Trang chủ Blog Trang 194

Có thật sự kiểm soát súng là để bảo vệ bạn?

Featured Image: Jonathan Morris

 

Nhiều người Việt Nam ngày nay vẫn tin tưởng một cách ngây thơ rằng chính phủ kiểm soát không cho người dân sở hữu và sử dụng súng là để bảo vệ họ, là để bảo vệ xã hội khỏi bạo lực do việc sở hữu súng của những kẻ tội phạm. Sự thật có phải đúng là như vậy?

Trên thực tế khi bạn hay tôi đối mặt với bọn tội phạm, chúng ta ngay lập tức trở thành những người ở tuyến đầu phòng vệ. Lúc đó quá trễ để gọi sự trợ giúp của một ai đó. Những công dân tuân thủ luật pháp luôn là những người ở tuyến đầu đối mặt với tội phạm để bảo vệ bản thân và gia đình mình.

Trong khi đó, những chính trị gia lại nói với chúng ta rằng họ muốn bảo vệ chúng ta khỏi tội phạm có vũ trang bằng cách tước đi quyền sở hữu và sử dụng vũ khí của cá nhân để tự vệ. Đây là lời nói dối lớn nhất của tất cả bọn họ.

“Thế giới này tràn ngập bạo lực bởi vì bọn tội phạm có súng. Chúng ta, những công dân tử tế tuân thủ luật pháp, cũng nên có súng. Nếu không thì chúng sẽ thắng và những người tử tế sẽ thua” – James Earl Jones

Những cuộc tranh luận xung quanh vấn đề kiểm soát súng thường gắn liền với những cảm xúc mạnh mẽ của cả hai phía. Bên cạnh đó việc lạm dụng khai thác đề tài này đã ít nhiều tầm thường hoá vấn đề kiểm soát súng. Nó cực kỳ nguy hiểm vì quyền được trang bị vũ khí để tự bảo vệ không phải là vấn đề tầm phào. Và quyết định không nên được đưa ra dưới bất cứ áp lực của sự sợ hãi hay hoảng hốt nào.

Kiểm soát súng đi ngay vào trái tim của khái niện mà chúng tôi gọi là Tự do và do đó nó cần được xem xét một cách tổng thể và thận trọng.

Vậy kiểm soát súng chính xác là gì? Nó là kiểm soát dòng chảy của súng trong nước. Nhiều người suy nghĩ đơn giản hơn thì cho rằng kiểm soát súng là tịch thu súng của tất cả mọi người. Kiểm soát súng không hề có nghĩa là tịch thu súng. Điều này là không khả thi bởi vì các phần tử tội phạm trong xã hội sẽ không bao giờ giao nộp súng của chúng, lực lượng quân đội và cảnh sát cũng không.

Câu hỏi đầu tiên khi đó trở nên rõ ràng: Ai là người kiểm soát súng? Câu trả lời là chính phủ mà ở đây chúng ta sẽ gọi là những Người Làm Luật.

Câu hỏi tiếp theo chúng ta cần phải hỏi là: Súng của ai bị kiểm soát? Câu trả lời là nhân dân, những người đã giao nộp súng của họ. Họ là những công dân tuân thủ luật pháp mà chúng ta sẽ gọi là những Người Tuân Luật

Câu hỏi cuối cùng, súng của ai sẽ không bị kiểm soát? Chúng ta có thể giả thiết là bọn tội phạm sẽ không giao nộp súng của chúng và chúng ta sẽ gọi là những Người Phạm Luật

Và như vậy bạn đã có bức tranh tổng thể. Khi nói về kiểm soát súng, chúng ta dễ dàng phân chia xã hội thành ba nhóm có thể nhận diện dễ dàng: Người Làm Luật, Người Tuân Luật và Người Phạm Luật.

Có một sự tranh cãi dai dẳng rằng: Có thật kiểm soát súng, bằng cách nào đó, sẽ làm suy yếu nhóm Người Phạm Luật? Làm thế nào có thể như vậy được? Bạn có tin rằng những tên tội phạm sẽ giao nộp vũ khí của chúng trong khi chúng lại phụ thuộc vũ khí đó để thực hiện tội ác? Ngay cả khi có lệnh kiểm soát súng đi vào hiệu lực thì những vũ khí này vẫn đang lưu thông và những kẻ tội phạm vẫn đang sở hữu súng.

Thomass Jefferson nói về kiểm soát súng:

“Họ tước vũ khí chỉ của những ai không có chiều hướng hoặc đã xác định không phạm tội. Những luật như vầy chỉ làm tình hình trở nên tồi tệ hơn cho người bị tấn công và tốt hơn cho kẻ tấn công.”

Biện pháp kiểm soát súng cũng không chứng minh được đã tạo được rào cản đáng kể nào cho những kẻ tội phạm đang muốn sở hữu súng. Bất cứ ai với một số vật liệu đơn giản và có truy cập internet là đã có thể tìm thấy hướng dẫn cách và tự mình chế tạo súng. Trên thực tế điều sẽ xảy ra chỉ là súng sẽ được mua bán chợ đen. Hệ luỵ của nó là việc củng cố quyền lực của, hoặc sinh ra các tổ chức mafia nắm quyền kiểm soát việc kinh doanh này.

Như vậy, liệu luật kiểm soát súng có nên được áp dụng lên những công dân tuân thủ luật pháp như là biện pháp để bảo vệ họ, những công dân tuân thủ luật pháp, khỏi bọn tội phạm không để luật đó ràng buộc chúng?

Do nhóm tội phạm không bị ảnh hưởng bởi luật kiểm soát súng. Trên thực tế nhóm này là những ngưởi ủng hộ mạnh mẽ việc kiểm soát súng bởi vì nó giải trừ một cách hiệu quả vũ trang của những người mà chúng muốn làm hại.

Theo bản khảo sát Tội Phạm Quốc Gia Mỹ: “Nếu nạn nhân của vụ cướp không tự vệ, thì những kẻ cướp sẽ thành công trong 88% các trường hợp và nạn nhân sẽ bị thương trong 25% các trường hợp. Nếu nạn nhân chống cự lại với súng, tỷ lệ “thành công” của vụ cướp rơi xuống chỉ còn rơi xuống chỉ còn 30% và tỷ lệ nạn nhân bị thương giảm xuống còn 17%.”

Vậy cái gì là lợi ích của việc kiểm soát súng đối với những Người Tuân Luật. Phải chăng là sự giảm đi của tội phạm? Điều đó là không thể. Các số liệu thực tế từ các quốc gia gần đây ban hành luật kiểm soát súng chứng thực điều này. Hãy lấy ví dụ của Úc. Úc thiết lập kiểm soát súng năm 1996 và chính phủ đã thu giữ và tiêu huỷ 640, 381 vũ khí cá nhân, chương trình này cũng tiêu tốn của người đóng thuế Úc hơn 500,000 dollar và kết quả thu được sau 12 tháng là: tội phạm giết người tăng 32%. trên toàn nước Úc, các vụ tấn công tăng 86%.. Trên toàn nước Úc, các vụ cướp có vũ trang tăng 44%.

Chỉ riêng trong tiểu bang Victoria, tỷ lệ giết người có vũ trang tăng 300%. Cần lưu ý rằng trên thực tế trong khi những công dân tuân thủ luật pháp giao nộp súng, thì những kẻ tội phạm không, chúng vẫn sở hữu súng. Trong khi số liệu của 25 năm trước cho thấy tốc độ giảm đều đặn tỷ lệ cướp có vũ trang thì điều này đã thay đổi hoàn toàn sau 12 tháng thực thi luật kiểm soát súng tại đây, do giờ đây tội phạm được đảm bảo rằng các mục tiêu của chúng không được tự vệ.

Cảnh sát Úc đã thất bại trong việc giải thích tại sao an ninh công cộng lại giảm sút sau khi chính phủ đã tiêu tốn hàng đống tiền của và nhân lực cho chương trình quét sạch súng khỏi xã hội Úc. “Tự vệ không phải là lý do để sở hữu súng” – John Howard, Thủ tướng Úc, phát biểu. Và đó là một trong những lời nói dối vĩ đại của các chính trị gia.

Giả sử nếu chúng ta cũng tin vào luật kiểm soát súng, ai sẽ là người chúng ta sẽ trông cậy khi đó. Chỉ có một nhóm cuối cùng: Nhóm Làm Luật, hay là chính phủ. Chính phủ sử dụng các lực lượng công an, cảnh sát để bảo vệ chúng ta.

Chúng ta có một quyền được ban tặng bởi Tạo hoá là quyền tự bảo vệ bản thân. Từ đâu mà công an lấy quyền bảo vệ chúng ta? Thật vô nghĩa khi để cho công an bảo vệ mạng sống của chúng ta trong khi chúng ta là một cá nhân thì lại bị từ chối quyền đó.

“Khi cảnh sát nổ súng, thì việc họ bắn nhầm người vô tội gấp khoảng 55 lần hơn là thường dân bắn nhầm.” – David Kople

Những người Tuân Luật cần phải được sở hữu súng không chỉ để bảo vệ họ khỏi nhứng kẻ Phạm Luật mà quan trọng hơn khỏi những Người Làm Luật. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ thậm chí đã đảm bảo quyền sở hữu súng của dân chúng bằng cách đưa nó vào ngay trong Hiến Pháp Mỹ. Tu chính án số 2 viết: “Quyền của mọi người được trang bị và giữ súng, sẽ không bị xâm pham.”

“Những dự định tốt sẽ luôn được dùng để biện hộ cho các giả thuyết của nhà cầm quyền. Hiến Pháp được xây dựng để bảo vệ chống lại sự nguy hiểm của các dự định tốt đó.” – Noah Webster

Đây là lý do tại sao bước đầu tiên diễn ra trong một xã hội độc tài là tịch thu vũ khí của tất cả người dân. Nhìn lại lịch sử số lượng người vô tội bị giết nhiều nhất không phải do những Kẻ Phạm Luật, mà luôn bởi những Người Làm Luật.

  • Năm 1929, Liên bang Sô Viết thiết lập kiểm soát súng. Từ 1929 tới 1953, khoảng 20 triệu những người bất đồng chính kiến, không thể tự vệ bản thân, đã bị xếp hàng và hành quyết.
  • Năm 1911 Thổ Nhĩ Kỳ thiết lập kiểm soát súng. Từ 1915 đến 1917, 15. triệu người Armenia, không thể tự vệ bản thân, đã bị xếp hàng và hành quyết.
  • Đức quốc xã thiết lập kiểm soát súng năm 1938 và từ 1939 đến 1945, tổng cộng 13 triệu người Do Thái và người khác, không thể tự vệ bản thân, đã bị xếp hàng và hành quyết.
  • Trung Quốc thiết lập kiểm soát súng năm 1935. Từ 1948 đến 1952, 20 triệu người bất đồng chính kiến, kkông thể tự vệ bản thân, đã bị xếp hàng và hành quyết.
  • Uganda thiết lập kiểm soát súng năm 1970. Từ 1971 đến 1979, 300,000 người theo đạo Thiên Chúa Giáo, không thể tự vệ bản thân, đã bị xếp hàng và hành quyết.
  • Campuchia thiết lập kiểm soát súng năm 1956, từ 1975 đến 1977, 1 triệu “trí thuc”+’ , không thể tự vệ bản thân, đã bị xếp hàng và hành quyết.

Kiểm soát súng dựa trên một câu hỏi hết sức cơ bản: Bạn tin tưởng ai hơn: chính phủ hay người dân?

“Trong số nhiều hành động sai trái dưới sự cai trị của Anh Quốc tại Ấn độ, lịch sử sẽ nhìn vào luật tước đi vũ khí của người dân trên toàn quốc như là một trong những luật đen tối nhất.” – Mohandas K Gandhi

Nhưng hãy quên tất cả lý thuyết và quên tất cả con số thống kê, bởi vì kiểm soát súng thực sự không phải là về kiểm soát súng, mà là một thứ lớn hơn rất nhiều. Đó là về kiểm soát quyền, nó là về quyền của mỗi chúng ta để bảo vệ tính mạng, tài sản của bản thân và gia đình khi bị đe doạ. Nó là về việc một người sở hữu súng không có nghĩa anh ta là tội phạm hay có tội. Và trên hết thảy nó là về TỰ DO.

“Giài giáp nhân dân là cách hiệu quả nhất để nô lệ hoá họ.” – George Mason (Phỏng theo Ron Ownby Frisco)

Tại Việt Nam vụ án Lê Văn Luyện giết người cướp tiệm vàng đã có thể có kết cục không bi thảm đến thế nếu gia đình người chủ tiệm vàng được phép sở hữu và sử dụng súng để tự bảo vệ mình. Rõ ràng tên cướp khoẻ mạnh sẽ bất lợi hơn khi đối mặt với hai vợ chồng già nhưng có súng để tự vệ. Hãy hỏi những người chủ tiệm vàng rằng họ có muốn mọi người được phép sở hữu súng hay không?

Một ví dụ khác, nếu những người nông dân được phép sở hữu và sử dụng súng để bảo vệ mảnh đất của mình, có thể sự việc đã không tồi tệ đến thế khi ông Vươn dùng súng chống trả lại lực lượng cưỡng chế ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Những ông chủ tịch Huyện sẽ phải làm việc tôn trọng pháp luật hơn, sẽ phải nghiệm túc đàm phám với người dân, hơn là có thiên hướng sử dụng sức mạnh để trấn áp những người dân trong các giao dịch còn đang tranh cãi. Nếu người dân được phép sở hữu súng, sẽ có ít khiếu kiện đông người tranh chấp đất đai hơn, vì luật lệ khi đó sẽ được tôn trọng hơn do các ông chủ tịch xã hiểu được hậu quả khi người dân bị dồn vào bước đường cùng sẽ đứng lên và phản kháng với vũ khí của họ là như thế nào.

Nếu bạn nghĩ kiểm soát súng là để bảo vệ bạn, hãy suy nghĩ lại.

Quyền sở hữu và sử dụng súng để tự vệ là quyền cơ bản để bảo vệ tự do của chúng ta.

 

Thánh Ca Tự Do

Thị trường và đạo đức (kỳ 7)

 

Robert A. Sirico

Văn hóa của đức hạnh, Văn hóa của thương trường

Dẫn nhập

Tôi chọn Văn hóa của đức hạnh, Văn hóa của thương trường làm chủ đề cho bài viết này vì quan hệ giữa chúng là tâm điểm của Viện Acton. Người ta thường coi văn hóa của thương trường và văn hóa của đức hạnh là những tập hợp giá trị “mềm” đối chọi nhau và đã lỗi thời và có lý do xác đáng để làm như thế. Những người tuyên xưng nền văn hóa của đức hạnh thường phê phán thị trường tự do vì nó hạ thấp đời sống của con người và biến con người thành Con người kinh tế [Homo economicus], nó chỉ có giá trị vì khả năng kiềm tiền hoặc khả năng sản xuất mà thôi.

Tôi cho rằng quan điểm phê phán như thế – rất thịnh hành trong giới hàn lâm và tăng lữ – là thiển cận, mặc dù nó xuất phát từ thực tiễn và là mối quan tâm chính đáng đối với phẩm giá của đời sống và ước muốn nâng cao nền văn hóa nhằm bảo vệ cá nhân con người trong tất cả những biểu hiện phức tạp của anh ta. Nó là thiển cận vì không đưa ra được những điểm khác biệt chủ yếu và quan trọng – mà tôi sẽ lần lượt thảo luận – và như vậy là nó loại bỏ cái có thể trở thành công cụ đầy sức mạnh trong sự nghiệp xây dựng nền văn minh hướng vào sự bất tử và hướng vào tiềm năng của mỗi cá nhân con người.

Thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại không tôn trọng phẩm giá của con người. Nhưng nếu ta coi những người có thể trở thành đồng minh của chúng ta trong cuộc đấu tranh chống lại những lực lượng làm băng hoại phẩm giá của con người khi họ gặp khó khăn là do họ đã hiểu sai nền kinh tế thị trường thì đấy là một đại họa. Tôi tin rằng có thể sử dụng sự năng động của nền kinh tế thị trường nhằm củng cố văn hóa của đức hạnh. Sự tương tác, mâu thuẫn và sự hài hòa chung cuộc giữa văn hóa của thương trường và văn hóa của đức hạnh là những đề tài cần được tìm hiểu một cách căn cơ hơn.

Văn hóa của đức hạnh

Trước hết phải là rõ các định nghĩa. Văn hóa của đức hạnh là sự công nhận rằng đời sống của con người trên mặt đất không phải là thực tại tối hậu mà là thực tại áp chót (Evangelium Vitae, ch. 2)[1], và cuộc sống trên trần gian của chúng ta có mục đích vượt xa chính nó, mục đích là cuộc sống vĩnh hằng của chúng ta. Cuộc đời này chỉ là giả tạm, chỉ là giai đoạn chuyển tiếp đến cuộc sống vĩnh hằng, sao cho những gì có trong ta sẽ trở thành hạt giống cho sự sống đời đời. C. S. Lewis đã thể hiện một cách đầy thơ mộng như sau:

“Không có ai là người bình thường. Bạn chưa bao giờ nói chuyện với một người hữu sinh hữu tử. Quốc gia, nền văn hóa, nền văn minh – tất cả đều là sinh tử; so với cuộc sống của chúng ta, chúng chỉ là phù du. Nhưng những người mà bạn chơi bời cùng, làm việc cùng, sống cùng, những người bạn khinh thường và bóc lột – tất cả đều là những nỗi kinh hoàng không bao giờ mất hay là sự tráng lệ bất tử… Kẻ đứng cạnh Thánh thể, hàng xóm của bạn là báu vật thiêng liêng nhất dành cho bạn[2].”

Cuộc sống là món quà mà Thượng Đế đã ban cho chúng ta. Chúng ta phải giữ gìn cuộc sống với một trách nhiệm và sự cẩn trọng tối đa. Vì cuộc sống là quà tặng của Tạo Hóa cho nên nó mang theo giá trị linh thiêng ngay từ lúc còn trong bụng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, và mỗi người đều có quyền có một đời sống được tôn trọng ở mức cao nhất, có thể. Vì vậy mà chúng ta phải chống lại những tôn giáo không thể hiện phẩm giá của con người vì chúng đe dọa ngay chính cơ sở của nền văn minh, chúng chống lại tự nhiên và phá hoại chính bối cảnh, mà trong đó người ta được hưởng những quyền của mình.

Bất kỳ quy tắc đạo đức nào mà cho phép, thí dụ như: giết người, diệt chủng, kể cả diệt chủng nhiễm sắc thể (chromosonal genocide) và những trò hề kinh tởm của bác sỹ Kevorkian ở Mĩ, đều là trái với nền văn hóa của đức hạnh. Bất kỳ quy định đạo đức nào mà cho phép sự xúc phạm đối với phẩm giá của con người, như chế độ nô lệ, cầm tù một cách bất công và làm điếm cũng đều là trái với nền văn hóa của đức hạnh. Ta có thể nói tương tự như thế về những hệ thống chỉ coi con người là phương tiện cho những mục đích cao hơn chứ không phải là những con người tự do với phẩm giá vốn có của mình (Evangelium Vitae, ch. 2).

Nền văn hóa của đức hạnh đấu tranh nhằm bảo vệ cá nhân con người, kể cả những người yếu đuối nhất và không có khả năng tự vệ nhất. Đấy là nền văn hóa của sự bảo bọc, của lòng khoan dung và hòa bình. Nó là câu trả lời “Có” cho câu hỏi của Kinh Thánh: “Tôi có phải là người bảo vệ của người anh em của tôi hay không?” Nền đạo đức này quan tâm trước hết đến khía cạnh tinh thần, đồng thời còn chú ý đến cả chất lượng sống của con người nữa. Nó phải đấu tranh nhằm làm nhẹ bớt những nỗi khổ đau của con người và quan tâm đến việc phân bố một cách rộng rãi nhất, có thể, những nguồn lực của trái đất.

Văn hóa của đức hạnh và trật tự xã hội

Chỉ có trật tự xã hội đức hạnh – quy tắc hành xử của nó giữ cho xã hội không rơi vào hỗn loạn – mới có thể bảo vệ được phẩm giá của đời sống. Trật tự xã hội, như Russell Kirk nói[3], lớn hơn là luật pháp, mặc dù luật pháp được sinh ra từ đấy. Trật tự xã hội còn bao gồm cả phong tục, tập quán và đức tin của xã hội nữa. Muốn hiểu đúng nó thì chúng ta phải công nhận rằng xã hội dân sự gắn bó một cách không thể tách rời với tính cách của các cá nhân làm nên xã hội đó. Nếu xảy ra hiện tượng xuống cấp đạo đức, nghĩa là sự hỗn loạn trong tâm hồn của các cá nhân nằm trong xã hội đó, thì trật tự xã hội sẽ bị xấu đi.

Chúng ta có thể nung nấu trong lòng ước muốn cháy bỏng là phẩm giá của con người phải được thể hiện một cách rõ ràng trong các điều luật, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Đôi khi tôi sợ rằng những cố gắng chính đáng của chúng ta nhằm bảo đảm rằng những điều luật khuyến khích nền văn hóa nhằm củng cố và tăng cường phẩm giá của con người được thông qua, thì sự chú ý của chúng ta đã bị đi chệch hướng, đã không hướng vào trách nhiệm căn bản hơn nhằm đảm bảo rằng tự thân nền văn hóa của chúng ta (bao gồm cả các quy tắc xã hội và những định chế trung gian) – là bối cảnh cho sự hình thành luật pháp – góp phần củng cố phẩm giá của đời sống của con người.

