngay; muốn mua một cái đầm mình ưng ý, tôi mua ngay. Thiếu thì vay tiền, không để mọi chuyện trì hoãn.
Điều kỳ lạ là tôi chưa bao giờ rơi vào cảnh thiếu thốn khi sống thoải mái như vậy. Sau đó luôn có tiền bạc hay các mối quan hệ cung cấp tài chính đổ về hay hỗ trợ mà tôi không cần đòi hỏi. Nếu các bạn đọc bài viết của tôi về Luật hấp dẫn, bạn có thể hiểu rằng trạng thái tinh thần đã quyết định hiện tại tôi được bước chân vào. Chẳng ai có thể bị nghèo túng khi luôn sống trong một ngưỡng lòng sung túc và mãn nguyện.
Tôi thấy mình rất may mắn khi được sinh ra trong gia đình không quá giàu cũng không quá nghèo. Những nhu cầu cơ bản của tôi luôn được đáp ứng đầy đủ nên tôi không coi tiền là cỏ rác, và cũng không coi nó là ông hoàng. Dù gia đình tôi đã từng lâm vào một giai đoạn khó khăn về tài chính, nhưng khi ấy tôi còn quá nhỏ để có thể thấm cái nghèo vào trong tư tưởng. Nên cho tới bây giờ, hầu như tôi sống mà không phải bận lòng nhiều đến chuyện tiền bạc. (Có thể một ngày tôi chỉ còn 2 ngàn đồng trong túi, nhưng tôi lại nhìn đó là một trải nghiệm gì đó rất hay ho.)
Điều này lại càng trở thành một cái đà để vật chất bớt đè gánh nặng lên con đường tôi cất bước. Khi ra trường tôi cũng không có tư duy phải làm việc để kiếm tiền, nên tôi đã bắt tay ngay vào làm những gì mình yêu thích. Và từ đó, những vật chất tương xứng cứ rót vào trong thế giới này khiến tôi càng khẳng định rằng mình không cần phải bận tâm về chuyện tài chính. Nó là một vòng xoáy tích cực.
Có thể chuyện đặt niềm tin vào hành động mà dứt bỏ nỗi lo lắng về tiền là điều khó khăn đối với ai đã mang đậm tư duy “đồng xu là người mở lối.” Nhưng nếu họ muốn thay đổi nó thì không gì là không thể. Ở ngoài kia luôn có muôn vạn những khả năng để ta có thể kén chọn.
Đây là cách phép màu diễn ra khi bạn quyết định làm những thứ chỉ có thể tồn tại bằng niềm tin. Và những sướng vui và kinh ngạc nhận được lúc đó sẽ chỉ càng khiến bạn muốn đắm mình nhiều hơn vào những sáng chói ngỡ ngàng.
Từ “phép màu” kia hoàn toàn là nghĩa đen, và tôi không hề nói quá bất kỳ điều gì ở trong bài viết này. Khi bước chân vào mảnh đất tinh thần, bạn sẽ thấy những điều kì diệu và sống động không tưởng. Nơi đó, tiền bạc không phải để luộc trứng, mà được dùng để điêu khắc những giấc mơ.
“Cuối cùng, khi chúng ta đến được điều mà một cá nhân nói anh ta muốn làm, tôi sẽ nói với anh ta: ‘Hãy làm điều đó và quên tiền đi.’ Bởi vì nếu bạn nói rằng kiếm tiền là quan trọng nhất, bạn sẽ dành suốt cuộc đời chỉ để lãng phí thời gian. Bạn sẽ làm những việc mình không thích để tiếp tục sống. Và tiếp tục làm những việc bạn không thích. ĐIỀU NÀY THẬT NGU NGỐC!” – Alan Watts
Tôi: “Cậu biết không, tất cả những cái gây đau cho tớ, chúng khiến tớ mạnh hơn.”
Bạn tôi: “Nhưng có những người không đủ sức chịu đựng nỗi đau, chúng chưa kịp khiến họ mạnh hơn thì đã vội vàng cướp đi sự sống của họ. Bằng chứng là đã có rất nhiều người trẻ tự tử vì không đủ can đảm chiến đấu.”
Tôi: “Tớ luôn nghĩ rằng cái chết không phải là cái mà con người tạo ra, nó là cái xảy ra cho người đó. Nếu một người quyết định tự tử, ý chí hành động đó đã luôn luẩn quẩn bên trong họ. Tớ không nghĩ nó là một hành động bộc phát, và phải là một người mạnh mẽ thì mới dám đưa tay chạm đến lưỡi dao tử thần. Không ai hạnh phúc mà lại đi tự tử, người tự tử phải là người có rất nhiều nỗi đau. Mỗi nỗi đau ẩn giấu một sự can trường, chúng tích góp mỗi ngày, cho đến thời khắc sức mạnh của nỗi đau chạm đỉnh và bùng nổ. Theo quan điểm của tớ, người chết vì tự tử là người phải rất mạnh.”
Bạn tôi: “Tớ chưa bao giờ hình dung được cái chết được quyết định bằng chính bàn tay mình sẽ có cảm giác thế nào.”
