19.5 C
Da Lat
Thứ Năm, 15 Tháng 1, 2026

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
Trang chủ Blog Trang 67

[Review] 2001: A Space Odyssey – Chuyến du hành vào miền tâm thức

0

Trong suốt qua hơn sáu mươi năm lịch sử điện ảnh, điều đã được minh chứng rõ ràng nhất hết lần này đến lần khác là hiếm có một nhân vật nào có thể so bì được với bậc thầy auteur Stanley Kubrick

Với cách tiếp cận điện ảnh độc đáo, trí tuệ, hàm chứa nhiều ý nghĩa ẩn dụ nhiều tầng về mỹ học, triết học, chính trị, Kubrick được ví như một Leonardo da Vinci của thời hiện đại, là một tượng đài mà bất cứ ai đam mê điện ảnh cũng phải dành lấy một sự kính trọng nhất định đối với ông. Kubrick, đối với giới nghệ thuật, là một hiện thân của sự vĩ đại và trù phú trong từng đường nét chấm phá, với những món sơn hào hải vị đòi hỏi người thưởng thức phải có một trình độ và tư tưởng, cách suy nghĩ nhất định đối với từng món ăn được bày ra thịnh soạn.

Kubrick là một đạo diễn người Mỹ nhưng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ phong cách làm phim của các vị đạo diễn Châu Âu; từ phong trào Làn Sóng Mới Pháp cuối những năm 1950, Andrei Tarkovsky, cho đến những phim của Ingmar Bergman. Điều đó được phản ánh rõ nhất qua những tác phẩm như hài đen Dr Strangelove, Ben-Hur, Barry Lyndon, và nổi bật nhất, có tầm ảnh hưởng nhất trong số đó chính là 2001: A Space Odyssey.

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và trong nhà

Luôn đứng đầu trong danh sách những bộ phim khoa học viễn tưởng có tầm ảnh hưởng nhất trong lịch sử, 2001 là kết tinh của sự sáng tạo vô biên của loài người, của nền khoa học kỹ thuật, khoa học vũ trụ phát triển như vũ bão vào bối cảnh bộ phim ra đời: Những năm 1960.

Được viết song song với cuốn sách cùng tên của Arthur C Clarke, 2001 hoạt động dựa trên nhiều tầng lớp có sự gắn kết mật thiết và chặt chẽ với nhau. Đó là những góc máy quay như xuất phát từ tiềm thức của người xem, là những kỹ xảo practical đi trước thời đại nửa thập kỷ, sự pha trộn giữa cái nghệ thuật và sự tính toán tỉ mỉ của một nhà toán học. Đó là những phép ẩn dụ, hoán dụ, nghịch đảo cho quá trình tiến hóa của nhân loại, vũ trụ, chủ nghĩa nhân sinh. Đó là tương lai, là những suy đoán về số mệnh của con người với sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo. Là tư tưởng của Nietzsche, là dấu vân tay của Picasso, là một cái gật đầu đồng tình trong sự đột phá nghệ thuật làm phim của Orson Welles, kết tinh của mọi tư tưởng triết học, tâm linh, tình huống tiến thoái lưỡng nan trong những vấn đề cấp bách của nhân loại thế kỷ XXI.

Trong hình ảnh có thể có: đêm và bầu trời

2001 là một trải nghiệm, không khác biệt với những trải nghiệm tâm linh, khai mở tâm trí của khán giả và mở ra những cánh cửa nhận thức. Quả thật, khó có thể dùng từ ngữ để lột tả trọn vẹn hết điều làm nên cái hay của Kubrick, của 2001. Suốt nhiều thập kỷ qua, bộ phim đã được phân tích đến từng chân tơ kẽ tóc, với nhiều những giả thuyết xoay quanh nội dung: điên rồ có, siêu hình có, “giả thuyết âm mưu” cũng không nằm ngoài những dự đoán của các fan bộ phim.