Thương trường khuyến khích nền hòa bình giữa người với người

Liệu những người tôn trọng đạo đức có được tự do lựa chọn một trong những hệ thống kinh tế hiện hữu nhằm thúc đẩy những giá trị của họ hay không? Tôi không tin là như thế. Thí dụ, ta hãy xem xét xem chủ nghĩa xã hội quan niệm về con người như thế nào. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mọi người và mọi tài sản đều là sở hữu của nhà nước, mọi hoạt động kinh tế đều nằm dưới quyền kiểm soát của tập thể. Điều này đã dẫn tới những hậu quả khủng khiếp.

Thí dụ, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhà nước coi trẻ con như chúng vốn là trên thực tế: tiêu tốn nguồn lực của xã hội. Ludwig von Mises từng viết: “Không thể tưởng tượng được cộng đồng xã hội chủ nghĩa mà lại không có sự điều tiết một cách cưỡng bức sự phát triển dân số… ngay cả nếu cộng đồng xã hội chủ nghĩa có thể cho người ta “tự do luyến ái” thì nó cũng không thể nào cho người ta tự do sinh đẻ được.[4]”

Và ông đã nói đúng: mọi cuộc thí nghiệm xã hội chủ nghĩa đều dẫn đến những vụ cưỡng bức phá thai và hạn chế số nhân khẩu trong từng gia đình. Theo tôi, ưu việt lớn nhất của kinh doanh tự do là tính năng động đủ sức đáp ứng cho sự gia tăng một cách nhanh chóng dân số mà không bị nạn đói đe dọa. Chỉ có nền kinh tế tự do và sự gia tăng của cải mà nó mang lại mới có thể làm cho điều này trở thành khả thi mà thôi. Chủ nghĩa xã hội không thể nào làm được như thế.

Đặc điểm của thời đại ngày nay, xét về mặt kinh tế, là thu nhập gia tăng, niềm tin của người sản xuất và tiêu dùng tăng lên, cơ hội kinh doanh tăng, và sự phát triển đến kinh ngạc của công nghệ. Mặc dù các đảng phái đang tranh nhau xem ai là người đáng được khen vì những giai đoạn bùng nổ kinh tế như thế, nhưng thực ra lời khen đang hiện diện khắp nơi. Nguồn gốc của sự thịnh vượng hiện nay cũng như mãi mãi vẫn là nền kinh tế thị trường.

Thị trường không chỉ là khái niệm trừu tượng hay hệ thống sản xuất và phân phối. Thị trường còn là người dân, những người thực hành tiết kiệm và đầu tư, gánh chịu rủi ro, hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng, quan sát thương trường và thực hiện những giấc mơ của mình. Trong hoạt động kinh tế, họ là những nhà sản xuất, những người công nhân và người tiêu dùng đang cùng nhau hợp tác trong một mạng lưới trao đổi quốc tế rộng lớn, trong đó những người sống cách xa họ nửa vòng trái đất, mà họ chẳng bao giờ gặp, mua sản phẩm của họ và làm ra những sản phẩm mà họ sử dụng.

Trong một thời gian dài, các nhà triết học đã tìm cách trả lời cho câu hỏi chủ yếu của lý thuyết xã hội: xây dựng xã hội như thế nào để có thể có một nền hòa bình giữa các dân tộc, dù họ là những người khác nhau? Sự thành công của nền kinh tế thị trường cung cấp cho ta một câu trả lời: họ trao đổi. Từ những vụ trao đổi đơn giản nhất cho đến những vụ trao đổi phức tạp nhất trên thương trường người ta đều làm một việc giống nhau: những người tự nguyện trao đổi với nhau – đây chính là bản chất của thị trường – nghĩa là họ đang làm công việc nhằm làm cho ai cũng đều được thỏa mãn.

Đấy được gọi là “sự kỳ diệu của thương trường”. Không thể nào tưởng tượng nổi là hàng tỷ và hàng ngàn tỷ dollar trong quá trình trao đổi lại có thể đi khắp thế giới và đấy chính là nguồn gốc của sự thịnh vượng của gia đình chúng ta, vậy mà chúng ta chẳng cần để ý đến hoạt động của hệ thống này. Không có gì ngạc nhiên là cuối cùng thế giới đã nhận ra điều kỳ diệu của hệ thống hợp tác kinh tế toàn cầu. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy ý tưởng cho rằng nước nghèo sẽ càng nghèo hơn, còn nước giàu sẽ giàu thêm là sai.

Sự thật là trừ những nước còn tiếp tục tiến hành thí nghiệm với nền kinh tế kế hoạch hóa như Cuba và Bắc Triều Tiên, các nước nghèo đang giàu lên (thí dụ như Argentina và Trung Quốc) trong khi một số nước giàu – do việc bành trướng các kế hoạch do trung ương lập ra – mà đã gặp khó khăn (thí dụ như Đức và Pháp). David Dollar và Aart Krasy, trong một báo cáo gần đây do Ngân hàng Thế giới xuất bản, đã chứng minh rằng kinh tế phát triển làm cho thu nhập của người nghèo gia tăng theo cùng tỷ lệ với tất cả những người khác[5].

Nhưng thương trường không hoạt động một cách tự động, thị trường không được gắn la bàn đạo đức để người ta theo, văn hóa thương trường cần phải có điều kiện tiên quyết về mặt đạo đức, đấy là công nhận một số giá trị nền tảng. Những người tôn trọng thị trường cũng cần phải tôn trọng tính thiêng liêng của mỗi con người, tôn trọng sự phân phối một cách rộng rãi nhất tài sản, tôn trọng cơ hội rộng rãi nhất cho tính sáng tạo trong hoạt động kinh tế và vị trí cho mỗi người trong nền sản xuất của xã hội.

Điều đó có nghĩa là phải đặc biệt quan tâm tới định chế cực kỳ quan trọng là sở hữu tư nhân, tự do ký kết hợp đồng, cạnh tranh và sáng kiến trong kinh doanh; cũng cần phải hiểu rằng những định chế này không phải là mục đích tự thân mà là những công cụ được sử dụng nhằm vinh danh đấng Hóa Công, nhằm theo đuổi đức hạnh và lợi ích chung, nghĩa là sử dụng những cơ hội rộng rãi và thuận lợi trong khuôn khổ an toàn, tự do và tinh thần công dân.

Thị trường là định chế mạnh mẽ nhất mà ta có thể tưởng tượng được nhằm làm cho sự thịnh vượng và tính hiệu quả trở thành khả thi, nhằm thực hiện việc tính toán và phối hợp các nguồn lực trong xã hội, và đương nhiên là những điều kiện tiên quyết này là yếu tố cần thiết trong việc giúp đỡ người nghèo vì hiệu quả là điều kiện tiên quyết của quá trình phân phối. Nhưng tính hiệu quả phải được gắn vào trong khuôn khổ xã hội vì nó không chỉ là lời và lỗ. Xã hội tự do đòi hỏi những nền tảng đạo đức ngay từ nguyên tắc căn bản của chúng: sự cống hiến, lòng nhân từ, tinh thần trách nhiệm, hướng tới tương lai và tinh thần hy sinh.

Trái ngược với những khuôn mẫu do các phương tiện thông tin đại chúng dựng lên, người doanh nhân thành đạt hiểu rõ tất cả những tiêu chuẩn đó. Thành công trên thương trường xuất phát từ ước muốn phục vụ người khác, cả người tiêu dùng lẫn cổ đông; lợi nhuận bằng tiền có thể là động cơ hành động, nhưng tự bản thân, nó không thể là nền tảng của thắng lợi về mặt tài chính. Thị trường cạnh tranh buộc các doanh nhân lúc nào cũng phải nhìn ra bên ngoài và sẵn sàng phục vụ, nếu không họ sẽ mất thị phần.

Việc hướng ra bên ngoài như thế sẽ hình thành nên quan điểm xã hội của những doanh nhân thành đạt nhất; không phải ngẫu nhiên mà lĩnh vực từ thiện to lớn ở Mĩ lại do những người giàu có nhất trong xã hội tạo ra bằng cách hiến tặng tài sản của mình. Việc đóng góp cho quỹ từ thiện cũng gia tăng trong những giai đoạn kinh tế phát đạt. Đóng góp cho quỹ từ thiện là khẳng định rằng ích kỷ là không tốt, và cuối cùng thì tất cả chúng ta đều phải có trách nhiệm đáp ứng những nhu cầu rộng lớn hơn của con người chứ không chỉ những thứ chúng ta bắt gặp trên thương trường.

Điều đặc biệt cần nhớ là mỗi người tham gia thị trường đều không phải là do áp lực mà là hành động một cách tự nguyện. Khi hành động của chúng ta mang lại lợi ích cho người khác thì mỗi người đều được lợi. Và ngược lại, nếu thị trường tỏ ra tàn nhẫn với bất kỳ một người nào đó thì nó cũng sẽ tàn nhẫn với kẻ coi thường nhu cầu và giá trị của cộng đồng và chỉ theo đuổi tư lợi một cách mù quáng. Như vậy là, thị trường và lòng vị tha là những thực thể gắn bó với nhau và có tác dụng tăng cường lẫn nhau, nhưng không phải là chỉ cho các ông chủ tư bản mà sự liên kết còn mở rộng phạm ảnh hưởng lên toàn bộ hệ thống lao động và trao đổi nữa.

Văn hóa của thương trường giúp chúng ta làm trọn ý Chúa

Văn hóa của đức hạnh buộc chúng ta phải ước mong rằng tất cả những người có thiên hướng hoạt động đều được phép làm như thế. Trong Sáng Thế Ký, Chúa đã kêu gọi gia đình nhân loại đến với điều có thể được gọi là thiên hướng kinh doanh – Hãy sinh sản, thêm nhiều, làm cho đầy rẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng (Sáng Thế Ký, 1: 28, Kinh Thánh, Cựu Ước và Tân Ước, United Bibble Societies, bản in năm 1992 – ND) – một lời răn rõ ràng là phải làm việc và sáng tạo.

Thị trường cung cấp cơ hội tốt nhất cho người ta sử dụng khả năng sáng tạo trời cho của họ và trở thành người tham gia vào công việc xã hội một cách trọn vẹn. Những rào cản về mặt pháp lý và những sáng kiến trái khoáy do chính phủ dựng lên đẩy người dân ra khỏi nơi làm việc; ngăn cản nhiều người, không cho họ hoàn tiện khả năng của mình và không thể trở thành một phần sống động của quá trình phân công lao động của xã hội.

Văn hóa của thương trường còn có thể củng cố văn hóa của đức hạnh bằng một con đường khác nữa. Thị trường tự do – sự hợp tác một cách có kỷ luật và tự phát giữa hàng triệu triệu tác nhân riêng lẻ – tạo ra sự cải thiện điều kiện vật chất của nhân loại. Nó đã tạo ra nền y khoa hiện đại, cung cấp điện năng, nước sạch và bây giờ là khả năng tiếp cận thông tin đến những thành phần dân cư rộng rãi nhất trên thế giới.

Văn hóa thương trường thường được người ta mô tả như là “khả năng sống sót của những người phù hợp nhất”, trong đó đa số người hoặc là phải làm ra nhiều của cải hoặc là sẽ bị thương trường loại bỏ và trở thành thân tàn ma dại. Những người theo tư tưởng tập thể sẽ thuyết phục chúng ta rằng trên thực tế thị trường rất có hại đối với người nghèo. Nhưng sự thật là, nền kinh tế không bị chính trị nhúng mũi vào là phương tiện hiệu quả nhất trong việc sử dụng các nguồn lực và đáp ứng các nhu cầu của con người .

Để minh họa, tôi xin được trích dẫn một vài đoạn trong bài báo cuối cùng[6] của ông Julian Simon – một người bạn đã quá cố của tôi. Ông viết rằng mình đã tham dự một đám cưới và quan sát những người tham dự, từ những giám đốc các doanh nghiệp giàu có đến những người ăn mặc bình thường nhất. Ông nghĩ rằng cách đây hai trăm năm tổ tiên của mười chín trong số hai mươi người có mặt tại đó là những kẻ “vắt mũi chỉ đủ bỏ miệng”. Từ năm 1750 tất cả các chỉ số về điều kiện sống của người dân trong phần lớn các khu vực trên thế giới đã được cải thiện một cách đáng kể. Thí dụ như ở Anh, tuổi thọ trung bình lúc đó là khoảng 35, năm 1985 đa số dân Anh, cả đàn ông lẫn đàn bà, đều sống đến khoảng 70 tuổi.

Simon chỉ ra rằng thị trường không chỉ mang đến cho chúng ta các công cụ và những món đồ tinh xảo, rằng sự phồn vinh là biểu tượng của sức mạnh chinh phục thiên nhiên nhằm mang lại lợi ích cho chúng ta. Nó còn – thông qua những ngành công nghệ do trời phú cho – cho phép chúng ta cải thiện và kéo dài cuộc sống nữa. Những khám phá làm người ta sửng sốt trong lĩnh vực y khoa rõ ràng là nhằm phục vụ con người.

Do sự gia tăng của những định chế thị trường mà những tiến bộ về mặt vật chất như thế không chỉ dành cho những dân tộc hiện đang giàu có. Theo tính toán của nhà kinh tế học Richard Easterlin[7], trong thập kỷ tới, thu nhập bình quân của các nước gọi là Thế Giới Thứ Ba sẽ bằng khoảng 80% thu nhập trung bình trên đầu người của Mĩ vào năm 1990. Còn trong xã hội của chúng ta, những người sống dưới mức nghèo khổ cũng có khẩu phần ăn khá hơn là tầng lớp quý tộc châu Âu thế kỷ XVIII. Trong suốt 100.000 năm nhân loại chỉ tìm được cách ăn đủ no, còn bây giờ vấn đế đối với đa số lại là làm sao ăn ít đi[8].

Sự phát triển của trao đổi tương đối tự do còn làm cho xã hội trở thành vô cùng năng động. Mô hình trước đây của phải tả – trong đó mỗi tác nhân kinh tế đều hoặc là người làm thuê, người chủ hay người nghèo – đã không đưa ra được bức tranh kinh tế chính xác nữa. Cách đây hai mươi năm, chỉ những người giàu có nhất mới đầu tư vào thị trường chứng khoán, còn hiện nay, một nửa giới trung lưu tham gia vào lĩnh vực này. Càng ngày càng có nhiều người có quyền sở hữu hơn. Nghĩa là lợi nhuận của công ty đã được dân chủ hóa. Hy vọng rằng nền kinh tế đang phát triển nhanh hơn bao giờ hết sẽ lôi cuốn càng ngày càng đông người tham gia hơn.

Những vấn đề của thị trường

Nhưng thị trường cũng có một số vấn đề.

Thật bất hạnh và cực kỳ nguy hiểm là nhiều người lớn tiếng ủng hộ nhất cho thị trường đã không nhìn thấy nền tảng đức hạnh của tự do. Chúng ta phải gửi tới những người cho rằng xã hội có thể coi tài khoản ngân hàng là mối bận tâm chủ yếu thông điệp mạnh mẽ sau đây: trong nền kinh tế thị trường cũng còn cả những động cơ xấu xa nữa. Mục sư, Tiến sĩ Edmund Opitz nói như sau: “Thị trường còn cho thấy những người thiếu đạo đức, thể hiện trong suy nghĩ và hành động của họ – vì theo nghĩa rộng nhất của từ này – nó vẫn chỉ là thị trường mà thôi.[9]” Không phải tất cả các phương tiện kiếm tiền đều là đức hạnh cả, còn có những giá trị lớn hơn là lợi nhuận và sự thành công trên thương trường. Trong đó giá trị của cuộc sống phải giữ vị trí hàng đầu.

Như tôi đã nói, sự bùng nổ của các ngành công nghệ trong lĩnh vực y học góp phần nâng cao phẩm giá của con người. Chúng ta có những loại thuốc làm cho người ta sống lâu hơn, chúng ta có những biện pháp phẫu thuật có thể giúp cả những đứa trẻ còn nằm trong bụng mẹ, chúng ta có những loại thuốc có thể làm dịu những cơn đau không thể nào chịu đựng nổi. Thị trường làm cho tất cả những tiến bộ như thế trở thành khả thi, tất cả đều nhằm nâng cao đời sống của con người.

Xin xem xét một trường hợp: Giáo sư Stephen Hawking. Cách đây ba mươi năm có thể ông đã phải nằm trong khu điều trị của bệnh viện của nhà nước, nhưng nhờ có công nghệ tiên tiến mà ông có thể trình bày trí tuệ và hiểu biết của mình (xin nói thêm là không phải tôi tán thành tất cả những điều ông nói) cho cử tọa rộng rãi trên toàn thế giới.

Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ của công nghệ cũng lại xuất hiện những phương tiện có thể đe dọa chính cuộc sống. Khả năng tạo ra người bằng nhân bản vô tính là một trường hợp. Việc công nghệ có thể làm được một cái gì không có nghĩa là chúng ta phải làm cái đó, Acton từng nói: “Tự do mà chúng ta đang nói tới không phải là tự do muốn làm gì thì làm mà là tự do làm điều chúng ta nên làm.” Cho nên tất cả những cố gắng của chúng ta đều cần phải được hướng dẫn bởi chữ “nên” huyền bí.

Mục đích và tính chính đáng của công nghệ là nó phục vụ cộng đồng nhân loại. Nhưng nếu nhân bản vô tính con người đi quá xa ý nghĩa của nó đến mức là nhân loại có thể không còn là cha mẹ của những đứa con của mình nữa mà họ sẽ tạo ra chúng, và tất cả những gì chúng ta làm ra hay tạo ra đều là của chúng ta thì điều đó sẽ hạ thấp phẩm giá đời sống của con người và dẫm đạp lên quan niệm về tính bất khả xúc phạm nhân quyền và phẩm giá của con người.

Thị trường phải dựa trên cơ sở đạo đức của đời sống hay đạo đức của tôn giáo. Và trong khi những câu hỏi mang tính đạo đức về cuộc sống và sự chết chắc chắn không phải bao giờ cũng dễ hiểu, nhưng những câu hỏi này không xuất hiện trong chân không đạo đức vì nhiều người còn phải sống và chết với những nguồn lực giới hạn. Đức hạnh trong ngành y và công nghệ y học là những vấn đề khác nhau, và đạo đức phải thâm nhập vào công nghệ.

Sự tiến bộ của công nghệ không chứa đứng trong nó nguyên lý đạo đức nội tại làm kim chỉ nam cho chính nó. Nếu đúng là nó cải thiện điều kiện sống của nhân loại thì nó phù hợp với đạo đức của cuộc đời, nó phải có tiêu chuẩn đạo đức khách quan làm kim chỉ nam.

Chủ nghĩa tiêu thụ

Chủ nghĩa tiêu thụ – được nhiều người coi là nền văn hóa do thị trường tạo ra – thì sao? Đây đúng là vấn đề nhức nhối. Nó phát sinh khi mục đích của cuộc đời là gom góp tài sản và những thú vui vật chất. Theo nghĩa này thì nó đúng là hình thức mới của lời báng bổ thánh thần xưa cũ. Nhưng xin nhớ rằng khi nói về chủ nghĩa tiêu thụ và sự sùng bái vật chất là chúng ta đang nói về những vấn đề của văn hóa chứ không phải những vấn đề của kinh tế học.

Nói cho ngay, trong khi thị trường tạo ra nhiều sự cám dỗ thì nó cũng cung cấp cho chúng ta những biện pháp giúp khắc phục được chúng. Nó cung cấp cho chúng ta những phương tiện cụ thể nhằm giúp chúng ta hướng đến một đời sống vượt lên trên những mối lo lắng tại đây và lúc này.

Thí dụ như cuộc cách mạng thông tin đưa đến cho chúng ta những cơi hội mới nhằm củng cố đức tin của chúng ta: qua mạng. Cũng cần nhớ rằng sáng kiến đã giúp chúng ta đọc Kinh thánh nữa: trước đây chỉ trong nhà thờ mới có những cuốn sách đắt tiền và đa số người trên 40 hay 50 tuổi không thể nào đọc được. Bây giờ đèn điện cho phép ta đọc ngay cả khi trời tối. Xin hãy suy nghĩ về sự kiện sau đây: đọc sách trước khi đi ngủ, một cái thú mà phần lớn ông bà tổ tiên của chúng ta không được hưởng vì không có điện và không có những cuốn sách hợp túi tiền.

Quảng cáo

Xin được nói đôi lời về quảng cáo như một chức năng của thị trường. Quảng cáo có thể được coi là một công cụ giáo dục, một phương tiện cạnh tranh hợp pháp và một phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu. Nó đáng được bảo vệ. Nhưng người sử dụng cũng phải có tinh thần trách nhiệm.

Thí dụ, không được khuyến khích người tiêu dùng coi tha nhân chỉ là những đối tượng. Xu hướng gợi dục thường được sử dụng trong lĩnh vực quảng cáo là một vấn đề. Nó khuyến khích người xem, thường là đàn ông, coi người đàn bà ăn mặc hở hang như là đối tượng – chỉ có thể xác mà không có linh hồn, coi thường nhân phẩm của người đó – mà không cần biết người phụ nữ ấy là ai.

Đây có thể là nhận thức mới đối với chân lý trong giới quảng cáo! Xếp sang một bên sự kiện là đã có nhiều vụ kiện tụng về thuốc lá ở Mĩ, tôi cho rằng có lý do để lo lắng về những chiến dịch quảng cáo nhằm tung ra thị trường những sản phẩm có hại cho sức khỏe của thanh niên.