Tôi: “Tớ nghĩ khi một người có ý định tự tử, họ không còn bận tâm đến cái chết, họ chỉ quan tâm đến nỗi đau mà thôi. Hồi xưa, thỉnh thoảng tớ cũng muốn chết, tớ thấy đau quá, tớ không biết phải dùng ngôn ngữ nào để diễn tả nỗi đau ấy. Sống mà đau khổ vậy thì thà chết quách đi cho xong, nhưng cái suy nghĩ đó chỉ đến với tớ trong một vài khoảnh khắc. Khi tớ vượt qua được giây phút tử thần gọi mời, tớ luôn thấy bản thân còn nhiều điều ý nghĩa để tiếp tục duy trì cuộc sống.
Tất nhiên lúc tớ rơi vào trạng thái đau khổ tuyệt vọng, thì toàn bộ ý nghĩa sống đều chết hết rồi, linh hồn tớ đã rất tiều tụy lắm rồi, toàn bộ cuộc sống không còn là vấn đề, nhìn đâu cũng chỉ toàn là khổ thôi. Khi bắt đầu nhận biết được vấn đề đang gặp phải, tớ biết ngoại trừ những lúc tớ muốn chết, thì cuộc sống của tớ luôn tràn ngập ý nghĩa. Cái sự đau đớn tột đỉnh ấy nó chỉ đến trong một vài khoảnh khắc. Điều duy nhất tớ cần làm là khi nó quay lại, tớ không được cho phép bản thân nhụt ý chí.”
Bạn tôi: “Phát biểu của cậu là mâu thuẫn. Cậu vừa bảo người tự tử là người mạnh. Vậy còn những người không cho phép bản thân đi đến quyết định, chẳng lẽ họ không can đảm khi chống chọi lại nỗi đau?”
Tôi: “Không mâu thuẫn. Những đứa muốn chết mà không dám chết như tớ, kìm nén sự ham muốn của mình vì sợ hãi. Với tớ đó vẫn là người yếu đuối. Tớ đã phải nghe bao nhiêu người tìm đến mình than vãn muốn chết, nhưng lại sợ, lại không dám chết. Họ sợ chết trong khi miệng thì cứ lải nhải tôi muốn chết. Những người mạnh mẽ để được chết, đùng một phát là cậu nhận được tin báo tử của người ta thôi. Người đó không bao giờ tìm đến người này kia để thông báo tôi sắp chết.”
Bạn tôi: “Vậy cậu đang tán dương những người tự tử?”
Tôi: “Tớ không tán dương ai cả. Tớ chỉ đang muốn chúng ta bàn luận về vấn đề càng đau khổ thì người ta sẽ càng mạnh. Dẹp vấn đề chết chóc sang một bên. Tớ đang muốn chúng ta nói đến đau khổ. Quan điểm riêng của tớ, đau khổ luôn là cái thật nhất. Nó chứng tỏ rằng cậu không phải đang mơ, vì không ai mơ mình đau khổ. Họ luôn mơ được hạnh phúc, nhưng đau khổ mới cho họ tính toàn vẹn. Nếu không có đau khổ, hạnh phúc chỉ là một nửa của cuộc hành trình. Đau khổ sinh ra là để sửa soạn cho hạnh phúc sắp diễn ra. Hạnh phúc trọn vẹn phải được bắt đầu bằng đau khổ, đi qua hạnh phúc, rồi tiến đến vùng đất mà ở đó con người ta nhận ra đau khổ và hạnh phúc chỉ là một. Không, tớ cũng chỉ đang nói lý thuyết mà thôi. Tớ chưa đạt đến nó và tớ nhận mình sai khi nói về những điều mình chưa trải qua. Nhưng tớ vẫn luôn có niềm tin rằng đó mới là bản chất.”
Bạn tôi: “Vậy nên cậu mới luôn ca ngợi đau khổ.”
Tôi: “Tớ không cố gắng ca ngợi điều gì. Tớ chỉ thực sự nghĩ rằng tớ không nên né tránh đau khổ. Đi qua nó đi, tớ luôn nói thế khi nỗi đau kéo đến. Nó đau đấy, đau lắm cậu à, nhưng vì tớ đã tin rằng nỗi đau này là một phần của hạnh phúc đang sửa soạn đến, thì nó không còn là vấn đề. Tớ luôn sống như vậy, bao năm qua tớ sống thế đấy. Và giờ khi nhìn lại, tớ thấy mình mạnh quá, ít nhất là mạnh hơn ngày hôm qua. Rõ ràng nỗi đau chỉ đến như một cơ hội thách thức, cho tớ bớt mơ mộng đi. Tớ không tin vào hạnh phúc, đối với tớ hạnh phúc chỉ là một khoái cảm mang tính nhất thời. Nhưng tớ có niềm tin tất cả mọi đau khổ tớ trải qua, nó là một mảnh đất được sửa soạn sẵn, và trong mảnh đất đó sự an yên rồi sẽ mọc lên vào một ngày bất chợt. Sẽ mọc lên, chỉ trong mảnh đất của đau khổ mà thôi.”
Bạn tôi: “Niềm tin của cậu sẽ tạo ra thực tại của cậu.”