2001: A Space Odyssey lấy bối cảnh năm 2001 (33 năm sau khi bộ phim được sản xuất) về một nhóm các phi hành gia lên đường tìm kiếm và nghiên cứu một vật thể tảng đá monolith (tảng nguyên khối). Khối monolith là một vật thể kỳ bí, công dụng không ai biết rõ nhưng điều mà các nhà khoa học có thể nhận thấy rằng nó là một sản phẩm trí tuệ ngoài hành tinh. Nhìn ở một khía cạnh vượt khỏi nội dung bộ phim, nó đại diện cho sự thúc đẩy, bước tiến vượt bậc trong quá trình tiến hóa của loài người. Với hình dáng như được mài dũa thật tỉ mỉ bởi những công nghệ cấp tiến, khối monolith là một trong những tâm điểm chính đáng để bàn luận trong 2001, bên cạnh cỗ máy trí tuệ nhân tạo HAL 9000.

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời

HAL 9000 là hiện thân của sức mạnh khoa học kỹ thuật, của những gì nhân loại chưa biết. Một sản phẩm nhân tạo song có đủ trí tuệ và sự biểu đạt cảm xúc đến mức thượng thừa, đủ để thậm chí còn trên cơ cả con người trong bộ môn cờ vua. (Đến giữa những năm 1990, cỗ máy Deep Blue đã biến điều này thành sự thật khi đánh bại đại kiện tướng Garry Kasparov để chứng minh sức ảnh hưởng của máy tính trong cả những lĩnh vực cần sự khéo léo về tư duy.) HAL 9000 trong tâm trí của Kubrick như thuộc một “chủng loài” với nhận thức tiến hóa hơn, hoàn hảo hơn con người về mọi mặt, đồng thời cũng là đại diện trở ngại lớn nhất của loài người: Vấn đề hiện sinh.

Tôi sẽ dừng review phần nội dung của bộ phim ở đây, và tiếp đến là nêu ra những quan điểm tôi đúc kết được sau khi đọc vô số những bài phân tích về tác phẩm này. Phần còn lại, hãy tự bạn trải nghiệm bộ phim và tự rút ra những ý kiến của bản thân. Ngay cả như vậy, việc thấu hiểu hoàn toàn 2001 gần như là điều không thể: Bộ phim được sản xuất dàn dựng quá chặt chẽ, mà bất cứ giả thuyết nào cũng sẽ gần như tự tin rằng nó là chính xác.

Về mặt lý học, không có lý do gì để những con người yếu đuối về cả thể xác lẫn trí tuệ phải tồn tại. Những kẻ ngu dốt đi lạc trong màn đêm vũ trụ, luôn tò mò khát khao vươn tới những vì sao sau khi đã phá nát hành tinh quê nhà của chính họ. Những kẻ đi ngược lại chu trình tiến hóa, muốn chơi trò chơi của Thượng Đế dù rằng trí thông minh so với một cỗ máy như HAL 9000 không khác gì những con vượn. Khoa học càng phát triển ta càng hiểu ít đi về bản thân và chỗ đứng trong lịch sử hơn. Ta nghĩ quá nhiều mà ta lại cảm quá ít. Ta có cái nhìn một chiều về tất cả mọi thứ, ngay cả ở những điều ngoài tầm với.

Trong hình ảnh có thể có: bàn và trong nhà

2001, với tôi, là cái nhìn của Kubrick đối với quá trình lịch sử khoa học và tâm linh nhân loại: quá khứ, hiện tại và cả tương lai. Mỗi lần khối monolith xuất hiện, nhân loại lại có một bước tiến về mặt khoa học. Lần đầu tiên những con vượn nhìn thấy khối monolith, chúng đã biết thế nào là xung đột: Chúng phân chia ra lãnh thổ; chúng đã đặt ra những ranh giới, hiểu về định nghĩa cái tôi, hiểu thế nào là sinh tồn và đấu tranh vì lẽ sống của bản thân. Hàng triệu năm sau, những chú vượn ấy đã tiến hóa thành loài người, và loài người lại tìm thấy khối monolith ở một hành tinh xa xôi. Lần thứ ba, khi khối monolith đứng trước một David Bowman già cỗi, con người đã “tiến hóa” (tái sinh) trở thành một đứa trẻ một lần nữa: Một thực thể Starchild.