Một hai năm trước nhiều người đã lên tiếng phê phán gay gắt ngành công nghiệp thời trang dị hợm gọi là: “heroin look” [tạm dịch: Vẻ ngoài ma cô – ND]. Đấy là sử dụng một cách vô trách nhiệm quảng cáo nhằm lôi kéo người ta vào những con đường có hại cho chính cuộc sống. Thông tin là một chuyện, còn lôi kéo người ta vào những việc xấu xa lại là chuyện khác.

Cũng cần phải nói rằng thị trường không chỉ là mua và bán. Nó còn là thuyết phục về mặt đạo đức, là sự xúc phạm đối với xã hội, sự tẩy chay và bảo vệ nữa. Tất cả những điều đó đều có chức năng xã hội. Thí dụ, những người theo tôn giáo truyền thống tẩy chay những người quảng cáo khi họ tung ra những hình ảnh bất công về tôn giao là hoàn toàn hợp pháp và đúng đắn. Nói cho ngay, ta phải có trách nhiệm – và rất cần – sử dụng tiếng nói của họ trong xã hội tự do.

Và những vụ phản đối chống lại những nhà quảng cáo sử dụng những kỹ thuật thiếu đạo đức đã làm cho ngành công nghệ thay đổi đột ngột cách tiếp cận của họ, bất ngờ tạo ra cái mà họ gọi là: “the happy look” [tạm dịch: Vẻ ngoài hạnh phúc]. Chỉ cần áp lực xã hội là ngành công nghiệp này, trong đa số trường hợp, đã từ bỏ những kỹ thuật hào nhoáng bề ngoài nhưng vô tích sự và tiếp thu cách tiếp cận thị trường gần gũi với cuộc đời hơn.

Tổng thống Mĩ, ông Bill Clinton, là một trong những người phê phán kiểu quần áo “vẻ ngoài ma cô”, điều thú vị là lúc đó ông đã đưa ra những nhận xét rất thích hợp và rất có sức thuyết phục. Nền tảng triết lý của những nhận xét đó là gì? Cơ sở của nó là triết lý cộng đồng luận, một phong trào trí thức xuất hiện đúng vào giai đoạn cầm quyền của Clinton. Phong trào này – thu phục được cả những người tân tự do lẫn tân bảo thủ – khẳng định rằng hiện nay chúng ta thảo luận quá nhiều về quyền nhưng lại ít thảo luận về trách nhiệm. Chúng ta nghe nói về “xã hội phải có trách nhiệm gì với tôi”, nhưng không nghe thấy nói về trách nhiệm của chúng ta đối với xã hội.

Phong trào này đã cung cấp cho đất nước biện pháp chỉnh lý hữu ích đúng vào lúc nó phải suy nghĩ về sự kết hợp kỳ quặc giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cá nhân. Nhưng chúng ta cũng phải thận trọng đối với những giải pháp của triết lý cộng đồng luận. Nếu quan niệm đạo đức của họ đối với xã hội thúc giục chúng ta quan tâm hơn nữa đến lợi ích chung và ít đòi hỏi chính phủ phải làm cho cá nhân chúng ta hơn thì đấy là phong trào tốt.

Nhưng nếu nó chỉ được sử dụng nhằm bao che cho sự can thiệp vào công việc kinh doanh của chúng ta, can thiệp vào đời sống cộng đồng và đời sống của gia đình chúng ta thì đấy là một phong trào nguy hiểm. Nhưng cần ghi nhận rằng đa số những vấn đề mà những người theo phái cộng đồng luận nêu ra đều là do sự can thiệp quá đáng của chính phủ vào hoạt động của xã hội vì chính phủ thường có xu hướng chia rẽ chứ không gắn kết con người lại với nhau.

Kết luận

Mặc dù chủ nghĩa xã hội – như một hệ thống kinh tế – đã thất bại, chúng ta vẫn thường nghe thấy người ta chê bai chủ nghĩa tư bản và nền kinh tế thị trường vì những thất bại của chúng trong việc phục vụ quyền lợi của cộng đồng nhân loại. Một số thành tích của thị trường bị mang ra phê phán. Hệ thống lời và lỗ không phải là toàn bộ cộng đồng nhân loại, nhưng một số người ủng hộ thị trường lại nghĩ như thế.

Thiếu ý thức văn hóa về những giá trị cao hơn là sự thịnh vượng về kinh tế thì văn hóa không thể phát triển trong dài hạn được. Muốn cho sự thịnh vượng về vật chất có ý nghĩa nào đó thì những giá trị như tính trung thực, lương thiện và lòng nhân hậu ngay từ khởi thủy phải xuất phát từ nền tảng đạo đức.

Điều thường bị người ta đánh giá thấp – vì phải suy nghĩ nghiêm túc thì mới hiểu được quan hệ nhân quả của nó – đấy là quan hệ trực tiếp giữa thành công trong lĩnh vực kinh doanh, sự thịnh vượng ngày càng gia tăng và những bước tiến đầy ấn tượng trong việc nâng cao sức khỏe và hạnh phúc của con người.

Văn hóa của thương trường có thể củng cố văn hóa của đức hạnh. Thông điệp này cần được đem ra thảo luận công khai. Những người theo trường phái tự do cấp tiến phủ nhận điều này là đang làm những việc không có lợi cho nguyên tắc tự do kinh tế.

Đồng thời, chúng ta cũng phải giúp những trợ thủ của chúng ta, những người đang cổ vũ cho văn hóa của đức hạnh để họ hiểu rằng chúng ta không cỗ vũ cho chủ nghĩa tư bản chỉ biết đến lợi nhuận, tức là chủ nghĩa tư bản phó mặc con người cho những lực lượng kinh tế mù quáng và không ăn sâu bén rễ vào đạo đức nền tảng của cuộc đời, của con người và tài sản.

Điều chúng ta đề nghị là một nền kinh tế tự do, tức là nền kinh tế đặt con người vào chính trung tâm của những hoạt động kinh tế đơn giản là vì con người là nguồn gốc của mọi sáng kiến kinh tế. Cho phép tôi được nói một cách dứt khoát rằng thị trường thấm đẫm những giá trị của tự do và đức hạnh là người trợ thủ cực kỳ cần thiết của trật tự xã hội tôn trọng phẩm giá của con người.

Tôi xin kết thúc ở đây với một vài trích dẫn của Alexis de Tocqueville và Lord Acton.

Tocqueville viết: “Chế độ chuyên chế có thể cai trị mà không cần đức tin, nhưng tự do thì không…. Trong chế độ cộng hòa, tôn giáo còn cần thiết hơn các chế độ khác. Nếu những liên kết đạo đức không được củng cố khi những mối liên kết chính trị được buông lỏng ta thì làm sao xã hội không bị hủy diệt cho được?[10]”

Còn Lord Acton thì tuyên bố: “Không có tôn giáo thì không nước nào có thể được tự do. Tôn giáo tạo ra và củng cố khái niệm về nghĩa vụ. Nếu không dùng nghĩa vụ thì phải dùng sự sợ hãi để kiềm chế người ta. Mà càng bị kiềm chế bằng sợ hãi thì càng ít tự do. Tinh thần trách nhiệm càng cao thì càng nhiều tự do hơn.[11]”

 

Phạm Nguyên Trường dịch
Nguồn: Capitalism, Morality and Markets


[1] Pope John Paul II, Evangelium Vitae, 25 March 1995, no.39.
[2] C. S. Lewis, The Weight of Glory and Other Addresses, Collier Books/Macmillan
Publishing Co., 1980, p. 19.
[3] Russell Kirk, The Conservative Mind, Regnery Publishing, Inc., Washington, 1995, p. 68.
[4] Ludwig von Mises, Socialism, Liberty Classics, Indianapolis, 1989, p. 175.
[5] David Dollar and Aart Kraay, ÔGrowth Is Good for the PoorÕ, World Bank, March
2000 .
[6] Julian Simon, “Simon Said: Good News! There Are Fewer Constraints With Each New Generation”, Washington Post, 22 February 1998, p. CO1
[7] Richard A. Easterlin, Growth Triumphant: The Twenty-first Century in Historical Perspective, The University of Michigan Press, Ann Arbor, MI, 1996.
[8] Simon, op cit.
[9] Edmund Opitz, Religion and Capitalism: Allies, Not Enemies, Foundation for Economic Education, Irvington-on-Hudson, NY, 1992, p. 80.
[10] Alexis de Tocqueville, Democracy in America. trans. George Lawrence, ed. J.P.
Mayer, Harper Perennial, New York, 1988, p. 294.
[11] Lord Acton, Essays in Religion, Politics and Morality: Selected Writings of Lord Acton,
ed. J. Rufus Fears, Liberty Classics, Indianapolis, 1988, p. 650.

Joe Rogan — Lựu đạn bạn là một con NGƯỜI [THĐP Vietsub]

 

“Bạn ràng buộc bản thân và tâm trí vào một ý thức hệ nào đó thì bạn sẽ đi theo một con đường, và con đường đó có thể hoặc không thể dẫn bạn đi theo một phương hướng tốt nhưng bạn sẽ vẫn phải đi trên con đường chết tiệt đó nếu bạn dính mắc vào một hệ tư tưởng, và nó có thể là một con đường tồi tệ. Nó có thể là một con đường dẫn tới sự cắt bỏ âm vật của con gái bạn bởi vì đó là một truyền thống chết tiệt, giống như việc mấy bà điên ở Châu Phi cắt một lỗ trên môi, kéo dãn nó ra để nhét dĩa vào đó. Tại sao thế? Bởi vì họ đang đi trên một con đường chết tiệt.”

[youtube https://www.youtube.com/watch?v=3OGa1guw9f8?rel=0]

Nói đi em…

Featured Image: Emily Soto

 

Em hãy nói đi em
Đừng chôn tất cả trong cõi lòng như vậy
Em sẽ mệt mỏi lắm đấy
Nên em hãy nói ra, nói với bất kỳ ai…

Em đừng để trái tim em mệt nhoài
Khi em cứ lặng im với bao nhiêu mỏi mệt
Em hãy nói với những người thân thiết
Và nếu không thể, em hãy nói với một người dưng…

Em vẫn trách cuộc đời chẳng ai hiểu em, có đúng không?
Em nhìn lại mình đi, em chẳng chịu mở lòng với ai hết cả
Tâm hồn em, em đã đóng lại với trăm nghìn chiếc khóa
Ai sẽ là người mở ra đây?

Xin em hãy dang rộng đôi tay
Hãy mở lòng mình ra, dù cuộc đời có bao nhiêu cay nghiệt
Có một điều mà em cần phải biết
Đó là…

Nếu như em không chịu nói ra
Thì em đừng trách là không ai nghe em nói
Em đừng trách tôi, bởi vì tôi cũng rất mệt mỏi
Mệt mỏi với chính sự im lặng của em…

Nào, bây giờ em hãy nói đi em…

 

Một Đời Quét Rác

Khi lòng đã tắt

Featured Image: Raffaele Camardella

 

Tôi đang thắc mắc những người tham nhũng, những người hủy hoại thế hệ đi sau, những người đạp lên đầu người khác giành sự tồn tại liệu có giật mình thức dậy lúc nửa đêm để thở hồng hộc với mồ hôi toát đầm đìa?

Nghĩ cũng ngộ, đất nước này chịu quá nhiều tổn thương trong suốt chiều dài lịch sử rồi (trong số những “vết thương” đó có tuyến đường sắt mà tới giờ không có cái thứ 2 thay thế trong trường hợp xấu nhất xảy ra, có những cây cầu già cỗi nhưng chưa có dấu hiệu thấm nứt như hầm chìm dưới sông hay nham nhở như đường cao tốc nào đó v.v..), hà cớ gì lại tiếp tục đóng cửa ẩu đả nhau để tự làm đau chính mình và người khác?

Nếu không làm việc gì xấu, nếu mình minh bạch thì mọi thế lực dù mạnh đến cỡ nào cũng không thể quật ngã. Vậy tại sao thỉnh thoảng lại chặn blog này blog kia, web này web nọ?

Tôi được coi là “chủ”, nhưng có cảm giác như tôi đang là “vật chủ” để bọn ký sinh trùng sống bám và hút triệt để đến giọt máu cuối cùng. Tôi kêu gào, tôi dùng dao thẻo từng thớ thịt để moi cho bằng được đám sinh vật vô lại ấy ra, nhưng chính hành động cầm dao của tôi lại bị quy chụp là có âm mưu sát hại đồng loại. Tôi mong chờ ngày được sang cái làng bên chữa vết thương, và khi tôi trở về, đừng gọi tôi là thằng phản bội làng quê nơi tôi sinh ra và lớn lên, bởi vì nơi đây không có nổi một bác sĩ giỏi để cho tôi một liều thuốc an thần chứ đừng nói chi là trị dứt căn bệnh trầm kha mà bọn tôi – công dân có chỉ số hạnh phúc cao ngất ngưỡng theo đánh giá vớ vẩn nào đó – đang dính hàng loạt. Liệu có nên cảm ơn “những người dẫn đường thông thái”?

Nên đọc truyện cổ tích Việt Nam nhiều hơn nữa, Mai An Tiêm từng nói: “Của biếu là của lo, của cho là của nợ.” Chẳng lẽ ai cho cái gì mình cũng hí hửng nhận sao? Ví dụ: dân làng bán máu, bán mồ hôi và nước mắt để góp tiền mua siêu xe Bugatti Veyron và tin tưởng giao cho bạn để bạn lèo lái họ đi khai phá một mảnh đất mới – nơi chất lượng giáo dục và đào tạo sánh ngang tầm với thành thị, nơi người lao động không phải chật vật mưu sinh, nơi trẻ em, phụ nữ, người già được bảo vệ an toàn, nơi động vật hoang dã không phải kêu gào cùng những cánh rừng đang dần ngã quỵ, nơi khoáng sản sâu trong lòng đất có được giấc ngủ yên lành, nơi dân làng cùng báo chí có thể trải lòng ra một cách vẹn nguyên mà không bị kết tội phản bội, v.v..

Dù cho nó có bị gọi là “Utopia” đi chăng nữa – nhưng bản thân bạn không biết lái xe thì bạn cũng nhận sao? Bạn từng ngồi trên xe không có nghĩa là bạn biết lái xe, mà giả sử bạn biết lái xe chưa chắc gì bạn đã biết lái đến đúng chỗ mà dân làng muốn đến, bởi vì bạn cứ nghĩ lợi ích cho bạn thôi, bạn nghĩ là chỗ đó mới hợp với gia đình của bạn, để dễ dàng thâu tóm những vị trí đẹp nhất, sang trọng và tiềm năng nhất, chứ không phải gia đình của họ, dù họ chỉ cần những chỗ để ngã lưng một cách vô tư lự mà không phải lo canh cánh bị cướp bóc, trộm cắp và hiếp dâm! Đây chẳng phải là một điều đáng hổ thẹn, cần xin lỗi và cần trả xe lại cho dân làng để họ giao cho người phù hợp hơn sao?

Tôi cảm thấy lòng mình đã tắt với nơi đây rồi!

Khi lòng đã tắt, người ta không muốn hồi âm bất cứ cái thư gì của bất kỳ ai dù đã đọc đi đọc lại hàng chục lần (do ngày nào cũng check mail 5,6 lượt)…

Khi lòng đã tắt, người ta chỉ biết mỉm cười ban ngày với gia đình, bạn bè để rồi đêm về lúc chỉ còn một mình thì lại mếu máo như vừa mất đi thứ gì rất quý giá (giống Lão Hạc bán đi con chó Vàng).

Khi lòng đã tắt, người ta sẽ lắng nghe một cách quán tính những chia sẻ của người khác, lời nói đi vô lỗ tai này thì thoát ra lỗ tai bên kia, nếu cơn chán chường lên tới đỉnh điểm, người ta thậm chí còn hét toáng lên với người đang cố gắng kéo mình ra khỏi vũng lầy với bàn tay ấm áp và ánh mắt trìu mến nhất: “IM ĐI!”

Khi lòng đã tắt, người ta không còn chú trọng vào việc chăm chút cho bản thân nữa, người ta không còn sân si khi thấy người khác đang khoác những bộ cánh hàng hiệu, chạy con xe đắt tiền và xài điện thoại đời mới nhất nữa.

Khi lòng đã tắt, người ta coi chuyện tình cảm cũng chỉ là một liều thuốc an thần giống như một kẻ nghiện ngập đang tìm cách tái hiện cảm giác phê, đắm chìm trong thế giới màu sắc bay bổng bằng việc hút, hít, chích và cắn thuốc…

Khi lòng đã tắt, người ta lắc đầu trước những cơ hội việc làm, chỉ nằm bần thần ra đó hoặc đi ra đi vô như một bóng ma, lặng lẽ lướt trên đường phố và không nhận được sự quan tâm của bất kỳ ai.

Khi lòng đã tắt, người ta lao vào thế giới internet, ru ngủ mình bằng những lời khuyên sáo rỗng từ những fanpage hay status của bạn bè, nhanh chóng bấm like nhưng rồi cũng âm thầm bỏ đi.

Khi lòng đã tắt, người ta nghe nhạc với cường độ âm thanh lớn nhất nhưng giọng nói quá bé để có thể rên la như một con thú bị trúng bẫy, đang giẫy giụa từ ngày này sang ngày khác với luồng máu cạn dần.

Khi lòng đã tắt, người ta không còn tin nữa, không còn tin vào những phép màu nhiệm đã xảy đến trong quá khứ nữa. Người ta muốn tìm đến một tôn giáo để có thể trút bỏ những dối trá lọc lừa vô tình thu lượm được trong hành trình khổ đau kia.

Khi lòng đã tắt, người ta trở về đúng bản chất của mình, không còn đánh bóng vẻ hào nhoáng, không còn những xu nịnh, bon chen, không còn sự tự tin, năng động của một thời rực rỡ….

Và khi lòng đã tắt, nghĩa là người ta đã không còn mong chờ và đợi mong bất cứ điều gì nữa rồi…

 

Quách Dự Tây

Tôi là cây bút chì

 Featured Image: Andrew Taylor

 

Leonard E. Read (1898-1983) thành lập Tổ chức Giáo dục Kinh tế (Foundation for Economic Education-FEE) năm 1946 và làm chủ tịch của tổ chức này cho đến khi qua đời. FEE là một trong những trung tâm nghiên cứu tự do (think tank) đầu tiên của Mỹ.

“Tôi, Cây Bút Chì,” tiểu luận nổi tiếng nhất của ông, được ấn hành tháng 12, 1958 trong tạp chí Người Tự Do. Dù có một vài những thay đổi trong cách thức và nơi sản xuất bút chì, những nguyên tắc trong bài này vẫn không đổi.

***

Tôi là một cây bút chì–một cây bút chì bằng gỗ, tầm thường và quen thuộc với những em học sinh và người lớn biết đọc và biết viết.

Viết vừa là nghề chính vừa là nghề phụ và là thú vui của tôi. Đó là những việc tôi làm. Có thể bạn đang thắc mắc là tại sao tôi lại viết về gia phả của mình. Xem nào, để bắt đầu, phải nói là câu chuyện đời tôi là một chuyện rất thú vị. Và thứ nữa, tôi là một bí ẩn–còn bí ẩn hơn cả một cái cây hay một buổi hoàng hôn, hay ngay cả một tia chớp.

Nhưng, buồn thay, những người dùng tới tôi vẫn thản nhiên sử dụng và chẳng buồn tìm hiểu nguồn gốc của tôi như thế nào, cứ như thể sự hiện hữu của tôi chỉ là một tình cờ ngẫu nhiên và chẳng có căn nguyên chi hết. Cái thái độ rẻ rúng ấy đẩy tôi xuống hạng những đồ vật hạng xoàng. [Nhưng] Đó là một loại sai lầm khủng khiếp mà nhân loại không thể tồn tại lâu dài được mà không gặp nguy hiểm. Lý do là vì, như nhà thông thái G. K. Chesterton đã nói:

“Chúng ta bị héo tàn đi vì thiếu sự tò mò, chứ không phải vì thiếu những điều kỳ diệu.”

Tôi, Cây Bút Chì, dù có bề ngoài đơn giản, đáng để cho các bạn phải kinh ngạc, vâng, đó là điều mà tôi sẽ cố thuyết phục các bạn. Thực ra, nếu bạn có thể hiểu tôi–không, đối với nhiều người, đây quả là một đòi hỏi quá đáng–hay nếu bạn có thể cảm nhận sự huyền diệu được hình tượng hóa qua bản thân tôi, thì bạn có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được sự tự do đang bị mất dần đi. [Cuộc đời tôi] là một bài học thâm thúy. Và bản thân tôi có thể dạy bài học này hay hơn một chiếc xe hơi hay một cái máy bay, hay một cái máy rửa chén, bởi vì, thực ra, tôi có một bề ngoài đơn giản.

Đơn giản? Đúng thế! Nhưng tôi dám cá là không có một cá nhân nào trên trái đất này biết cách chế tạo ra tôi. Nói nghe có vẻ lập dị, phải không các bạn? Nhất là khi ta thấy có vào khoảng một tỷ rưỡi cây bút chì được chế tạo hàng năm tại nước Mỹ.

Xin bạn hãy cầm tôi lên và ngắm nghía xem. Bạn thấy gì nào? Chẳng có gì hấp dẫn đôi mắt cả–một chút gỗ, chút sơn, cái nhãn hiệu, than chì, chút kim loại, và một cục tẩy.

Vô số tiền nhân

Nếu như bạn không thể truy nguyên gia phả của bạn từ nhiều đời trước, thì đó cũng là điều bất khả cho tôi để kể tên và giải thích tất cả những tiền nhân của mình. Nhưng tôi cũng cố kể ra một số đủ để lấy le với bạn về cuộc đời phong phú và phức tạp của tôi.

Cây gia phả của tôi bắt đầu, thực ra, là một cái cây, chính là một cây tuyết tùng có thớ gỗ thẳng, mọc tại miền bắc của tiểu bang California và tiểu bang Oregon. Bây giờ bạn hãy thử tưởng tượng ra tất cả những nào cưa, nào xe vận tải, dây chão và vô số những dụng cụ khác nhau để đốn những cây tuyết tùng xuống và kéo ra lề đường. Hãy thử nghĩ đến tất cả những người thợ và vô vàn những kỹ thuật cần thiết tạo nên nghề thợ rừng: đào mỏ lấy quặng sắt, luyện thép và chế biến thành lưỡi cưa, lưỡi búa, động cơ; việc trồng những cây gai dầu và quá trình chế biến thành những sợi dây chão to lớn và chắc chắn; rồi những trại cưa có phòng ngủ và phòng ăn và bếp núc cho nhân viên. Có cả hàng ngàn người không ai biết đến đã góp phần vào tạo nên một ly cà phê buổi sáng cho những người thợ rừng.

Những thân gỗ sau khi đốn xong được chuyên chở bằng xe lửa tới một nhà máy cưa ở San Leandro, bang California. Bạn có thể tưởng tượng ra những người chế tạo ra những toa xe lửa, đường rầy và những kỹ sư hỏa xa đã chế tạo và xây dựng ra những hệ thống thông tin phụ thêm vào đó? Những điều này thuộc về vô số tiền nhân của tôi.

Bây giờ hãy xem đến nhà máy xẻ gỗ ở San Leandro. Những thân gỗ tuyết tùng được xẻ thành những lát gỗ mỏng và cưa thành những thanh gỗ có chiều dài bằng cây bút chì, dầy khoảng 0.6 phân. Rồi lại còn có những lò nướng và nhuộm màu cho những thanh gỗ này như kiểu phụ nữ thoa phấn lên mặt. Người ta muốn tôi có màu sắc đẹp đẽ chứ không phải màu trắng nhợt nhạt của gỗ. Xong rồi những thanh gỗ này được thoa sáp và nướng khô thêm một lần nữa.

Bao nhiêu kỹ thuật đã đổ vào việc chế tạo nên lò nướng và máy nhuộm, vào việc tạo ra sức nóng, điện lực và ánh sáng, động cơ, dây cu-roa, và những vật dụng cần thiết khác trong một nhà máy cưa? Phải kể luôn những người thợ quét dọn nhà máy nữa chứ? Vâng, và phải kể luôn những người đã đổ bê-tông làm nên cái đập thủy điện cho Công ty Điện lực và Khí đốt thiên nhiên Thái Bình Dương, tức là công ty cung cấp điện cho nhà máy cưa này.

Cũng đừng nên quên những bậc tổ tiên hiện tại và quá khứ của tôi đã góp phần vào việc chuyển vận sáu mươi toa xe chở những thanh gỗ đi khắp nước.

Rồi vào đến xưởng làm bút chì–gồm có bốn triệu đô-la tiền máy móc và nhà cửa, tất cả vốn liếng tích lũy từ bao nhiêu tổ tiên của tôi ky cóp để dành–mỗi thanh gỗ được xẻ 8 cái rãnh bằng một cái máy rất phức tạp, sau đó một cái máy khác đặt chì vào những thanh gỗ khác, rồi được trét keo và đặt chồng lên nhau như những miếng bánh sandwich kẹp chì vậy. Tôi và 7 anh em khác được “đẻ” ra từ cái bánh mì kẹp chì này.

Cái “ruột” chì của tôi, gọi như vậy chứ thật ra chẳng có chút chì nào cả, cũng rất phức tạp. Bột than (chì) được lấy lên từ mỏ ở Ceylon. Hãy nghĩ đến những người thợ mỏ và những người thợ làm bao nhiêu những vật dụng khác và những người thợ làm bao giấy đựng bột than chì để chuyên chở, rồi những người thợ làm dây để buộc những bao này lại, rồi những công nhân bốc vác những kiện hàng này lên tàu thủy, rồi những người thợ đóng tàu thủy nữa. Ngay cả những người giữ hải đăng và những người tài công lái tàu ra vào hải cảng cũng góp phần vào việc sinh sản ra tôi.

Bột than chì được trộn với đất sét lấy từ Mississippi có chứa dung dịch ammoniac và được dùng trong quá trình tinh luyện. Rồi thì những hóa chất lỏng khác được thêm vào như chất mỡ sulfate–một loại mỡ động vật có phản ứng hóa học với axit sulfuric. Sau khi chảy qua vô số máy móc, hợp chất này cuối cùng được bơm ra thành những sợi dài, giống như từng thỏi xúc-xích, được cắt đúng cỡ và nướng thêm vài giờ với nhiệt độ 1010 độ C. Nhằm gia tăng độ cứng và trơn láng của những thỏi “chì,” chúng được nhúng vào một hợp chất nóng gồm có chất sáp làm nến lấy từ Mexico, sáp paraffin, và mỡ động vật được hy-drô hóa.

Cái vỏ gỗ tuyết tùng của tôi được sơn sáu lớp sơn láng. Bạn có biết loại sơn láng (làm sơn mài) có bao nhiêu chất không? Ai có thể nghĩ rằng những người nông dân trồng cây thầu dầu và những người thợ ép thầu dầu cũng dự phần trong tiến trình này? Nhưng mà thật như vậy đó. Ngay cả tiến trình pha sơn thành màu vàng đẹp đẽ cũng cần tay nghề của vô số bao nhiêu người.

Hãy xem đến cái nhãn hiệu. Đó là một lớp màng mỏng tạo nên bởi than đen trộn với nhựa cây và được hơ nóng. Bạn có biết người ta lấy nhựa cây như thế nào không?

Tôi có một chút xíu kim loại–cái vòng bịt đuôi cây bút chì–làm bằng thau. Bạn hãy nghĩ đến tất cả những người thợ mỏ kẽm và đồng và những người có tay nghề tạo nên những tấm thau sáng loáng từ những sản phẩm đó của thiên nhiên. Còn cái vòng màu đen trên cái vòng bằng thau đó làm bằng chất kền màu đen. Kền màu đen là cái gì và dùng nó như thế nào đây? Để biết được tại sao ở giữa cái vòng bịt bằng thau đó lại không có vòng kền màu đen cũng phải mất thêm cả bao nhiêu trang nữa để giải thích.

Rồi đến cái vương miện của tôi, vẫn thường được gọi nôm na là “cái mấu,” tức là chỗ giữ cục tẩy để người ta xóa đi những chỗ viết sai. Cái chất gọi là “factice” chính là cái chất “tẩy” đi những chỗ viết sai. Cái chất này cũng giông giống như chất cao-su, nhưng thực ra là hợp chất của dầu hạt cải Canola trộn với chất sulfur chloric. Chất cao-su, trái với những gì ta nghĩ, không “tẩy” được và chỉ dùng để dính hợp chất này lại mà thôi. Rồi còn vô số những hóa chất và chất xúc tác khác. Còn thêm chất đá bọt đến từ Ý đại lợi và chất phẩm màu để nhuộm cái mấu là từ hợp chất cadmium sulfide.

Không một ai biết

Còn có ai muốn thử với điều tôi khẳng định ban đầu là không có một người duy nhất nào trên trái đất biết cách làm ra tôi không?

Thực ra, hàng triệu người đã góp tay vào việc cấu tạo nên tôi, nhưng mà không có ai biết được những người khác. Bạn cũng có thể nói rằng tôi đã nói phóng đại khi liên kết một người hái trái cà phê ở xứ Ba-tây xa lắc và những người trồng thực phẩm ở chỗ nào đó với sự cấu tạo ra tôi. Nhưng tôi vẫn giữ lập trường. Đó là, không có một người duy nhất nào trong số những triệu người này, kể cả ông chủ xếp sòng của công ty sản xuất bút chì, là người đã đóng góp hơn một phần nho nhỏ cách thức tạo ra tôi. Sự khác nhau giữa người thợ mỏ ở Ceylon và người thợ rừng ở Oregon là sự khác nhau về cách thức. Cả hai người thợ này không thể thiếu được, cũng như nhà hóa học trong xưởng hay người công nhân tại giếng dầu hỏa (sáp paraffin làm từ dầu hỏa) cũng không thể thiếu được.

Đây cũng là một sự kiện đáng ngạc nhiên nữa. Đó là, tất cả những người dính dáng đến tiền thân của tôi, từ người công nhân làm việc ở giếng dầu hỏa, đến nhà hóa học, hay người thợ mỏ đào than chì và đất sét, hay bất cứ ai chế ra tàu thủy, xe lửa, hay xe vận tải, hay những người thợ chạy cái máy làm “vương miện” cho tôi, hay ông chủ tịch hãng làm bút chì…làm những công việc của họ…đều không cần đến tôi.

Mỗi người trong số những người này không cần tôi bằng một em bé đang học lớp một. Thực ra, có một số người trong hằng hà sa số những người này chưa bao giờ thấy một cây bút chì chứ đừng nói gì đến sử dụng nó. Động lực để họ làm việc là điều gì khác chứ không phải tôi. Có lẽ phải nói như thế này: Mỗi người trong số hàng triệu người này thấy rằng họ có thể trao đổi một tí ti kiến thức về cách thức chế tạo đồ dùng và dịch vụ của họ với những nhu cầu khác mà họ cần. Tôi có thể không nằm trong danh sách những nhu cầu của họ.

Không có Nhà Tổng Đạo Diễn

Có một sự kiện còn đáng ngạc nhiên hơn: sự vắng bóng của một nhà tổng đạo diễn, một người chỉ đạo và ra mệnh lệnh điều khiển vô vàn những hoạt động kể trên để tạo ra tôi. Ta không tìm được dấu tích của một người như vậy. Thay vào đó, ta thấy có một Bàn Tay Vô Hình đang điều động mọi sự. Đó cũng chính là sự bí ẩn tôi nói tới lúc ban đầu.

Người ta thường nói là: “Chỉ có Thượng đế mới có thể tạo ra một cái cây.” Tại sao ta đồng ý với câu nói này? Chẳng phải vì ta nhận thức được là con người không thể tạo ra được một cái cây hay sao? Thực ra, liệu ta có thể mô tả được một cái cây hay không đã? Ta không thể làm được điều này ngoài một số những miêu tả hời hợt. Ta có thể nói, thí dụ như thế này, là một cấu trúc phân tử nào đó đã thể hiện thành một cái cây. Nhưng có một bộ óc con người nào đã có thể ghi chép lại, chứ đừng nói đến việc chỉ đạo, những thay đổi liên tục trong những phân tử đã diễn ra trong đời sống của một thân cây không? Đó là một kỳ tích không thể nào tưởng tượng nổi!

Tôi, Cây Bút chì, là một sự kết hợp phức tạp của nhiều điều kỳ diệu: một cái cây, kẽm, đồng, bột than, vân vân. Nhưng thêm vào trong những điều kỳ diệu đã thể hiện trong thiên nhiên còn có một điều kỳ diệu hơn nữa: sự phối hợp những năng lực sáng tạo của con người–hàng triệu những kiến thức nhỏ bé được phối hợp một cách tự nhiên và tự phát nhằm đáp ứng nhu cầu và ước muốn của con người mà không có một bàn tay đạo diễn nào của con người cả! Vì chỉ có Thượng Đế mới tạo ra được một cái cây, tôi khẳng quyết là chỉ có Ngài mới tạo ra tôi. Con người chẳng có thể làm gì hơn là sắp xếp hàng triệu những phương thức sản xuất lại cũng như Ngài đã phối hợp những phân tử lại để tạo ra một cái cây.

Đó chính là những điều tôi muốn nói khi viết rằng: “Nếu bạn có thể cảm nhận sự huyền diệu được hình tượng hóa qua bản thân tôi, thì bạn có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được sự tự do đang bị mất dần đi.” Vì, nếu ta ý thức được rằng những phương thức sản xuất này sẽ, một cách tự nhiên và tự động, sắp xếp lại thành những công thức sản xuất đầy sáng tạo để đáp ứng những nhu cầu của con người–nghĩa là không có sự hiện diện của chính quyền hay một sự chỉ đạo mang tính cưỡng bách nào–thì con người sẽ thủ đắc được phần tử tuyệt đối cần thiết cho tự do: Niềm tin vào những con người tự do. Tự do sẽ không thể nào hiện hữu được nếu thiếu niềm tin này.

Một khi mà nhà nước có được độc quyền về một hoạt động sáng tạo, thí dụ như phân phát thư tín, thì hầu hết người ta sẽ nghĩ rằng thư tín sẽ không thể nào được phân phối một cách hữu hiệu bởi những người hoạt động một cách tự do. Và đây là lý do: Mỗi người trong chúng ta nhìn nhận rằng mình không biết mọi cách thức liên quan đến việc phát thư, đồng thời cũng nhận thức rằng không một cá nhân nào có thể biết hết được. Đó là những nhận thức đúng đắn. Không một cá nhân nào có thể biết được hết mọi cách thức phân phối thư tín cho toàn quốc, cũng như không có ai biết hết mọi cách thức làm ra cây bút chì. Và, khi mà ta không có niềm tin vào con người tự do–niềm tin rằng hàng triệu những phương thức sản xuất nho nhỏ sẽ tự động và tự nhiên phối hợp lại để tạo ra sản phẩm–thì người ta không thể nào mà không kết luận, một cách sai lầm, rằng thư tín chỉ có thể được phân phối bởi và qua sự “đạo diễn” của nhà nước.

Những bằng chứng hùng hồn

Nếu Tôi, Cây Bút Chì, chỉ là một đồ vật được dùng làm bằng chứng cho sự sáng tạo của con người khi họ được tự do để thử nghiệm, thì lập luận của những người thiếu niềm tin sẽ tương đối đứng vững. Nhưng, có vô số bằng chứng như vậy trên mọi lãnh vực. Việc phân phối thư từ coi vậy chứ thực đơn giản khi ta so sánh với, thí dụ, việc ráp một chiếc xe hơi hay một cái máy tính hay một cái máy xay lúa hay một cái máy tiện hay hàng chục ngàn những điều khác nữa.

Phân phối ư? Trên lãnh vực này khi người ta được tự do thử nghiệm, đã gởi giọng nói của con người vòng quanh trái đất trong vòng không tới một giây đồng hồ; họ đã chuyển đi hình ảnh và tiếng nói trực tiếp tới nhà khi sự việc đang xảy ra; họ đã chuyển 150 hành khách từ Seattle tới Baltimore[1] dưới 4 tiếng đồng hồ; họ đã chuyển xăng dầu từ Texas tới New York bằng một giá rẻ không ngờ và chẳng cần trợ cấp của chính phủ; họ đã chuyển 4 ký dầu hỏa từ Vịnh Ba Tư tới bờ phía đông nước Mỹ với một giá rẻ hơn là bưu phí gửi một lá thư qua bên kia đường.

Bài học mà tôi muốn truyền đạt như thế này: Hãy để cho tất cả những năng lực sáng tạo được tự do. Xã hội chỉ cần được tổ chức để hoạt động hài hòa với bài học này. Hãy để bộ máy pháp luật của xã hội dẹp bỏ hết những chướng ngại cho sự tự do càng nhiều càng tốt. Hãy để cho những phương thức sản xuất đầy sáng tạo được tự do tuôn chảy. Hãy có niềm tin là những con người tự do sẽ tương tác hài hòa với Bàn Tay Vô Hình. Niềm tin này sẽ được xác lập. Tôi, Cây Bút Chì, dù bản thân tôi rất ư là đơn giản đã thể hiện được sự kỳ diệu của sự sáng tạo ra tôi; đó là một bằng chứng hùng hồn cho thấy đây là một niềm tin thực tiễn và thực tế, cũng có thực như trời nắng, trời mưa, cây tuyết tùng, và trái đất của chúng ta.

 

© Học Viện Công Dân 2010

Nguồn: I, Pencil: My Family Tree as told to Leonard E. Read


[1] Seattle là thành phố thuộc bang Washington thuộc miền tây nước Mỹ, Baltimore là thành phố thuộc bang Maryland thuộc miền đông nước Mỹ.
[*] Tên chính thức của tôi là Mongol 482. Những bộ phận tạo nên tôi được lắp ráp, chế tạo, và hoàn tất tại xưởng của Công ty Bút chì Eberhard Faber (công ty sản xuất bút chì nổi tiếng trên thế giới; được thành lập tại Đức năm 1922, được công ty Faber-Castell (Mỹ) mua lại năm 1994, và sau trở thành một bộ phận của công ty PaperMate của Mỹ).

Để chạm vào hạnh phúc

Featured Image: Gummi Stóri

 

Với người Việt Nam thì từ hạnh phúc đã trở thành câu cửa miệng trong mỗi lời chúc. Nó cũng là từ được đưa lên làm tiêu ngữ của quốc gia. Vậy tại sao, mỗi khi đọc báo hay lướt web ta vẫn thấy nhan nhãn những chuyện đời bất hạnh, những tiếng thở dài và cả những cõi lòng rách nát… Vậy hạnh phúc là gì, sao nhiều người tìm mãi vẫn chưa ra?

Sáng thức dậy là một status chán đời, trưa là tiếng thở dài kêu than mệt mõi, tối đi ngủ là một loạt bức xúc với bạn bè, sếp, đồng nghiệp. Đó là những dòng newfeed tôi thường đọc được trong mỗi lần lướt Facebook. Ôi! Sao với nhiều người cuộc sống y như một ngục tù tăm tối vậy? Sao hạnh phúc trở nên xa xỉ và hiếm hoi đến thế?

Tất thảy, tôi kết luận trong hai từ ngắn gọn, đó là do chúng ta luôn ĐÒI HỎI và KHÔNG HÀI LÒNG. Chúng ta muốn mọi thứ đều theo ý mình, không hài lòng với những gì đang có, luôn sân si, hận thù oán ghét… Tóm lại, chúng ta tự BÓP CHẾT HẠNH PHÚC của mình bằng những cảm xúc tiêu cực mà lẽ ra bất cứ ai cũng có thể làm chủ được.

Dù là một ông tổng thống hay một kẻ bần hàn, tàn tật. Vì hạnh phúc là trạng thái cảm xúc bên trong tâm hồn ta chứ không phải là những thứ xa xôi ngoài tầm với. Bởi vậy, ta vẫn thường bắt gặp những hình ảnh trái ngược là những ông giám đốc mang vẻ mặt cau có và phẫn uất với những chú đạp xích lô rạng rỡ nụ cười hiền từ và ánh mắt rạng ngời. Hay những ca sỹ, diễn viên luôn phải đau khổ vì những con Mụn và lời đàm tiếu với những người tật nguyền luôn cười nói vô tư và an nhiên chấp nhận một cuộc sống thực vật.

Vậy hạnh phúc là gì?

Với nhiều người hạnh phúc là khi họ lên đến đỉnh cao quyền lực, còn nhiều người khác thì hạnh phúc là khi chinh phục được những mục tiêu về tài chính, học vị và danh tiếng, cũng có những người coi hạnh phúc chỉ đơn giãn là khi mình được yêu thương và chia sẻ yêu thương… Nhưng theo tôi nếu chỉ chờ đến khi ta đạt được những thành quả ấy mới cảm thấy hạnh phúc thì xem như cả cuộc đời ta sống trong đau khổ và bất hạnh.

Vì mỗi cuộc đời có mấy lần được bước lên đỉnh vinh quang cao ngất ấy, khi thời gian mà ta dành để chinh phục nó chiếm gần hết cuộc đời mình và phải trải qua bao thử thách gian truân, bao đắng cay tủi hổ. Nếu ta đánh đỗi nó để lấy những khoảnh khắc hạnh phúc ngắn ngủi như vậy thì quả là quá đắt đỏ và chẳng xứng đáng chút nào. Bởi vì sau khoảnh khắc lên đỉnh ngắn ngủi ấy ta lại phải trở về với nhiều mối bận tâm và những vấn đề hóc búa khác của cuộc sống.

Nhưng có một điều chắc chắn rằng, nếu bạn cũng như tôi khi được ngồi gõ bàn phím, được kết nối internet, được ăn ba bữa mỗi ngày, được ngủ trên một chiếc giường êm ái, có công việc để làm và được sống trong hoà bình tự do thì chúng ta đã may mắn hơn 3/4 dân số trên thế giới này. Với những điều kiện như vậy mà nếu ta vẫn không tìm được hạnh phúc thì thử hỏi 5 tỷ người còn lại họ sẽ sống ra sao?

Như vậy chúng ta đã hiểu rằng, hạnh phúc không phải chỉ có được qua những khoảnh khắc “lên đỉnh” hay xuất thần mà nó là một trạng thái cảm xúc an bình, tĩnh tại trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người. Ở đó mỗi chúng ta đều có thể làm chủ hay điều khiển được nó mà không hề phụ thuộc vào ta là ai, thuộc tầng lớp xã hội nào.