Dưới góc nhìn của tôi, 2001 còn hoạt động trên một tầng lớp tâm linh: Quá trình tiến hóa của linh hồn. 2001 không khác gì hành trình của một kiếp sống trong vòng lặp samsara. Ta sinh ra, ta học hỏi về thế giới xung quanh, và rồi đến cuối đời ta vô tư, vô nghĩ, hồn nhiên như một đứa trẻ: Đi thật xa để trở về điểm xuất phát.

Trong hình ảnh có thể có: đêm

2001: A Space Odyssey cũng là một bộ phim đẹp đến ngỡ ngàng. Mỗi cảnh quay tồn tại độc lập mà vẫn gắn kết với nhau, tạo thành một “slideshow” những bức tranh sơn dầu đẹp đẽ nhất từng được đưa lên màn ảnh, ngay cạnh Stalker của Tarkovsky, hay The Tree of Life của Malick. Lần đầu tiên ta xem 2001, mọi suy diễn của ta dường như trở nên vô nghĩa khi ta đi lạc trong thế giới hớp hồn của bộ phim. Kỹ xảo của bộ phim đi trước thời đại gần nửa thế kỷ và ngay cả khi chúng ta nhìn lại bây giờ, những nhà quay phim vẫn có thể học hỏi được từ Kubrick.

2001: A Space Odyssey vừa đặt ra những câu hỏi, vừa trả lời chúng trong lúc đặt ra những câu hỏi khác. Bộ phim đã định nghĩa lại dòng phim khoa học viễn tưởng, ảnh hưởng đến một thế hệ những nhà làm phim (từ George Lucas cho đến Malick) khai phá một cộng đồng fan trung thành qua suốt nhiều thập kỷ mà vẫn giữ trong đó một chất rất Kubrick: ranh mãnh từng đường nét, tinh quái, cảm xúc đi trước lý trí và luôn làm người “xem” ngớ người với mỗi cảnh quay. 2001: A Space Odyssey là một trải nghiệm mà tôi nghĩ bất kỳ ai cũng phải có trong đời. Xem để nghĩ, để cảm nhận vẻ đẹp, cái trí tuệ của thiên tài điên Kubrick và để hiểu rằng chúng ta không hiểu gì cả.

Trong hình ảnh có thể có: ô tô

Tác giả: Minh Tu Le
Ảnh minh họa: wallpapercave


📌 Mua membership để đọc tạp chí Aloha đã giảm giá 25% ➡️ http://bit.ly/THDPmembership

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

  1. Chuyển tiền qua ngân hàng Việt Nam
    Người nhận: Vũ Thanh Hòa
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công, Hà Nội
    Số TK: 0451000409314
  2. Chuyển tiền qua Paypal
    Người nhận: Huy Nguyen
    Địa chỉ: https://paypal.me/huythdp

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

Làm sao để tin vào Thượng Đế?

0

Trước kia, mình không có niềm tin vào God hay vào bất kỳ điều gì, sống như một người vô thần luôn ngờ vực mọi thứ, không có sự trân trọng dành cho cuộc đời. Cái giá mình phải trả là sự bào mòn của tâm trí, chúng mang tới những nỗi đau và sự đổ vỡ trong tâm hồn cùng sự tan nát của rất nhiều mối quan hệ. Cho mãi tới bây giờ, sau khi thực hành vâng phục Trời Đất, mình mới hiểu ra rằng việc tin vào Thượng Đế là một việc rất quan trọng đối với sự phát triển nhận thức của một con người. Nhưng đổi lại, đây lại là việc vô cùng khó khăn với đa số những người đang sống chỉ bằng suy nghĩ.