Nhưng qua 25 năm được sống, đã nhiều lần rơi xuống tận đáy cuộc đời, cũng đôi lần đạt được chút vinh quang. Đến giờ, tôi hiểu thêm một điều rằng, nếu chúng ta cảm nhận hạnh phúc bằng cách thoả hiệp với những gì mình đang có và ngừng khát khao đòi hỏi thì cảm giác như thứ hạnh phúc ấy là khá gượng gạo. Bởi khi ta luôn nghĩ rằng: “Ừ, vậy là được rồi…” Thì chính là lúc mà ta ngừng nỗ lực, ngừng cống hiến để làm cho cuộc sống bản thân và cộng đồng của mình tiến về phía trước. Những cái “biết đủ” và sự hài lòng dễ dãi này sẽ dễ làm ta chán ngán. Và rồi, thứ hạnh phúc “thoả hiệp” ấy sẽ dần biến mất khi ta không hiểu được ý nghĩa cuộc đời mình nằm ở nơi đâu.

Qua trải nghiệm đó, tôi nghĩ rằng, để cảm nhận được thứ hạnh phúc tự nhiên và viên mãn nhất thì ta vẫn phải khát khao, phải phấn đấu, phải sống có mục tiêu và lý tưởng. Nhưng không phải đợi đến lúc ta đạt được mục tiêu hay hoàn thành lý tưởng mới cảm thấy hạnh phúc mà ta phải luôn hạnh phúc với công việc của mình, với thực tại, và với cả chiều dài cuộc hành trình của đời ta.

Với xã hội mở ngày nay thì cuộc đời này không ai còn nhỏ bé nữa, trừ khi tự mình muốn nhỏ bé. Ai cũng có thể trở thành những con người lớn bằng cách, làm được những việc lớn hoặc làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn. Và khi biết chọn cho mình một lẽ sống phù hợp rồi sống hết mình và cháy hết mình với nó, mỗi người sẽ có được một hạnh phúc trọn vẹn. Khi đó, ta không chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc, mà còn có cả một cuộc đời hạnh phúc. Khi đó, tôi hạnh phúc, bạn hạnh phúc và chúng ta hạnh phúc. Đó cũng là lúc ta thực sự “chạm” vào hạnh phúc!

 

Nguyễn Văn Thương

LSD và sự thật về chất thức thần này (“ma túy tổng hợp”)

LSD được viết tắt từ tên khoa học Lysergic acid diethylamide, vì thế trong tiếng Anh người ta cũng hay gọi nó bằng tên lóng acid (phát âm: ‘át-xít’). LSD là một trong những hoạt chất thông dụng nhất trong nhóm thuốc thức thần (psychedelic drugs). Chất thức thần là một nhóm riêng biệt, khác biệt so với hai nhóm Stimulants (Chất kích thích. VD: caffeine (cà phê), MDMA (hay còn thường được gọi là ecstasy, thuốc lắc), meth (đá), nicotine (thuốc lá), cocain…) và Opioids (Thuốc phiện. VD: ma túy, morphine, heroin…)

• • •

Bài viết này được chia thành hai phần: Phần đầu nêu ra facts ai cũng có thể kiểm chứng; phần sau nêu ra quan điểm của người viết.

LSD là gì?

“LSD phá tung cái địa miền tư sản táo bón tồi tàn như một thiên sứ của kỷ nguyên thức thần mới. Chúng ta chưa từng bao giờ giống thế trước đó, và sẽ không bao giờ, bởi LSD đã chứng minh, ngay cả với những kẻ nghi ngờ, rằng những tòa lâu đài trên thiên đàng và những khu vườn dưới địa đàng nằm trong mỗi và mọi người chúng ta.” — Terence McKenna (Huyền thoại trong cộng đồng psychedelics)

LSD được viết tắt từ tên khoa học Lysergic acid diethylamide, vì thế trong tiếng Anh người ta cũng hay gọi nó bằng tên lóng acid (phát âm: ‘át-xít’). LSD là một trong những hoạt chất thông dụng nhất trong nhóm thuốc thức thần (psychedelic drugs). Chất thức thần là một nhóm riêng biệt, khác biệt so với hai nhóm Stimulants (Chất kích thích. VD: caffeine (cà phê), MDMA (hay còn thường được gọi là ecstasy, thuốc lắc), meth (đá), nicotine (thuốc lá), cocain…) và Opioids (Thuốc phiện. VD: ma túy, morphine, heroin…)

Một số các loại chất thức thần thường gặp: Cần sa, LSD, psilocybin mushrooms (hay còn thường được gọi là magic mushroom, shrooms, tạm dịch là nấm thần, salvia, ayahuasca, và DMT.

Vào năm 1943, Albert Hofmann, tiến sĩ hóa học 37 tuổi người Thụy Sĩ, trong lúc đang làm việc trong phòng thí nghiệm thì tình cờ nếm phải một hoạt chất ông mới chiết xuất, tổng hợp ra được từ ergot fungus, một loại nấm từ hạt cựa lúa mạch, hoạt chất này về sau được gọi là LSD. Trong cuộc phỏng vấn lúc ông gần 100 tuổi, ông gọi LSD là “thuốc dành cho linh hồn”.[1] Thiên tài từng đoạt giải Nobel, Francis Harry Compton Crick, đã dùng LSD trong lúc khám phá ra bí mật của sự sống.

LSD không màu, không mùi, không vị.[2] Thường được bán dưới dạng những mẫu giấy thấm nhỏ có in họa tiết như trong hình.

LSD có gây nghiện không? LSD có phải là ma túy không?

Nếu định nghĩa ma túy là các loại chất gây nghiện (như heroin, cocain, cà phê, thuốc lá, bia rượu…) thì câu trả lời cho hai câu hỏi này đều là không.[3] LSD không gây nghiện; và LSD cũng không phải là ma túy. Các nghiên cứu khoa học cho thấy LSD cũng không gây tổn hại gì cho não bộ.

“LSD là một trong những hoạt chất ít độc tố nhất được loài người biết đến. Nó còn ít độc hại hơn cả aspirin* và vitamin C.” — Tiến sĩ Stanislav Grof

*thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm thông thường

Nhiều khi LSD còn ít độc hại hơn các loại thuốc bạn đang dùng mỗi ngày.

Tác dụng, ảnh hưởng của LSD

LSD là một loại chất thức thần khá mạnh, dù chỉ với một liều lượng cực nhỏ. Theo hiểu biết và kinh nghiệm của tôi thì liều lượng thông thường cho một lần trip với một người bình thường là từ khoảng 100 µg (micrograms) cho tới 150 µg (một microgram bằng một phần triệu gram).

Khi được hấp thụ, ảnh hưởng của nó tác động lên người dùng bao gồm: tâm lý, thị giác (nhắm mắt lẫn mở mắt), ý thức, nhận thức về thời gian, không gian, những trải nghiệm tâm linh… Một lần trip thường kéo dài từ 8 – 10 tiếng. Mỗi người đều có những trải nghiệm khác nhau. LSD cũng từng đóng một vai trò mấu chốt trong phong trào hippie, anti-culture những năm 1960.

“Psychedelics ‘đáng sợ’ là vì nó tiết lộ ra sự thật về tâm trí, mà người ta thì luôn sợ phải đối diện với tâm trí của họ.” — Tiến sĩ Robin Carhart-Harris

“Ảo giác” là gì?

Khi nhắc tới LSD và tác dụng của nó, nhiều người sẽ dùng từ “ảo giác” để miêu tả. Nhưng có lẽ bạn chưa bao giờ nghĩ ra hay tự đặt cho mình câu hỏi này như một triết gia: Ai là người có quyền định nghĩa cái gì là thật, cái gì là ảo?

Nếu “ảo giác” có nghĩa là thấy được những gì một người chưa từng thấy thì tôi không gọi đó là ảo giác, tôi gọi đó là thần giác, ngộ giác, hay bất cứ tiền tố nào không mang thành kiến tiêu cực như cách gọi “ảo giác” thông thường.

Terence McKenna đã từng nói, “Thế giới được tạo ra bởi ngôn ngữ.” Nếu bạn suy nghĩ về điều này một chút, có thể bạn sẽ nhận ra được là nó đúng, cũng có thể là bạn còn lâu mới hiểu được. Ngôn ngữ là cái chúng ta sử dụng mỗi ngày, song hiếm có ai từng suy ngẫm về nó, hiếm có ai nghiệm ra được điều ông McKenna vừa nói ngoại trừ những thiên tài; đôi khi chỉ có thiên tài mới nhận ra được thiên tài. Linh hồn không nhận ra nhau qua ngoại hình mà qua tần số.

“Bạn càng sống thật bao nhiêu thì bạn sẽ càng thấy thế giới này ảo bấy nhiêu.” — John Lennon

Đối với cá nhân tôi, mục đích thật sự của việc trải nghiệm LSD không phải là vì những “ảo giác” hay những cảm giác nó mang lại. Nó chỉ là bề nổi của tảng băng trôi. Bề chìm 90% còn lại là những gì xảy ra trong ý thức, tâm thức của mình lúc đó. Vì là chất thức thần, nó có khả năng đánh thức cái thần trong bạn. Nó có khả năng mở rộng nhận thức một người; “nó mở bạn ra tới cái khả năng mọi thứ bạn biết đều sai.”

Sau mỗi chuyến hành trình, bạn trở về mang theo những món quà. Những món quà này này không quá to đến nỗi không tặng cho ai được, cũng không quá nhỏ đến nỗi có tặng cũng không ai thèm. Bạn lưới được con cá với kích thước hoàn hảo.

LSD không dành cho tất cả mọi người. Nó chỉ dành cho những ai được trời đất yêu quý với trái tim can đảm dám đối diện và dám khám phá những vùng sâu kín nhất trong tâm thức, tiềm thức của mình. Terence McKenna đã nói, loài người đã lên được mặt trăng, đã thăm dò thám hiểm được lòng đại dương, nhưng loài người vẫn còn sợ phải đối diện với tâm thức của chính mình, nơi mọi mâu thuẫn tồn tại.

Đó là tất cả những gì quan trọng; mọi thứ khác chỉ là thứ yếu. Thậm chí nếu bây giờ có dĩa bay xuất hiện giữa thành phố cũng không quan trọng bằng một lần bạn tìm lại được những gì đã mất trong tâm trí của mình, một lần trả lời được những khúc mắc, phân vân trong đời mình, như một người bạn của tôi lần đầu tiên trải nghiệm đã tường thuật lại.

Có nhiều người hỏi LSD có tác dụng phụ gì không? Hỏi như vậy cũng giống như hỏi đọc sách có tác dụng phụ gì không? Tất nhiên là đọc sách có tác dụng phụ. Câu hỏi không phải là nó có tác dụng phụ hay không, mà là so với tác dụng chính thì tác dụng phụ có đáng kể không, đáng kể bao nhiêu phần trăm.

Câu trả lời cho câu hỏi này theo cá nhân tôi chỉ đơn giản là không. Có người lại hỏi: Tại sao phải dùng LSD? Không có gì mà phải hay không phải, mà chỉ đơn giản là muốn hay không muốn. Phải nghe có vẻ như bị ép buộc. Người khác hỏi: Dùng LSD có phê không? Nếu mục đích bạn tìm đến LSD để tìm cảm giác phê thì đối với tôi bạn đang sử dụng nó sai mục đích.

Có những câu hỏi thông minh hơn để đặt ra là: Dùng LSD có khiến bạn trở thành một người tốt hơn hay không? Có thay đổi cuộc đời bạn theo chiều hướng tích cực hơn không? Có khiến cho nhận thức của bạn về thế gian, thực tại này sâu rộng hơn không? Có giúp bạn nhận ra được chân lý cao nhất của cuộc sống này là gì hay không?

Đó mới là những câu hỏi quan trọng mà mọi người nên đặt ra. Và khi đã trả lời được những câu hỏi đó tôi mới rút ra được một kết luận là càng có nhiều người trải nghiệm và dám can đảm đứng ra làm nhân chứng cho nó thì thế giới sẽ càng có cơ hội bước lên một bước nữa trong nấc thang tiến hóa, như loài nhộng đang ấp ủ biến mình thành bướm. “Ta bỏ lại đằng sau thân xác của loài khỉ. Ta dang cánh bay.”

Để tạm kết và nếu có duyên thì sẽ gặp lại, tôi muốn chia sẻ với các bạn một đoạn trích dẫn từ cũng lại là từ Terence McKenna. Bạn có thể thấy tôi là một fan cuồng của ông. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về những thông điệp của ông thì cách hay nhất đó là vào xem những video clip trên Youtube tôi đã dịch. Bạn nào vẫn hay theo dõi tôi có lẽ đã biết tới thông điệp này lần đầu tiên tôi dịch ra tiếng Việt cũng đã hơn một năm, nhiều khi hứng lên vẫn hay đăng lại:

“Trải nghiệm thức thần thực sự cũng đóng vai trò nòng cốt để thấu hiểu về cái tính người trong bạn, ngang với những việc như làm tình, hay có con, hay có những trách nhiệm hay có những hy vọng và ước mơ, song nó phi pháp. Chúng ta bằng cách nào đó được bảo rằng…. Chúng ta đã bị ấu trĩ hóa. Chúng ta được bảo rằng chúng ta có thể đi lòng vòng trong cái lồng tâm thức của trẻ sơ sinh đã được phê chuẩn và chúng ta có một số chất gây say ở đây nếu bạn muốn đổ đốn: chúng ta có vài chai scotch đây, và vài điếu thuốc và thịt động vật, và một chút đường, một chút TV vân vân và vân vân. Nhưng, có những loại chất biến giác làm tan biến rào cản cách biệt và cho bạn một trải nghiệm về mối đoàn kết với những người anh em và thiên nhiên thì bằng cách nào đó bị cấm. Đây là một sự sỉ nhục! Đây là một dấu hiệu cho thấy một văn hóa thiếu trưởng thành và sự kiện là chúng ta vẫn còn chịu đựng điều này cũng là một dấu hiệu cho thấy rằng chúng ta đang sống trong một xã hội bị áp đặt y như bất cứ xã hội nào trong quá khứ.”

 

Tham khảo

  1. http://www.wired.com/2008/04/lsd-inventor-al/
  2. http://www.cs.cmu.edu/afs/cs.cmu.edu/user/ehn/Web/release/problem-child.html
  3. http://www.plosmedicine.org/article/info:doi/10.1371/journal.pmed.0030437#pmed-0030437-b044

Nguyễn Hoàng Huy

Thị trường và đạo đức (kỳ 6)

 

Lord Griffiths of Fforestfach

Doanh nghiệp như là cộng đồng đạo đức

Trong tư duy về quản lý, mãi thời gian gần đây người ta mới chú ý đến vai trò của “giá trị” trong việc giải thích sự thành công của doanh nghiệp. Ở Mĩ, đề tài này bắt đầu nổi lên từ hồi những năm 1970, sau một thập kỷ khi các doanh nghiệp Mĩ nhận thấy rằng vận may của họ đang giảm dần vì các công ty chế tạo ô tô và hàng điện tử Nhật đã xâm nhập vào thị trường Mĩ. Nó thúc giục cộng đồng doanh nghiệp Mĩ thực hiện những cuộc tự vấn lương tâm và đến lượt nó, việc này lại dẫn đến những công trình nghiên cứu, phân tích hiệu suất công tác trong các công ty Mĩ.

Kết luận được rút ra là nhân tố quan trọng trong việc lý giải sự thành công vượt bậc của một số doanh nghiệp là họ có một số giá trị chung: cụ thể là một tập hợp những tín điều và giá trị được tất cả các nhân viên trong tổ chức chia sẻ và đấy chính là nền tảng văn hóa của tổ chức đó. Công trình nghiên cứu sau đó, do Trường Kinh doanh Harvard (Harvard Business School) thực hiện, khẳng định vai trò quan trọng của các giá trị chung trong sự thành công của công ty, và đấy chính là nhân tố quan trọng dẫn tới những thay đổi lớn trong tư duy về quản trị hồi những năm 1980, người ta đã không còn chú trọng vào khoa học quản lý, lập kế hoạch và sản xuất hàng loạt nữa mà tập trung hơn vào người tiêu dùng, đóng góp của từng người lao động trong công ty và ý nghĩa của văn hóa doanh nghiệp. Từ đó, đề tài về giá trị vẫn là đề mục chính trong chương trình nghị sự của các doanh nghiệp Mĩ và càng ngày càng giành được sự chú ý của các doanh nghiệp trong các nước khác.

Tôi xin khảo sát năm vấn đề về vai trò của các giá trị trong kinh doanh. Tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh là gì? Doanh nghiệp có thể hoạt động mà không cần tiêu chuẩn đạo đức hay không? Tiêu chuẩn đạo đức của doanh nghiệp có xuất xứ từ đâu? Doanh nghiệp hoạt động như thế nào và làm sao áp dụng được tiêu chuẩn đạo đức trong một xã hội đa nguyên? Công ty tôn trọng tiêu chuẩn đạo đức có vai trò quan trọng như thế nào đối với xã hội?

Đấy là những câu hỏi mà tôi tin là và chắc chắn phải là mối quan tâm của ban quản trị tất cả các công ty cổ phần.

Tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh là gì?

Đấy là một tập hợp các giá trị, quy tắc hay nguyên tắc đạo đức, được coi là chuẩn, là giá trị tham khảo hay tiêu chuẩn cho tất cả những người làm việc trong công ty và kết quả là nó sẽ dẫn dắt và chi phối hành vi của họ. Điều đó không có nghĩa là một số hành vi nhất định được chấp nhận hay không được chấp nhận mà là một cái gì đó lớn hơn nhiều: cụ thể là những hành vi này được chia thành tốt hay xấu, đúng hay sai. Tiêu chuẩn đạo đức này là nguồn gốc của những đòi hỏi mang tính đạo đức đối với mỗi người và với nguyên vật liệu mà từ đó doanh nghiệp tạo ra đặc tính và văn hóa đặc trưng của họ.

Tiêu chuẩn đó được hình thành từ những nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp hoặc điều lệ của doanh nghiệp và được củng cố bằng tuyên bố của chủ tịch hội đồng quản trị hay giám đốc điều hành và những người nằm trong ban lãnh đạo. Đấy là nguyên tắc bắt buộc, nó làm cho doanh nghiệp có thể hoạt động như là một cơ thể thống nhất, thống nhất về quan điểm và hành động. Chính vì các doanh nghiệp tập trung chú ý vào việc thiết lập và giữ gìn các tiêu chuẩn đạo đức cho nên các doanh nghiệp hiện nay có thể và phải được coi là cộng đồng đạo đức.

Mỗi công ty có cách hiểu khác nhau về tiêu chuẩn đạo đức của công ty và cách thể hiện nó. Nhưng nghiên cứu điều lệ của nhiều công ty khác nhau ta thường thấy những chủ đề sau đây: liêm khiết, trong sáng, lương thiện và nói đúng sự thật, tôn trọng cá nhân con người vì đấy là những người có nhân phẩm, đối xử không thiên vị với mọi người, phục vụ một cách hoàn hảo, đặc biệt là trong quan hệ với khách hàng và trong phương thức lãnh đạo của những người có chức quyền, tầm quan trọng của sự hợp tác, trách nhiệm của công ty đối với môi trường, và cam kết ủng hộ những cộng đồng, nơi công ty đặt cơ sở sản xuất.

Trên thực tế, những đề tài này xuất hiện với tần xuất cao trong nhiều lĩnh vực sản xuất khác nhau, trong nhiều nước khác nhau, trên nhiều lục địa và nền văn hóa khác nhau đến mức chúng không còn là bộ sưu tập những giá trị rời rạc do các công ty riêng lẻ thu thập mà càng ngày càng trở thành những giá phổ quát.

Không trước thì sau, tất cả các tôn giáo đều ép môn đồ của họ “vào vòng cương tỏa”, tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh không phải là ngoại lệ. Tiêu chuẩn đạo đức tạo ra những yêu cầu cao, làm cho doanh nghiệp vượt lên trên những đòi hỏi thuần túy vể mặt pháp lý. Nó có thể buộc doanh nghiệp từ chối một vụ kinh doanh, buộc họ phải đầu tư nhiều vào lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, hoặc giải quyết vấn đề mà không cần cầu viện đến luật sư, tất cả những điều này đều có thể có ảnh hưởng tiêu cực tới lợi tức ngắn hạn, nhưng đồng thời nó thể hiện sự cam kết của doanh nghiệp đối với các tiêu chuẩn đạo đức. Cho nên khi ông chủ tịch hay ông tổng giám đốc đứng dậy và tuyên bố rằng công ty của ông ta áp dụng tiêu chuẩn đạo đức thì có nghĩa là ông ta nói rằng đấy không chỉ là sự khác biệt trong cách thức kinh doanh mà còn xác định trên thực tế cách thức kinh doanh đó.

Doanh nghiệp có thể hoạt động mà không cần tiêu chuẩn đạo đức hay không?

Về nguyên tắc, câu trả lời là có: công ty có thể hoạt động với tiêu chuẩn đạo đức mà cũng có thể hoạt động mà không cần có ý thức về đạo lý hoặc trái với luân thường đạo lý. Nhưng công ty hoạt động trái với luân thường đạo lý sẽ nhanh chóng nhận ra rằng họ đã xung đột với luật pháp và với chính phủ. Thí dụ như tội phạm có tổ chức, hay công ty lảng tránh (chứ không phải trốn) cơ quan thuế vụ, hay công ty biết rõ là đang buôn bán những món hàng hoặc dịch vụ bị cấm như thuốc gây nghiện, buôn bán bào thai người, buôn bán trẻ con.

Những công ty này không chỉ buôn bán những sản phẩm được coi là vô luân: họ còn tham gia vào những hoạt động mà kết quả chắc chắn sẽ là tống tiền, bạo lực và lừa đảo. Những người bị phát hiện đang điều hành những công ty như thế sẽ bị phạt tiền, bị truy tố và có thể bị bỏ tù. Công ty hoạt động trái với luân thường đạo lý có thể tồn tại trong ngắn hạn nhưng khó tưởng tượng được là làm sao mà nó lại có thể tồn tại được trong dài hạn.

Câu hỏi hấp dẫn hơn là liệu công ty có thể hoạt động mà không cần có ý thức về đạo lý? Mục tiêu duy nhất của công ty này là tối đa hóa lợi nhuận. Công ty có thể hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật nhưng không quan tâm tới các nguyên tắc đạo đức. Họ có thể hỏi đường lối hoặc việc làm của họ là hợp pháp hay phi pháp, nhưng họ không hỏi là đúng hay sai. Đạo đức nằm bên ngoài phạm vi kinh doanh. Tiêu chuẩn lương thiện của họ có thể bắt nguồn từ thói vị lợi, tính liêm khiết của cá nhân có thể là không quan trọng, và cá nhân chỉ được đánh giá theo tỷ lệ đóng góp của anh ta mà thôi.

Công ty không có ý thức về đạo lý là công ty lạnh lùng, lãnh đạm và có môi trường làm việc thiếu an toàn. Nhân viên không có lòng trung thành. Khó mà có thể tin rằng nhân viên sẽ giữ lời hứa. Không ai tin ai. Việc lập hợp đồng kéo dài rất lâu, mệt mỏi và phức tạp. Thành lập công ty liên doanh là cả một cơn ác mộng vì không bên nào tin là bên kia nói thật.

Chức năng kiểm toán nội bộ phải được tăng cường. Mức độ thận trọng để khỏi bi quy tội bất cẩn làm cho công việc trở thành vừa lâu vừa chán ngắt và là cản trở đáng kể đối với việc mua sắm. Luôn luôn xảy ra cãi vã, xung đột và tranh chấp. Bổn phận của các thành viên ban lãnh đạo đối với tương lai của công ty không rõ ràng. Người ta không thể nào biết được là liệu người đồng nghiệp có thể hiện đúng quyền lợi của anh/chị ta trong những vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hay không. Vì mang tiếng xấu như thế mà việc tuyển mộ nhân viên sẽ gặp khó khăn.

Một trong những hậu quả của việc thiếu ý thức đạo lý là chi phí cao, thuật ngữ kinh tế học là “chi phí giao dịch” lớn đến mức công ty sẽ nhanh chóng nhận ra là nó ở thế bất lợi trước các đối thủ. Bernard Mandeville có thể đã miêu tả thành công nhất đặc điểm của nền kinh tế thiếu ý thức đạo đức trong tác phẩm Truyện ngụ ngôn về đàn ong: sự đồi bại của cá nhân và lợi ích của xã hội, (The Fable of the Bees: or Private Vices,Publick Benefits) xuất bản lần đầu vào năm 1714 và dựa vào bài thơ được công bố cách đó chín năm với nhan đề là Tổ ong lầm bầm hay kẻ bất lương trở thành người công chính,(The Grumbling Hive or Knaves turned Honest[1]).

Trong khi mô tả một tổ ong đang phát triển như là ẩn dụ nói về một dân tộc thành công trong ngành thương mại là nước Anh thời đó, Mandeville chỉ ra rằng dối trá, ích kỷ và ham mê những trò trụy lạc là cội nguồn của sự thịnh vượng. Thương nhân, binh lính, luật sư, bác sĩ, chính khách, tất cả đều như thế hết:

“Hàng triệu người ráng sức
Cung cấp cho nhau những trò trụy lạc và cảnh phù hoa.”

Bằng cách tách thương mại khỏi đức hạnh (“tôn giáo là một bên, còn thương mại là phía bên kia”), ông khẳng định rằng thái độ buông lung đối với thói xấu và tính ích kỷ của những con ong sẽ dẫn tới việc mở rộng quá trình phân công lao động, mở rộng thị trường và sự phát triển của ngành thương mại, làm cho mọi người đều được lợi. Vì vậy mà ông nhận xét về tổ ong như sau:

“Chỗ nào cũng đầy tội lỗi
Nhưng tất cả đều được sống giữa thiên đường trên mặt đất.”

Vấn đề chỉ xuất hiện khi những kẻ bất lương cầu thần linh ban cho lòng trung thực và Chúa trời đã cho phép trả lời, kết quả thật là thảm khốc. Thói kiêu ngạo và xa hoa giảm dần, thương mại suy thoái, nghệ thuật và nghề thủ công bị lờ đi và qua việc giảm bớt tội lỗi mà đàn ong cũng lại nhận thấy rằng chúng đã đánh mất hết sự cao quý của mình. Đạo đức là:

“Người ngu chỉ cố gắng
Làm ra tổ ong lớn và lương thiện
Hưởng thụ các tiện nghi của trần gian
Vinh quang trong chiến trận, nhưng sống đời an nhàn
Không có tội lỗi lớn là vô nghĩa
Không tưởng đã nằm sẵn trong đầu rồi.”

Cái không tưởng vô nghĩa mà ông nói tới chính là đức tính khiêm nhường và lòng nhân từ của Thiên chúa giáo, những đức tính mà sau khi đã rũ hết tội lỗi thì chỉ dẫn cả nước đến cảnh đói nghèo mà thôi. Không lấy gì làm ngạc nhiên là câu chuyện ngụ ngôn này đã tạo ra một vụ ồn ào và đã bị tòa án hạt Middlesex coi là có hại đối với xã hội. Ngay cả Adam Smith, được coi là người đặt nền móng cho chủ nghĩa tư bản hiện đại, trong tác phẩm Lý thuyết về cảm nhận đạo đức (Theory of Moral Sentiments[2]) cũng đã phê phán Mandeville vì phép ngụy biện của ông, coi đức hạnh đồng nghĩa với tiết dục và quan niệm hư vô chủ nghĩa của ông về đạo đức, không công nhận bất cứ tiêu chuẩn nào nhằm phân biệt đạo đức với phi đạo đức.

Có thể đặc điểm nổi bật nhất của cách tiếp cận mà không cần ý thức về đạo lý là ý kiến cho rằng kinh doanh chỉ cần quan tâm tới việc tối đa hóa lợi nhuận, ngoài ra không còn gì khác. Ban quan trị là do các cổ đông lựa chọn, cho nên phải tìm kiếm lợi nhuận cho họ và không được làm đại diện cho bất kỳ ai khác. Kinh doanh là kinh doanh, đức hạnh không có liên quan gì ở đây hết.

Nhưng không chỉ Milton Friedman, trong tiểu luận nổi tiếng Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là gia tăng lợi tức của nó (The Social Responsibility of Business is to Increase its Profits[3]), gợi ý rằng mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận: ông nói rằng những người lãnh đạo doanh nghiệp phải “điều hành doanh nghiệp phù hợp với nguyện vọng của họ, mà nguyện vọng này nói chung sẽ là kiếm được càng nhiều tiền càng tốt, trong khi vẫn đáp ứng được những quy định căn bản của xã hội”, nhưng ngay sau đó – và đây là điều cực kỳ quan trọng – ông đã định nghĩa rõ rằng “các quy định căn bản của xã hội” bao gồm “cả những điều được thể hiện trong luật pháp lẫn những điều được thể hiện trong truyền thống đạo đức”, rõ ràng như vậy có nghĩa là việc theo đuổi lợi nhuận phải không được trái với các quy tắc văn hóa và tiêu chuẩn đạo đức.

Thứ ba là công ty hoạt động với các tiêu chuẩn đạo đức. Ban lãnh đạo công ty phải đưa ra những giá trị đặc thù của họ, mà đấy thường bao gồm tính trung thực, thật thà và tinh thần phục vụ: trình độ học vấn hoặc tay nghề, có khả năng hợp tác và đặt quyền lợi tập thể lên trên quyền lợi cá nhân, có tinh thần trách nhiệm với người khác, cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức. Có nhiều lý do để ban lãnh đạo quyết định phải đưa ra tiêu chuẩn đạo đức rõ ràng, nhưng nếu những người lãnh đạo và nhân viên tin chắc rằng họ có những giá trị nội tại thì một trong những hậu quả của các tiếp cận này là trong công ty sẽ có mức độ tin cậy cao.

Trong công ty mà mọi người tin cậy lẫn nhau thì tinh thần đồng đội sẽ cao. Các quy định và điều lệ nội bộ sẽ không cần phải viết quá chi tiết. Việc thanh tra, kiểm toán nội bộ và giám sát sẽ không cần phải thực hiện một cách tràn lan. Phát biểu của những người lãnh đạo sẽ được mọi người hiểu đúng theo nghĩa đen. Những công ty như thế sẽ được coi là những người sử dụng lao động đáng quý, cho nên việc tuyển dụng người sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

Giữa các công ty như thế cũng không cần những bản hợp đồng dài dòng và phức tạp. Tất cả đều là những lợi ích có được từ lòng tin, mà lòng tin là một trong những cái mà các nhà kinh tế học gọi là “tác nhân bên ngoài”. Chúng là những tài sản có giá trị kinh tế hữu hình và làm tăng năng suất của công ty, nhưng chúng không phải là hàng hóa có thể mua bán được trên thương trường.

Như vậy là công ty có tiêu chuẩn đạo đức phù hợp sẽ không chỉ giảm được chi phí giao dịch mà, cùng với thời gian, còn phát triển được văn hóa doanh nghiệp vững chắc, dựa trên cơ sở lòng tin, cho nên các tiêu chuẩn đạo đức sẽ làm cho doanh nghiệp có ưu thế về mặt cạnh tranh.

Cho nên về nguyên tắc ta có thể gật đầu khi trả lời câu hỏi: “Doanh nghiệp có thể hoạt động mà không cần tiêu chuẩn đạo đức hay không?”, nhưng trên thực tế thì câu trả lời như thế là hoàn toàn không đúng, đặc biệt là nếu doanh nghiệp muốn trở thành một tay chơi có trọng lượng và lâu dài trên thương trường.

Tiêu chuẩn đạo đức của doanh nghiệp có xuất xứ từ đâu?

Cần khảo sát ba phương án: quyền lợi của chính doanh nghiệp, luân thường đạo lý phổ quát dựa trên cơ sở của chủ nghĩa nhân văn duy lý, hay tôn giáo thiên khải như Do Thái giáo, Hồi giáo hoặc Thiên chúa giáo.

Ý tưởng cho rằng công ty có thể tự tìm ra được những tiêu chí đạo đức cho mình là một ý tưởng hấp dẫn. Francis Fukuyama, trong tác phẩm Sự đổ vỡ vĩ đại (The Great Disruption) mới ra gần đây, viết rằng:

“Lời khẳng định cho rằng đức hạnh, thí dụ như tính trung thực, cần thiết trong lĩnh vực thương mại, phải dựa vào tôn giáo mới tồn tại được, cuối cùng đã tỏ ra là vô nghĩa lý. Quyền lợi của chính doanh nhân là đủ để đảm bảo rằng tính trung thực (hay ít nhất là biểu hiện của tính trung thực) sẽ tiếp tục tồn tại[4]”.

Ông còn biện luận rằng:

“Công ty đòi hỏi nhân viên phải có lòng trung thực cao và lịch sự trong khi tiếp xúc với khách hàng hay công ty rút ngay lập tức những sản phẩm có khiếm khuyết khỏi quầy hàng hoặc người giám đốc tự giảm lương nhằm thể hiện tinh thần đoàn kết với người lao động trong giai đoạn suy thoái không chỉ thể hiện thái độ vị tha: mỗi hành động như thế đều làm cho người ta tin rằng đấy là công ty trung thực, khả tín, chất lượng và công bằng hay đơn giản là rất có lợi. Những đức tính tốt đó trở thành tài sản kinh tế và là tài sản cho nên nó được các cá nhân và công ty quan tâm tới những vấn đề mấu chốt tìm kiếm.[5]”

Luận điểm này công nhận rằng tính trung thực, cũng như lòng tin và sự hợp tác, là đạo đức xã hội, góp phần nâng cao nguồn vốn xã hội của tổ chức. Fukuyama còn biện luận rằng không được coi nguồn vốn xã hội như là hàng hóa xã hội, mà thị trường tự do không thể cung cấp đủ. Phải nói đấy là món hàng hóa mà thị trường tư nhân sẽ cung cấp đúng số lượng mà các nhà quản trị công ty muốn cung cấp. Các công ty tư nhân thường xây dựng vốn xã hội bằng cách đầu tư vào giáo dục và dạy nghề cũng như đầu tư cho những chương trình nhằm nâng cao trình độ quản lý.

Nền tảng trí thức của cách tiếp cận như thế đã được Friedrich Hayek[6] xây dựng một cách cực kỳ vững chắc và rất hay được những nhà kinh tế học như Milton Friedman và Gary Becker sử dụng. Hayek khẳng định rằng kinh tế thị trường là thí dụ điển hình của cái mà ông gọi là trật tự tự phát: cụ thể, đấy là hệ thống phát triển không phải nhờ sự chỉ đạo tập trung hay sự bảo trợ của một người hoặc nhóm người, mà thông qua những kết quả không có chủ ý của những quyết định của vô số cá nhân, mỗi người trong số họ đều là những người theo đuổi lợi ích riêng thông qua việc trao đổi và hợp tác tự nguyện, thông qua thử và sai.

Quá trình vận động tự phát này không những có thể được dùng để giải thích sự phát triển kinh tế mà còn có thể được dùng để giải thích sự phát triển của ngôn ngữ, tiền tệ, văn hóa, luật pháp, quy tắc xã hội, thậm chí cả phẩm hạnh và đạo đức nữa. Mặc dù trật tự tự phát phát triển thông qua những cá nhân đang theo đuổi lợi ích riêng của mình, nhưng các cá nhân vẫn phải theo những quy tắc chung chứ không thể hành động tùy ý được, còn các quy tắc lại cũng là sản phẩm của quá trình tiến hóa.

Kết quả là, đối với Hayek, đạo đức là khía cạnh quan trọng của trật tự xã hội: trên thực tế, trật tự xã hội không thể tồn tại mà không có “những quy tắc… hướng dẫn cá nhân hành động theo cách mà đời sống xã hội có thể tồn tại được[7]”. Nhưng những quy tắc này là kết quả của quá trình tiến hóa của văn hóa, tập trung vào “chọn lọc hoặc lựa chọn” các định chế và thói quen của nhóm.

“Truyền thống văn hóa, nơi con người được sinh ra bao gồm một loạt những thói quen hay quy định về tư cách đang thịnh hành vì chúng làm cho nhóm người đó thành công nhưng lại không được chấp nhận vì người ta biết rằng chúng sẽ tạo ra những kết quả đáng mong muốn.[8]”

Đồng thời Hayek lại coi thường những cố gắng nhằm gắn đạo đức với tôn giáo, với niềm tin vào Chúa trời, hoặc cho rằng đạo đức là nhất thành bất biến. Chìa khóa để hiểu đạo đức học của Hayek là đạo đức là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài về mặt văn hóa, một quá trình xảy ra trong trật tự tự nhiên, ở đó mỗi cá nhân theo đuổi quyền lợi riêng tư theo cách hiểu của mình. Như vậy nghĩa là, trật tự đạo đức trong triết học của Hayek, trong tính trọn vẹn của nó, là sản phẩm của những nỗ lực của con người và nhằm tránh mọi hiểu lầm có thể xẩy ra, ông dứt khoát bác bỏ nhu cầu phải có một cái gì đó bên ngoài trật tự tự nhiên để cho đạo đức bám vào.

Kết quả là, đấy là hệ thống đạo đức hoàn toàn tương đối, không có những chân lý hay quan niệm cứng nhắc về đúng và sai. Sự khôi hài của các tiếp cận của Hayek là mặc dù ông bác bỏ mọi cơ sở của tôn giáo đối với trật tự đạo đức hiện tồn, nhưng ông lại công nhận ảnh hưởng quan trọng mà tôn giáo đã đóng trong việc hình thành những quy tắc mà ông đánh giá cao như thế. Trên thực tế, bằng bút pháp đặc trưng của mình ông đã vượt ra ngoài đường lối của mình và công nhận rằng có lỗi vì là người theo thuyết bất khả tri trước những người có đạo.

Nếu tính tư lợi là cơ sở của tiêu chuẩn đức hạnh thì nó lại đặt ra vấn đế là những tiêu chuẩn đó đáng tin cậy và vững chắc đến mức nào. Fukuyama khẳng định rằng có thể dựa váo tính tư lợi để bảo đảm rằng sự trung thực, hay ít nhất là, nói theo lời ông “biểu hiện của sự trung thực” sẽ tiếp tục tồn tại. Nhưng nhược điểm của lý lẽ của ông lại thể hiện rõ trong sự độc đáo của nó. Trước đó nhiều năm, C. S. Lewis đã hỏi rằng: “Có sự khác nhau giữa một người cho rằng trung thực là chính sách tốt nhất với một người trung thực hay không?” Ông tin, cũng như nhiều người sau đó đã tin, là có.

Nguyên nhân là, việc theo đuổi tư lợi có thể dẫn đến kết quả là công ty muốn giữ danh tiếng là trung thực, việc theo đuổi tư lợi có thể không dẫn tới cam kết là liêm khiết hay thật thà như là giá trị cao quý nhất của công ty, mọi người trong công ty phải thừa nhận và sẽ bị phán xử theo những tiêu chí đó. Lý do là hiển nhiên: có những trường hợp, khi trung thực không phải là mối quan tâm cao nhất của công ty, nếu sắc xuất bị phát hiện là rất thấp thì người ta sẽ dối trá miễn là danh tiếng của công ty không bị mất.

Hậu quả của việc theo đuổi biểu hiện của tính trung thực chứ không phải chính tính trung thực có thể dẫn tới sự thiếu liêm chính ngay tại cơ quan đầu não của công ty và ban quan trị có thể chấp nhận tiêu chuẩn kép. Ban lãnh đạo và ban quản lý cao cấp sẽ bị coi là những kẻ đạo đức giả. Khi dối trá càng ngày càng bị bỏ qua, và khi tiêu chuẩn kép được chấp nhận trên thực tế thì nhất định sẽ xảy ra những vụ tai tiếng. Vấn đề chỉ còn là thời gian mà thôi. Nếu ban lãnh đạo công ty không tin vào sự tồn tại của những tiêu chuẩn tuyệt đối, tức là những tiêu chuẩn có giá trị tự thân và họ phải phục tùng, thì khó có thể hiểu được làm thế nào mà công ty có thể tiếp tục đưa trung thực vào trong những giá trị cốt lõi của nó. Tính cách lươn lẹo của con người, nơi ẩn trú của tính tự tư tự lợi, không thể là nền tảng để xây dựng những giá trị đạo đức lâu dài được. Cần phải có một cái gì đó lớn hơn tính tự tư tự lợi của những người lãnh đạo doanh nghiệp thì đức hạnh mới đứng vững được.

Cơ sở khác cho sự hình thành các tiêu chuẩn đạo đức trong kinh doanh là hình thức đạo đức toàn cầu dựa trên những giá trị chung của nhân loại, kết hợp với những quan niệm của các tôn giáo trên thế giới và truyền thống đạo đức. Cơ sở này công nhận rằng tôn giáo vẫn là một lực lượng mạnh mẽ nhưng cũng công nhận rằng đối với nhiều người thì phi tôn giáo có nghĩa là giải phóng khỏi mọi tín ngưỡng. Mặc dù phi tôn giáo cổ vũ người ta coi mình là người kế thừa chân chính và độc lập của tinh thần Khai sáng, nhưng vẫn có những động cơ thúc đẩy người ta hướng tới những tiêu chuẩn đạo đức căn bản và những hệ giá trị bắt buộc, dựa trên những giá trị chung của nhân loại, tức là những giá trị được nhiều người chấp nhận và công nhận như là tiêu chuẩn của hành vi. Mục tiêu của những người ủng hộ cách tiếp cận này là xây dựng một nền đạo đức mang tính toàn cầu, dựa trên những truyền thống tôn giáo lớn, nhưng đồng thời cũng được những người không có đạo ủng hộ.

Có thể nói giáo sư thần học Hans Kung ở trường đại học Tubingen là người say mê nhất dự án này, ông đã bỏ biết bao nhiêu thời gian và công sức để tìm cách phát triển một nền đạo đức toàn cầu mới, làm cơ sở cho xã hội toàn cầu và coi nền đạo đức đó là sự kết hợp những giá trị, tiêu chuẩn, thái độ, cần thiết nhất, tối thiểu nhất và chung nhất của nhân loại[9]. Hội đồng tôn giáo toàn cầu [The Council of the Parliament of the World’s Religions] họp ở Chicago vào năm 1993 – hội nghị đầu tiên trên thế giới – đã ra Tuyên bố về nền đạo đức toàn cầu.

Tuyên bố này dựa trên hai nguyên tắc song hành là mọi người đều phải được đối xử một cách nhân đạo và hãy làm cho người khác những gì mình muốn họ làm cho mình. Nó bao trùm lên tất cả các khía cạnh của đời sống, kể cả công việc kinh doanh và đòi hỏi phải thực hiện những cam kết chủ chốt như tôn trọng cuộc sống và trật tự kinh tế công bằng, dựa trên những nguyên tắc đặc biệt như tình đoàn kết, trung thực, lòng khoan dung và quyền bình đẳng.