Vì sao? Vì một người sống trong thực tại của suy luận, phân tích, tương đương với chức năng của luân xa 3 thì không thể biết đức tin, thực tại của trực giác trí tuệ, tương đương với luân xa 6, là gì. Khoảng cách giữa ngờ vực và đức tin là 3 bậc tâm thức. Người sống ở thực tại nào luôn tiếp cận mọi thứ theo quy luật của thực tại đó. Nó có nghĩa là những người vô thần luôn cần phải biết God là ai, có hình dạng gì, có nắm bắt được không và cách thức tiếp cận ra sao. Khi một người bảo rằng đừng nghĩ nữa mà hãy cảm nhận, hãy nâng tâm hồn lên, thì họ không thể làm được. Việc này hết sức khó khăn, vì đa số con người đã hóa thân vào chính thực tại đó. Những người vô thần sẽ giãy đạp bằng mọi giá để thoát khỏi ý tưởng tin vào Thượng Đế, hay Thượng Đế có tồn tại, dù rằng bản thân đang rất đau khổ và cần một góc nhìn mới, một cái phao cứu hộ.

“Your faith was strong but you needed proof.” (Đức tin của bạn thì mạnh, nhưng bạn lại cần bằng chứng.)

Dù có làm gì thì đích đến cuối cùng của tất cả mọi người đều là sự tiến hóa, hòa nhập với nguồn cội tâm linh. Có thể những gì ta thể hiện trong đời sống là một sự thoái hóa hay vô thần. Đó chỉ là một bước đường trong Đạo lộ mà ta đều cần trải nghiệm và đi qua. Nhưng nếu ai gần gũi với tâm hồn của chính mình thì người đó sẽ quyết tâm hướng tới Thượng Đế, tới những điều vĩ đại hơn dù họ không biết “nó” như thế nào. Đây được gọi là một “cú phóng đức tin” (leap of faith) khi ta quăng mình ra khỏi địa hạt của tâm trí để rơi vào nơi không biết (unknown), nhảy từ mạn thuyền xuống đại dương miên man sóng. Có thể trải nghiệm mới mẻ này sẽ khiến chúng ta hoảng loạn và sợ hãi lúc ban đầu, nhưng chỉ bằng cách đó, những hạt mầm dũng cảm của con người mới được đâm chồi, phiên bản thực tại cũ kỹ mới được vươn mình khôn lớn.

Terence McKenna đã từng nói:

“Trời đất yêu quý lòng can đảm. Nếu bạn đặt ra quyết tâm thì trời đất sẽ đáp ứng lại quyết tâm đó bằng cách loại bỏ hết mọi vướng bận tưởng chừng không thể. Mơ giấc mơ không tưởng và thế giới sẽ không nghiền nát bạn; nó sẽ nâng bạn lên. Đây chính là cái mẹo. Đây là những gì mà các đạo sư và các triết gia, những người thật sự đáng kể, những người thật sự đã chạm vào được hòn đá hóa kim, đây là những gì họ hiểu. Đây là điệu nhảy của pháp sư trong thác nước. Đây là cách phép thuật được thực hiện: Bằng cách quăng bản thân mình vào vực thẳm và khám phá ra được rằng nó là một chiếc giường tơ êm ái.”

Cách chúng ta tiến hóa không phải bằng việc ghì giữ những gì mình đang có, giậm chân tại chỗ, mà bằng việc nâng mình lên những tầng thực tại tiến bộ hơn, sử dụng luật cao hơn để điều phối luật thấp hơn. Cách chữa chạy cho sự toan tính là tình yêu, cách chữa chạy cho nỗi đau là sự cảm nhận, cách chữa chạy cho lòng nghi ngờ là đức tin tuyệt đối. Những điều tích cực sẽ gỡ mở, thậm chí phá tung những ranh giới thù hằn của sự tiêu cực (thực tại tần số thấp), mở ra cánh cửa vào miền hạnh phúc mà con người vẫn hằng ao ước.