Mặc dù không đưa ra đạo đức đặc thù cho lĩnh vực kinh doanh, cách tiếp cận này rất gần với Quy tắc đạo đức được trình ra tại Diễn đàn kinh tế Davos [Davos management forum] vào năm 1970[10] và các Nguyên tắc Kinh doanh [Principles for Business] trong Caux Round Table (1980)[11], thậm chí có một số đặc điểm chung với Tuyên bố liên tôn giáo về Quy tắc đạo đức trong nền thương mại quốc tế[12] [interfaith Declaration on a Code for Ethics for International Business] ở St George’s House,Windsor, mặc dù tuyên bố này chỉ là tuyên bố của những người theo Do Thái giáo, Thiên chúa giáo và Hồi giáo mà thôi.

Các điều khoản của cả ba bản tuyên bố này đều nhấn mạnh đến trách nhiệm trước các cổ đông và không chỉ cổ đông, mà còn nhấn mạnh những giá trị nền tảng như phẩm giá của con người, sự thật, công bằng, tôn trọng lẫn nhau, tinh thần phục vụ, điều độ và khiêm nhường. Nền đạo đức toàn cầu mà Kung dự kiến còn nhấn mạnh nhu cầu của một sự đồng thuận mới trên bình diện xã hội, đấy sẽ là một khế ước mới giữa lao động, nhà đầu tư và chính phủ.

Sức mạnh của cách tiếp cận đạo đức toàn cầu này là nó chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa thế tục, nó không chấp nhận những lời răn dạy xưa cũ và chủ nghĩa chính thống. Nó bao gôm tất cả, hiện đại và không mang trên mình gánh nặng của quá khứ. Nó được thiết kế một cách chuyên biệt cho nền kinh tế toàn cầu hiện đại.

Vấn đề mà tôi đặt ra ở đây là động cơ. Nói một cách đơn giản nhất là vì sao người ta phải thực hành đạo đức toàn cầu? Mặc dù đấy là một công việc đầy thử thách, nhưng cuối cùng thì lập ra một nền đạo đức phù hợp, mang tính nhân bản và toàn diện cho công việc kinh danh, được cả những người có đạo cũng như những người không theo đạo nào chấp nhận, không phải là việc khó. Nhưng thiết kế ra nền đạo đức và đưa nó vào thực tiễn là hai việc hoàn toàn khác nhau.

Tuyên bố liên tôn giáo đã thành thật công nhận rằng cuộc sống trên hành tinh của chúng ta, trong đó có cả công việc kinh doanh, không thể được cải thiện “trừ phi nhận thức của cá nhân có thay đổi[13]”. Đây là yêu cầu cấp bách. Do đó người ta đã hứa “làm việc nhằm chuyển hóa nhận thức của cá nhân và tập thể, nhằm đánh thức sức mạnh tinh thần của chúng ta thông qua tư duy, thiền định và cầu nguyện hay suy nghĩ một cách tích cực, nhằm cải tạo tâm hồn. Cùng nhau, chúng ta có thể rời núi lấp biển[14]”.

Vấn đề của nền đạo đức toàn cầu là nó nhất định phải thấp hơn giá trị trung bình của cả tôn giáo lẫn phi tôn giáo. Và như thế, nó không thể và không bao giờ có thể trả lời được những vấn đề mà tôn giáo giải quyết, thí dụ như ý nghĩa của cuộc đời, hay cung cấp cho người ta những giá trị, quy tắc hay lý tưởng tuyệt đối làm tiêu chuẩn hành động hoặc tạo ra hi vọng dựa trên hiểu biết về lịch sử; hoặc lặp lại lời kêu gọi do Chúa toàn năng và yêu thương tất cả đã đưa ra cho mỗi người. Tuyên bố liên tôn giáo chỉ rõ rằng sống với nền đạo đức toàn cầu đòi hỏi phải chuyển hóa nhận thức, cải tạo tâm hồn, nhưng thật khó tưởng tượng làm sao có thể cải tạo nếu không có tôn giáo.

Lựa chọn thứ ba: tiêu chuẩn đạo đức là các tôn giáo độc thần mặc khải như Do Thái giáo, đạo Hồi hay đạo Thiên chúa. Một trong những sức mạnh của các tôn giáo này là tiêu chuẩn đạo đức được khắc trên đá và ghi trong những Kinh Sách. Mặc dù việc sử dụng những Điều Răn làm cơ sở của tiêu chuẩn đạo đức trong doanh nghiệp hiện đại có phát sinh một số phức tạp nhất định. Nhưng những Điều Răn không chỉ là hiện thân của một tập hợp mang tính khách quan của những giá trị đạo đức tuyệt đối mà còn kèm theo trách nhiệm phải tuân thủ luật đạo đức nữa. Đạo Do Thái-Thiên chúa giáo trong lịch sử từng là cơ sở cho sự phát triển của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là ở Anh và Mĩ.

Nhiều công ty mà tên gọi đã trở thành nổi tiếng khởi kỳ thủy đã gây được ảnh hưởng tôn giáo rất lớn như: Cadburys, Rowntrees, Barclays, Wedgwood, Unilever, Laing, đấy là chỉ kể một số mà thôi. Trong khi cách tiếp cận đạo đức theo lối tôn giáo có nhiều điểm chung với những cách tiệp cận triết học nhưng phi tôn giáo như thừa nhận ý thức bẩm sinh về trách nhiệm đạo đức, nhận thức mang tính trực giác về những tiêu chí đạo đức khác nhau, quan niệm về thế giới hoàn hảo và ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh cho mục tiêu đức hạnh, nhưng cách tiếp cận theo lối tôn giáo khác ở chỗ là đức hạnh có nguồn gốc tôn giáo.

Trong Kinh Cựu Ước, thế giới và chúng ta, những người sống trên đó đều là một phần của trật tự được Chúa sáng tạo ra và đời sống đức hạnh là tuân theo điều luật và quy định đã được Chúa mặc khải cho người Do Thái, là những người mà Chúa ký giao kèo. Lời kinh, thí dụ như: “Phước cho người nào kính sợ Đức Giê-hô-va, Rất ưa thích điều răn của Ngài!” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Kinh Cựu Ước. Trong Kinh Tân Ước, cơ sở để cá nhân hành xử theo những đòi hỏi đạo đức của Phúc âm là cuộc đời, sự chết và sự tái sinh của Jesus Christ. Vì vậy mà lời khuyên của Thánh Paul cho nhà thờ ở Ephesus: “Tôi nài khuyên anh em phải ăn ở cách xứng đáng với ơn kêu gọi mà anh em đã được gọi” (Thơ của Phao-Lồ gửi cho Ê-Phê-Sô), cũng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong Kinh Tân Ước.

Mặc dù giữa ba tôn giáo độc thần nói trên có những khác biệt căn bản, nhưng học thuyết tôn giáo và đạo đức của cả ba đều có chung nền tảng và cả ba đều xây dựng đức hạnh trên cơ sở tôn giáo. Quy tắc đạo đức trong nền thương mại quốc tế là kết quả của quá trình tham vấn về đề tài được lấy ra từ bốn khía cạnh của học thuyết liên quan đến vấn đề kinh doanh. Một là nguyên tắc công bằng, thứ hai là tôn trọng lẫn nhau, “yêu người ta như mình tôi vậy”; thứ ba là tinh thần làm chủ, nghĩa là trách nhiệm của nhân loại trước sự sáng tạo của Chúa; và cuối cùng là tính trung thực hay là liêm chính, bao gồm tính thật thà và tinh thần trách nhiệm.

Sức mạnh của cách tiếp cận tôn giáo được thể hiện trong quy định pháp luật, thí dụ như Mười Điều Răn là một giá trị tuyệt đối, với những huấn thị cụ thể như “Ngươi phải” hoặc “Ngươi không được”. Các quy định đều rõ ràng và đưa ra biện pháp chế tài đối với hành vi của con người. Nó đã vượt qua thử thách của thời gian. Mặc dù trong những thế kỷ qua đã có nhiều thay đổi trong ngôn ngữ, văn hóa và cơ cấu kinh tế nhưng các tôn giáo mặc khải vẫn chứng tỏ được khà năng thích ứng vô song đối với những hoàn cảnh mới mà không cần thay đổi những đức tin nòng cốt.

Khiếm khuyết của cách tiếp cận tôn giáo là trong thế giới hiện đại hoặc hậu hiện đại ngày nay mà nó vẫn mang theo những quan niệm của thế giới xưa cũ. Đúng là vốn liếng đạo đức của truyến thống Do Thái giáo-Thiên chúa giáo đã bị chủ nghĩa thế tục bào mòn đáng kể, nhất là ở châu Âu, nhưng vẫn có thể nói rằng tôn giáo vẫn còn khá mạnh và trên thực tế trong mấy thập niên qua đã được tăng cường nhờ một loạt các xuất bản phẩm và những lời tuyên bố của các nhà thờ và lãnh tụ tôn giáo. Thí dụ, từ đầu những năm 1960 Đức Giáo hoàng đã công bố ít nhất là mười bốn thông tri có liên quan tới kinh doanh và các vấn đề kinh tế.

Những lời tuyên bố về nến kinh tế Mĩ do Đức Tổng giám mục Mĩ đưa ra trong những năm 1980 và tuyên bố về khái niệm quyền lợi chung đối với đời sống kinh tể của những vị chủ chăn khác ở nước này trong những năm 1990 là những tài liệu có ảnh hưởng lớn. Ở Anh, báo cáo Đức tin trong các thành phố[15] của Lord Runcie, Tổng Giám mục ở Canterbury, công bố vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước đã khuấy động một cuộc tranh luận sôi nổi về sự công bằng của nền kinh tế thị trường và trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp.

Giáo sư Robert Fogel ở trường đại học Chicago [University of Chicago], người từng được giải Nobel về kinh tế học, trong tác phẩm đầy hấp dẫn: Lần thức tỉnh thứ tư [The Fourth Great Awakening[16]], đã khẳng định rằng từ cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960 nước Mĩ đã chứng kiến một sự thức tỉnh mới về mặt tôn giáo – lần thức tỉnh thứ tư trong lịch sử nước này- và nó đã tạo ra một chương trình nghị sợ mới cho cuộc cải cách xã hội và chính trị, cả trên bình diện đạo đức lẫn tinh thần. Mặc dù ông không nói rõ, nhưng thật khó tưởng tượng làm sao mà phong trào đó lại không có ảnh hưởng đối với đời sống kinh tế. Mặc dù đã diễn ra quá trình thế tục hóa và sự phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng tôn giáo vẫn là lực lượng sống động ở Mĩ và do ảnh hưởng của các công ty Mĩ mà có ảnh hưởng đến công việc kinh doanh trên toàn thế giới.

Rõ ràng là có nhiều câu trả lời cho câu hỏi thứ hai: “Tiêu chuẩn đạo đức của doanh nghiệp có xuất xứ từ đâu?” Muốn cho tiêu chuẩn đạo đức có ý nghĩa thì nó phải cụ thể và thực tế chứ không được mơ hồ và trừu tượng: nó phải mạnh mẽ, vượt qua được thử thách của thời gian, nó phải được coi là hợp tình hợp lý và thể hiện được trí tuệ. Nó phải ngăn chặn được những ảnh hưởng cực đoan và chế tài hiệu quả một số hành vi. Theo các tiêu chuẩn đó thì tôi ngờ là tính tư lợi khó có thể là nguồn gốc của tiêu chuẩn đạo đức có đủ sức mạnh để đứng vững và có đủ sức mạnh để có thể gây được ảnh hưởng đối với hành vi của người ta. Thêm thắt, che dấu và lừa dối bao giờ cũng có sức cám dỗ rất lớn.

Nền đạo đức mang tính nhân bản toàn cầu khó có thể trở thành hiện thực vì nó đòi phải chuyển hóa nhận thức nhưng lại không đưa ra phương tiện để làm điều đó. Từ quan điểm này thì tôn giáo là lực lượng đầy sức mạnh. Các tôn giáo nói trên là những tôn giáo coi kinh doanh là một thiên hướng hay một chức phận, cho nên sự nghiệp kinh doanh được coi là phụng sự Chúa Trời, là cội nguồn mạnh nhất để từ đó ta có thể thiết lập, tìm thấy và khuyến khích những tiêu chuẩn đạo đức tuyệt đối trong hoạt động kinh doanh.

Tiêu chuẩn đạo đức hoạt động như thế nào và làm sao áp dụng được tiêu chuẩn đạo đức trong một xã hội đa nguyên?

Muốn hoạt động được thì tiêu chuẩn đạo đức phải được đặt ra một cách rõ ràng. Kết quả là ngay khi được nhận vào làm mỗi người đã biết chính xác đây là tổ chức như thế nào và họ phải là gì để đáp ứng kỳ vọng của doanh nghiệp. Tiêu chuẩn đạo đức như thế có thể được ghi rõ trong điều lệ hay mục tiêu của công ty, trong các nguyên tắc kinh doanh, thông qua chương trình huấn luyện và những bài phát biểu, trong báo cáo định kỳ hàng năm, và thông qua những hoạt động mà công ty tài trợ.

Khi đưa tiêu chuẩn đạo đức vào xã hội đa nguyên mà ta đang sống thì điều quan trọng là tiêu chuẩn đó phải được những người làm việc cho và đầu tư vào công ty chấp nhận. Dù công ty không phải là chế độ dân chủ, nhưng cũng không thể thiết lập được tiêu chuẩn đạo đức nếu nó không được những người làm việc trong đó đồng ý, dù không nói ra. Họ phải coi tiêu chuẩn đó là của chính mình. Nếu không thì tiêu chuẩn trở thành vô giá trị, hay tệ hơn, có rất nhiều tiêu chuẩn khác nhau, nhưng chúng chỉ gây ra hỗn loạn thêm mà thôi. Nếu người lao động không chấp nhận tiêu chuẩn đó thì họ có thể bỏ đi và tìm việc trong công ty với tiêu chuẩn phù hợp hơn với họ.

Tương tự như thế, nếu các cổ đông không chấp nhận tiêu chuẩn đó thì họ có thể bán cổ phiếu, nhưng tệ hơn nữa là họ cứ giữ cổ phiếu và vận động mọi người đứng lên chống lại những giá trị của công ty bằng cách gây khó khăn trong những cuộc họp cổ đông. Tình hình có thể còn xấu hơn nếu họ được người tiêu dùng ủng hộ bằng cách phản đối công khai, hay sẵn sàng mua ở những chỗ khác và bị cộng đồng nơi công ty đặt nhà máy phản đối thông qua các tiến trình chính trị. Nếu người ta phải chấp nhận những tiêu chuẩn mà công ty đặt ra thì họ phải nhìn thấy những mục tiêu thực tiễn của chúng: cung cấp cho người tiêu dùng dịch vụ tốt hơn, cải thiện chất lượng công việc được thuê làm bên ngoài, tôn trọng người lao động, giúp người lao động khi có khó khăn, tạo điều kiện và cải thiện cuộc sống trong nội bộ công ty.

Ban lãnh đạo công ty có vai trò quan trọng và đặc biệt trong việc giữ gìn các tiêu chuẩn đạo đức đã được công bố. Vai trò gương mẫu của ban lãnh đạo là tiếng nói đầy sức mạnh về sự gắn bó của công ty đối với những giá trị của họ, cho nên trước hết, các nhà lãnh đạo phải tự mình sống bằng tiêu chuẩn đó. Đặt ra tiêu chuẩn một cách hợp lý, làm rõ những nguyên tắc làm cơ sở cho nó và những đặc điểm của nó trong tất cả các lĩnh vực của đời sống công ty là những tác nhân quan trọng. Nhưng đây chỉ là một phần của câu chuyện.

Trong tác phẩm Đức dục (Ethics[17]), Aristotle đã làm rõ sự khác nhau giữa sự trong trắng về mặt trí tuệ và sự trong trắng về mặt đạo đức. “Sự trong trắng về mặt đạo đức đa phần là sản phẩm của thói quen và nói cho ngay là xuất phát từ tên của nó, với một ít thay đổi về hình thức, từ cái từ đó … Thiên hướng đạo đức của chúng ta được hình thành như là kết quả của những hoạt động đáp ứng… Vì vậy mà trong thời niên thiếu ta được huấn luyện thói quen này hay thói quen kia không phải là chuyện nhỏ: ngược lại, đấy là điều rất quan trọng thậm chí là quan trọng nhất”. Nhận thức sâu sắc như thế, mà cụ thể là hình thành thói quen là tác nhân quan trọng nhất trong việc phát triển hành vi mang tính đạo đức, liên quan đến việc nuôi dạy trẻ em, nhưng cũng liên quan đến việc thực hành những tiêu chuẩn đạo đức trong nội bộ công ty.

Điều đó cho thấy rằng thói quen thể hiện cách thức công ty giải quyết công việc hàng ngày là tác nhân quan trọng, vì người ta sẽ coi những thói quen này là những giá trị thực sự của công ty: sự tôn trọng của ban lãnh đạo đối với người lao động, chăm lo đối với việc phát triển tay nghề của người lao động, sự cởi mở của những người lãnh đạo các đơn vị trong khi trình bày kết quả công tác và ngân sách của họ, việc lựa chọn những người được thăng chức, cách thức thực hiện tiêu chuẩn đạo đức trong các chi nhánh của công ty, xử lý các nhà quản lý kém hiệu quả, sự cởi mở của ban lãnh đạo trước những ý kiến trái chiều…v..v

Nếu các nhân viên thấy rằng công ty tôn trọng một cách nhất quán tiêu chuẩn do mình lựa chọn thì những hoạt động thường ngày mà người ta chứng kiến sẽ trở thành thói quen và củng cố thêm tiêu chuẩn của công ty; còn nếu không có sự nhất quán, không dám đối mặt với những trường hợp khó khăn, một số người không phải tuân thủ tiêu chuẩn, thì người ta cũng nhanh chóng nhận ra và một thói quen mới sẽ được hình thành, đến lúc nào đó nó sẽ làm mất giá tiêu chuẩn mà công ty tự đặt ra.

Trong quá trình thực hiện tiêu chuẩn thì cả ban lãnh đạo công ty phải tham gia chứ không chỉ một mình ông giám đốc điều hành là có thể làm được. Muốn thiết lập được tiêu chuẩn thì phải có một nhóm các nhà lãnh đạo nòng cốt tận tụy ở cấp cao nhất, những người sẵn sàng bảo vệ tiêu chuẩn đó, đồng thời tất cả các cấp lãnh đạo trong tổ chức cũng phải sẵn sàng coi nó là ưu tiên hàng đầu. Điều đó sẽ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với quá trình tuyển dụng và bố trí nhân viên của công ty. Một trong những tiêu chí của chính sách tuyển dụng là người được thuê mướn phải chấp nhận những giá trị đã được minh định rõ ràng: những người không thể hoặc sẽ không chấp nhận phải bị gạt ngay.

Xin được nhấn mạnh một vấn đề: cân nhắc trong việc chuyển người trong khắp tổ chức để bảo đảm rằng những người thể hiện được nền văn hóa của công ty được đưa đến những vị trí mà họ có thể tạo được ảnh hưởng to lớn nhất đối với tổ chức. Mặt khác, tinh thần đồng đội sẽ bị tổn thất nặng nề nhất, nếu việc thăng chức trước hết dựa trên sự phù hợp với tiêu chuẩn văn hóa mà không dựa trên khả năng hoàn thành nhiệm vụ của những cá nhân liên quan. Mặc dù không chứng minh được, nhưng tôi tin rằng cùng với thời gian, tiêu chuẩn đạo đức độc lập không chỉ là một điều gì đó tự bản thân nó là tốt đẹp mà còn có lợi cho cả cổ đông lẫn người lao động nữa.

Tiêu chuẩn đó không bao giờ có thể thay thế được cho các biện pháp quản lý khác nhau như chiến lược, hệ thống, cơ sở hạ tầng hay những người lãnh đạo có tài. Nhưng cùng với thời gian, tính trung thực sẽ tạo ra niềm tin, người ta sẽ đáp ứng theo một cách khác khi được tôn trọng, chất lượng phục vụ cao sẽ tạo ra lòng trung thành của người tiêu dùng, và sẽ có ít khách hàng và nhân viên bỏ đi hơn. Công ty gắn bó với tiêu chuẩn sẽ cảm thấy rằng mỗi ngày làm việc đều là thử thách và ngày làm việc nào cũng là một ngày mới.

Công ty tôn trọng tiêu chuẩn đạo đức có vai trò quan trọng như thế nào đối với xã hội?

Mặc dù không phải lúc nào cũng được tín nhiệm, nhưng công ty kinh doanh hiện đại đã trở thành người đi đầu trong việc truyền bá các giá trị trong xã hội chúng ta. Nó chưa được tín nhiệm đúng mức là vì nhiều người thường đồng nhất công ty với việc tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối đa hóa thu nhập của cổ đông, những giá trị được coi là kết quả của nạn độc quyền, các cartel và giá quá cao, mức đền bù quá đáng cho những người quản lý, những vụ bê bối tài chính và gây nguy hiểm cho môi trường – tất cả những điều đó đều bị coi là có hại cho quyền lợi của xã hội. Đây là đề tài phức tạp, không thể nói chi tiết ở đây được, nhưng những điểm sau đây là đặc biệt có ý nghĩa.

Thứ nhất, đa phần các công ty hiện nay đều có một tập hợp hiển ngôn các tiêu chuẩn thể hiện những quan điểm mạnh mẽ về mặt đạo đức, trong lĩnh vực công cộng và đòi hỏi dưới dạng những tiêu chuẩn hành động mà họ đặt ra cho tất cả các nhân viên của công ty.

Thứ hai, cùng với sự suy giảm ảnh hưởng của nhà thờ và sự thất bại trong đời sống gia đình ở phương Tây, công ty đã trở thành cộng đồng càng ngày càng có vai trò quan trọng hơn vì người ta dành nhiều thời gian làm việc trong công ty, và thường thì những người làm việc cùng công ty cũng là nhóm quan trọng cho việc hình thành quan hệ ban bè. Thứ ba, công ty càng ngày càng có vai trò quan trọng cho những đóng góp từ thiện, cả bằng tiền mặt lẫn thông qua những chương trình hướng dẫn.

Thứ tư, một phần là do thành tích và danh tiếng của lĩnh vực tư nhân vì sử dụng hiệu quả những nguồn lực sẵn có, nhưng một phần cũng vì sự tôn trọng các giá trị của công ty mà các công ty tư nhân đã được đề nghị điều hành một số định chế công cộng như các trường học kém chất lượng hoặc đóng vai trò quan trọng hơn trong việc thực hiện công tác xã hội hay chăm sóc sức khỏe, những công việc mà cách đây vài thập kỷ không ai có thể nghĩ là các công ty sẽ đứng ra đảm nhận.

Thứ năm, người ta có cơ hội thăng tiến thông qua những chương trình đào tạo và thực hiện trách nhiệm mà công ty giao cho họ. Thứ sáu, trong lĩnh vực đào tạo, khu vực công cộng càng ngày càng muốn làm việc với những đối tác trong lĩnh vực tư nhân nhằm triển khai các chương trình đào tạo và học tập suốt đời.

Và thứ bảy, sự tập trung chú ý vào việc quản lý công ty một cách hiệu quả tại nhiều nước phương Tây kết hợp với những đòi hỏi mang tính pháp quy, yêu cầu công ty phải minh bạch hơn, tạo cho các công ty vai trò quan trọng trên trường quốc tế trong việc thúc đẩy những tiêu chuẩn về trách nhiệm giải trình trong những nước đang còn phải vật vã trong cuộc chiến đấu nhằm đưa ra các tiêu chuẩn như thế.

Kết luận

Quan niệm công ty kinh doanh như một cộng đồng đạo đức chỉ là một khía cạnh trong đời sống kinh tế mà thôi. Nó chưa phải là đề tài quan trọng trong chương trình nghị sự vì khó đo lường được tác động và ảnh hưởng kéo dài của nó. Nhưng nếu được quản lý tốt, việc xác lập một cách rõ ràng những tiêu chuẩn đạo đức trong nội bộ công ty có thể mang lại lợi ích đáng kể cho tất cả những người có quan hệ với công ty đó.

 

Phạm Nguyên Trường dịch
Nguồn: Capitalism, Morality and Markets


[1] Bernard Mandeville, The Fable of the Bees: or Private Vices, Publick Benefits, Oxford,
Clarendon Press, 1924. Republished Liberty Press, Indianapolis 1988.
[2] Adam Smith, The Theory of Moral Sentiments, 1759, pp. 485-6
[3] Milton Friedman, ÔThe Social Responsibility of Business is to Increase Its ProfitsÕ.
Reprinted in Ethical Theory and Business, T. Beauchamp and N. Bowie (eds.), En –
glewood Cliffs, New Jersey, Prentice Hall, 1988.
[4] Francis Fukuyama, The Great Disruption, Profile Books, London 1999, p. 254.
[5] Ibid, p. 256
[6] The fullest treatment of this subject is in the three volumes of Law, Legislation and
Liberty, Friedrich Hayek, Chicago University Press, Chicago, vol. I, “Rules and
Order”, 1973, vol. II, “The Mirage of Social Justice”, 1978, vol. III, “The Political
Order of a Free People”, 1981.
[7] ibid, vol. I, p. 44.
[8] ibid, vol. I, p. 17.
[9] See in particular Hans Kung and Helmut Schmidt (eds.), A Global Ethic and Global Responsibilities: Two Declarations, SCM, London, 1993; Hans Kung (ed.), Yes to a Global Ethic, SCM, London, 1995; Hans Kung, A Global Ethic for Global Politics and Economics, SCM, London, 1997.
[10] See Rosemarie Fiedler-Winter, Die Moral Der Manager, Seewald Verlag 1977.
[11] Caux Round Table Principles for Business, 1980.
[12] Interfaith Declaration. Code of Ethics on International Business for Christians, Muslims
and Jews, Interfaith Foundation, October 1993.
[13] Hans Kung and Helmut Schmidt (eds.), A Global Ethic and Global Responsibilities:
Two Declarations, SCM, London, 1993, p. 31.
[14] ibid, p. 32.
[15] Archbishop of Canterbury’s Commission on Urban Priority Areas, Faith in the City, Church House Publishing, London, 1985.
[16] Robert William Fogel, The Fourth Great Awakening, University of Chicago Press, Chicago, 2000.
[17] For a useful discussion of Aristotle’s Ethics see Alisdair MacIntyre, A Short History
of Ethics, Routledge and Kegan Paul, London, 1967.

Một ngụ ngôn về tổn phí cơ hội

Featured Image: Nan-Cheng Tsai

 

3 tháng 4, 2006

Có một buổi nhạc hội. Ban nhạc Green Way sắp ghé thành phố này. Muốn được nghe ban nhạc Green Way chơi nhạc sống các ca khúc tuyệt vời trong dĩa nhạc American Dolt, bạn phải sắp hàng, cắm lều qua đêm chờ mua vé. Bạn tới phòng bán vé khoảng nửa đêm, nhưng không thể ngủ được vì chung quanh quá ồn ào. Cuối cùng, bạn cũng thiếp đi. Giấc ngủ tưởng chừng chỉ được vài phút khi bạn bị đánh thức bởi tiếng kéo cửa mở phòng bán vé, lúc đó là tám giờ sáng. Dưới ánh nắng chói lọi, bạn nhận ra số người xếp hàng đông hơn là bạn nghĩ. Có tới cả mấy ngàn người. Rất có thể bạn không mua nổi vé, dù đã bỏ công trực cả đêm.

Sau ba giờ đồng hồ, hàng người trườn gần về cửa sổ phòng vé. Bên trong lồng kính, bạn trông thấy người bán thu tiền và giao vé. Bạn càng cảm thấy lo lắng. Nỗi lo có nguyên nhân: lại có tiếng vang từ cửa sổ phòng bán vé, lần này do cánh cửa bị đóng sầm xuống. Hết vé? THẬT HẾT VÉ! Thôi rồi. Cô đào của bạn mong đợi tấm vé này bao nhiêu. Cô nàng mê tít ban nhạc Green Way mà.

Nay lẻ loi quay bước về nhà, bạn cúi đầu chán nản. Đột nhiên, nghe tiếng huyên náo bên kia đường. Xem ra đám người trong hàng đầu sáng nay chẳng phải là người hâm mộ ban nhạc Green Way gì cả! Họ mua vé chỉ để bán ngay lại cho người khác. Và họ đang bận rộn rao bán ồn ào. Hết xẩy – có lẽ vẫn gặp may.

Băng nhanh qua đường, bạn nhập vô đám đông bao quanh những “người bán lại”(gọi một cách lịch sự). Nhưng bạn không biết tai mình nghe có đúng không: “Ba trăm đô một vé, cha nội. Trả tiền mặt.”

Càng khó tin hơn khi vẫn có người sẵn sàng trả 300 đồng một vé. Phải nghĩ lại xem nên hay không nên cái đã. Theo luật tại tiểu bang của bạn, việc “đầu cơ” vé coi văn nghệ là hợp pháp. Thêm đó, đối với bạn chuyện đầu cơ cũng chẳng có gì trái với lương tâm. Tiền dành dụm có được 600 đủ trả hai vé. Vé nào cũng đồng hạng, không có ghế thượng hạng.

Nhưng rồi bạn lại nghĩ đến tổn phí cơ hội, cái tổn phí cơ hội to tát.[i] Nhớ lại hồi học lớp kinh tế, ông thầy dạy rằng tổn phí cơ hội có dính dáng tới việc được cái này thì mất cái kia. Nói cách khác, tổn phí bỏ ra để thực hiện một việc chính là tất cả các số việc khác mà bạn không thể thực hiện được nữa.

Sáu trăm đồng quả là một tổn phí cao. Bạn không tiếc số tiền cho mấy, nhưng nếu tiêu tới 600 đô la, bạn có thể mua tất cả mọi dĩa nhạc mà ban Green Way đã thu thanh, kiêm luôn máy Mp3 để nghe nhạc. Rồi vẫn dư tiền rủ bạn bè đi vũ trường nghe nhạc của ban Green Way mỗi tối thứ sáu trong cả tháng. (Chắc chắn là những vũ trường chơi nhạc của Green Way, vì hiện nay mọi nơi toàn chỉ chơi nhạc này, đặc biệt là bản ca ngợi sinh thái học, “Nader of Suburbia”)

Điểm cốt yếu là tiền không phải là tổn phí toàn bộ của bất cứ hoạt động nào. Tổn phí chính thực là cái mà bạn phải từ bỏ: chi tiền cho việc X tức là bạn không còn số tiền ấy để chi cho việc Y. Do đó, tổn phí thực sự của X là… Y. Một số nhà kinh tế học cho rằng tiền chỉ là “tấm màn” che giấu thực chất rằng giá tiền là thước đo sự khan hiếm có tính cách tương đối của hàng hóa.

Nếu bạn đi dự buổi nhạc hội, bạn sẽ không có 10 cái CD nhạc, với giá $20 một dĩa, một máy X-pod Mp3 đáng giá $250, và $150 tiền mua nước giải khát tại vũ trường. Tất cả mọi thứ ấy đánh đổi với chỉ một đại nhạc hội dài hai tiếng đồng hồ. Suy đi nghĩ lại, bạn lắc đầu. Không đáng tí nào.

Quyết định xong, bạn định hướng về nhà, mặt chảy dài. Đi bộ khoảng hai mươi ngã tư đường, bạn nhìn thấy một phong bì nhàu nát nằm cách lề đường một tí. Mặt ngoài phong bì trống trơn.

Lượm phong bì lên, cảm giác là lạ, tim đập nhanh. Xé phong bì ra… bên trong là hai tấm vé nhạc hội Green Way! Hết xẩy!

Tiếp theo… cảm giác tội lỗi. Hai vé này không phải của bạn. Nhưng bạn lại nghĩ, giả như cái phong bì này bay ra từ cửa sổ xe hơi và người đánh mất nó hiện đã đi xa lắc rồi thì sao? Có thể chính họ cũng chưa biết đã mất vé, cơ mà.

Thế nhưng, bạn vẫn chờ gần một tiếng đồng hồ. Mỗi khi có xe đi ngang, bạn nín hơi, toàn thân chỉ có tim thót đập. Không chiếc xe nào chậm lại, và không bộ hành nào đến kiếm phong bì. Bạn chật vật lắm mới đưa phong bì lên hỏi: “Có ai đánh rơi cái này không?” Vả lại trong nhạc hội, chỗ ngồi như nhau nên sẽ chẳng thể xác nhận chủ quyền đích thực của hai tấm vé. Vé này thuộc về bạn, công bằng và thẳng thắn.

Xong, bạn báo tin vui cho cô bồ qua điện thoại di động.

Hết chuyện.

Bây giờ, đây là vấn đề: Thế nào? Anh hay chị có đi nghe nhạc hội không, và nếu có, thì tại sao? Hãy giả sử anh hoặc chị là người “khôn ngoan” về mặt tài chính.

Tôi dùng ngụ ngôn này (một phần là chuyện có thật về đại nhạc hội của ca sĩ Bruce Springsteen) làm một câu hỏi trong đề thi học kỳ hai cho môn Kinh Tế Học Vi Mô tại Đại Học Dartmouth vào năm 1986. Tôi cho rằng đề thi dễ. Sinh viên của tôi tại Dartmouth thông minh nhanh trí, và chắc chắn là biết rõ định nghĩa của Tổn Phí Cơ Hội. Trên thực tế, họ hiểu Tổn Phí Cơ Hội rất rành.

Thế mà hơn nửa lớp trượt câu hỏi này; một số sinh viên giải đáp hoàn toàn sai. Chúng ta hãy thử xem các anh/chị định điện thoại báo tin như thế nào với bạn trai hay bạn gái của mình, kể cả số điểm tôi chấm cho mỗi lời giải.

Cách trả lời thứ nhất: “Anh có vé chùa! Mình đi nghe đại nhạc hội Green Way!”

Điểm: F

Anh/chị trả lời trật rồi; về học lại. Vé đâu phải của chùa, không mất tiền. Nhớ kỹ, bạn không ngại bán lại vé với giá cắt cổ, đầu cơ vé là chuyện hợp pháp, và bạn biết là có thể bán được với giá $300 một vé. Thêm đó. sau khi suy nghĩ kỹ, bạn đã thấy rằng buổi nhạc hội không đáng cái tổn phí cơ hội với giá $300 một ghế. Tổn phí cơ hội của việc tham dự nhạc hội vẫn là $600, cho dù bạn lượm được vé bên lề đường.

Cách trả lời thứ hai: “Mình đi mua vài CD nhạc, mua luôn máy Mp3, rồi tối đi chơi. Anh vừa lượm được $600!”

Điểm: B+

Bạn đã giản dị hóa thái quá vế bên kia của vấn đề. Nên nhớ, bạn còn phải đi bộ hai mươi ngã tư đường để trở về lại chỗ bán vé, rồi rao bán. Và nếu bạn bán đi hai cái vé, bạn phải giải thích lý do với bồ của mình. Giữ hay bán, thật ra không bên nào hiển nhiên hơn bên nào.

Cách trả lời thứ ba: “Em ơi, mình sẽ đi nghe nhạc hội Green Way! Anh lượm được hai vé, tương đương như lượm được $600, trừ đi $50 chi phí giao dịch để bán vé lại cho người khác (đi bộ ngược lại chỗ bán vé, rao hàng, v.v.) Thành ra vé thiệt chỉ tốn có $550 thôi. Tính ra là có lời do vé lượm được, vậy em được đi nghe nhạc.

Điểm: A+

Trúng phóc.

Bây giờ chúng ta hãy thảo luận về thang điểm của tôi. Giả thiết một sinh viên đề cập đến kết quả lợi tức thu nhập, và chi phí giao dịch, và rồi vẫn quyết định không đi nghe nhạc, thì lời giải đó cũng được điểm A+. Ngược lại, luận giải rằng “Anh được vé chùa! Mình đi nghe nhạc hội!” là luôn luôn sai, hoàn toàn sai, sai một cách dã man.

Thế mà hơn nửa số sinh viên của tôi đưa giải đáp “Vé chùa! Mình đi!” [Với kết quả này], Tôi quả thật là một giáo sư tồi trong môn kinh tế học.

Tổn Phí Cơ Hội không phải là điều ta thường nghĩ

Tôi than vãn về kết quả đề thi với các bạn đồng nghiệp. Những đồng nghiệp kinh tế gia nghe chuyện tôi kể không lấy làm ngạc nhiên. “Người ta không hiểu tổn phí cơ hội. Nói đúng ra, người ta không hiểu rất nhiều những khái niệm xem chừng đơn giản trong ngành kinh tế học. Vì thế chúng ta nên nghiên cứu thêm về kinh tế học.” Tôi không chắc quan niệm này đúng. Nó khiến tôi nhớ đến lời bình phẩm của Bill Niskanen về Ludwig von Mises (1971).[ii] Niskanen lập luận rằng nhiều người, trong đó có cả von Mises, đã quá lạc quan khi kết luận dựa trên “một niềm hy vọng, mà nay nhìn lại thấy ngây thơ làm sao, là một sự giáo dục đại chúng về kinh tế học sẽ làm cho quần chúng bớt ủng hộ bộ máy chính quyền cồng kềnh cùng với kết quả của nó là một nền hành chính thư lại.”

Niskanen không nghĩ rằng kinh tế học lại hiển nhiên như vậy, ít nhất là không hiển nhiên như thế đối với đa số quần chúng.

Thay vào đó, câu trả lời hình như đơn giản hơn: Người ta tình thật không suy nghĩ theo lối này, cho dù bạn cố gắng chỉ dạy cho họ đường lối suy nghĩ theo kinh tế học. Bằng chứng là lời giải thích của tôi không thuyết phục được đa số người nghe. Và nhiều đồng nghiệp khác ngành cho rằng cái lý luận xem chừng hiển nhiên trong khía cạnh kinh tế học đã sai trong thực tế ngay từ đầu, ít ra thì nó cũng mô tả sai về cách hành xử của con người. “Dĩ nhiên người ta chọn đi nghe nhạc hội; nếu anh tìm được vé chùa, mà lại không dẫn bạn gái đi nghe, thì coi như đôi bên chia tay là cái chắc! Đừng tính kỹ quá!”

Anthony de Jasay viết một bài khá thú vị cho Econlib,[iii] mô tả tầm quan trọng của việc phân tích. Jasay nhắc lại lời khuyến cáo của Frédéric Bastiat rằng cần chú trọng vào tổn phí cơ hội: “Khi ta có ấn tượng tốt với các tác động cụ thể và ta chưa biết nhận ra các tác động vô hình, ta sẽ theo đuổi các thói quen xấu xa, không những vì khuynh hướng tự nhiên, mà còn vì cố ý.”

Nói cho công bằng, cũng có một số tài liệu Tâm Lý Học và Kinh Tế Học bàn rằng ta thường không nghĩ đến tổn phí cơ hội theo như dự đoán thông lệ trong ngành Kinh Tế Học. Xem ra ta đánh giá thu nhập khác với tổn thất; có vé mà không dùng là bỏ phí, khác với sự chọn lựa nên hay không nên bỏ tiền ra mua vé. Cho dù giá trị của thu nhập và tổn thất thật vốn bằng nhau ($600, trong trường hợp này), ta coi sự kiện này không liên hệ. Lối suy nghĩ này liên quan đến “công trình nghiên cứu về kinh nghiệm bản thân và thành kiến” của khoa tâm lý suy luận (do Kahnermann, Tversky, và các người khác trình bày). Thành kiến này, mang tên “hiệu ứng hàng đã có,” dựa trên kinh nghiệm rằng ta đánh giá vật ta đang có cao hơn vật ta chưa mua hoặc thu được, cho dù vật đó là cùng một thứ và đáng cùng một giá.

Nhưng tôi vẫn chưa cảm thấy được thuyết phục. Có lẽ người ta hiểu sai. (Nói cho công bằng, Kahnemann và Tversky cũng nghĩ sự chọn lựa theo kiểu này là “sai,” theo cách nhìn dựa trên lý trí, nên tôi cũng không bất đồng ý kiến với họ trong những trường hợp quan trọng). Mong người ta sẽ hiểu đúng khái niệm này cũng giống như là có niềm hy vọng, “gần như ngây thơ khi nhìn lại,” rằng công dân đều được giáo dục về căn bản kinh tế. Trên các chuyến bay, tôi đưa ra câu hỏi về tổn phí cơ hội với các hành khách khác, hoặc hỏi những tham dự viên trong các hội nghị. Họ rõ ràng chia làm hai phe, ngay cả sau khi nghe tôi giải thích câu trả lời “đúng.”

Vấn đề tương tự luôn xảy ra tại những trận banh bóng rổ tại đại học Duke, nơi tôi giảng dạy. Giá vé xem bóng rổ tại sân Cameron Indoor là $40. Thế nhưng đa số trận, vé bán được giá cao hơn nhiều. Vài trận, thí dụ trận đội Duke đấu đội UNC, giá vé đầu cơ vượt hơn $1000. Trong năm 2006, vé bán tới khoảng $2500. Do đó, khi ban giáo sư xin tôi (trưỏng khoa) cho tăng lương vào cuối năm, tôi sẽ nhắc nhở rằng họ không cần thêm tiền vì họ giàu quá rồi.

“Ông nói thế là thế nào?” họ hỏi.

Tôi trả lời, “Thì quý vị mua nổi $2500 một vé đi xem bóng rổ. Quý vị phải giàu lắm.”

Họ đưa tôi xem cái vé. “$40! Là vé $40 đó!”

Câu trả lời của tôi ? “Thế thì thế này. Tôi có $50. Ông chịu bán vé đó cho tôi không ? Theo ông nói thì vé có $40 thôi.”

Cho tới nay, tôi vẫn chưa mua được vé nào theo lối ấy, kể cả từ những người nói với tôi rằng tổn phi cơ hội là một khái niệm ngu xuẩn.


Tài liệu tham khảo

Bastiat, Frederic. 1848. “What is Seen and Not Seen.”
Buchanan, James. 2001. Cost and Choice: The Collected Works of James M. Buchanan. Indianapolis: Liberty Fund.
Caplan, Bryan. “Mises and Bastiat on How Democracy Goes Wrong, Part I
___________. “Mises and Bastiat on How Democracy Goes Wrong, Part II
De Jasay, Anthony. 2002. “The Seen and the Unseen: The Costly Mistake of Ignoring Opportunity Cost.”
Mises, Ludwig von. 1944/1969. Bureaucracy.
Niskanen, William. 1971. Bureaucracy and Representative Government. Chicago: Aldine-Atherton.
Tversky, A. and D. Kahneman. 1992. Advances in Prospect Theory: Cumulative Representation of Uncertainty. Journal of Risk and Uncertainty 5: 297-323.


[themify_box style=”pink rounded” ]Michael Munger là Trưởng Phân Khoa Khoa Học Chính Trị tại Đại Học Duke[/themify_box]

 

Michael Munger
© Học Viện Công Dân 2010
Nguồn: Michael Munger, A Fable of the OC