Những hóa thân của Thượng Đế như Phật, Jesus, Krishna chỉ là những hình tượng trợ giúp cho chức năng hình dung, suy luận của tâm trí. Khi tiếp xúc với một đối tượng cụ thể, chúng ta sẽ phát huy khả năng kết nối bằng trái tim, quen thuộc như giữa hai con người bình thường (luân xa 4), để rồi từ đó có thể diễn đạt tình yêu với Thượng Đế hữu hình (luân xa 5), và cuối cùng là tin tưởng, hòa nhập với Thượng Đế (luân xa 6,7). Nếu bạn không biết God là ai và không biết phải đặt đức tin vào God kiểu gì, thì hãy sử dụng một hình tượng cụ thể là những bậc thánh thần trong lịch sử nhân loại, hay bất kỳ một đối tượng nào bạn tôn kính và yêu thương hết mực. Tất cả họ sẽ là bậc thang nâng bạn lên những tầng thực tại trù phú và linh động hơn, là tình yêu, niềm vui, sự biết ơn và thấu hiểu. Hãy sử dụng mọi công cụ bạn có với mục đích tiến hóa, chắc chắn bạn sẽ được tiến hóa.

Còn nếu bạn không sử dụng một hình tượng cố định nào đó (vì e ngại khả năng dính bám với đối tượng đó, qua sông mà không bỏ lại con thuyền hoặc cảm thấy không phù hợp) thì bạn hãy tự tìm kiếm God bên trong chính mình, tự đào sâu vào bản chất của mình, trau dồi những phẩm hạnh bằng việc gần gũi với đạo lý, cho tới khi gặp được Người. Như cách mà Alan Watts đã nói trong câu:

“Đừng tìm kiếm Thượng Đế ở ngoài kia, như là một điều gì đó trên bầu trời, tìm kiếm trong con người bạn.”

Hay như Rumi đã nói:

“Tôi kiếm tìm Thượng Đế và chỉ thấy chính mình. Tôi kiếm tìm chính mình và chỉ thấy Thượng Đế.”

Dù lựa chọn con đường niềm tin nào, God hữu hình hay vô hình, bạn cũng đều đang nắm bắt một cơ hội để bước vào một thực tại mới. Miễn sao những gì bạn làm là hướng thiện, thì God chân thực sẽ xuất hiện dành cho bạn và sự phát triển trong nhận thức của bạn sẽ ngày càng tăng tốc. Chúng ta luôn gặp nhau ở nguồn cội tâm linh.

“Nếu bạn đang gặp vướng mắc về lòng tin, bạn đang sống vì điều gì? Tình yêu đúng là khó tin, cứ hỏi những người đang yêu. Sự sống đúng là khó tin, cứ hỏi các nhà khoa học. Thượng Đế đúng là khó tin, cứ hỏi những người đang tin. Bạn có vấn đề gì với những chuyện khó tin?” – Life of Pi

 

Tác giả: Hòa Taro
Ảnh minh họa: Josh Gordon/unsplash


📌 Mua membership để đọc tạp chí Aloha đã giảm giá 25% ➡️ http://bit.ly/THDPmembership

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

  1. Chuyển tiền qua ngân hàng Việt Nam
    Người nhận: Vũ Thanh Hòa
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công, Hà Nội
    Số TK: 0451000409314
  2. Chuyển tiền qua Paypal
    Người nhận: Huy Nguyen
    Địa chỉ: https://paypal.me/huythdp

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

[THĐP Translation™] Công nghệ hiện đại tương đồng với siêu hình học của Vedanta

0

thdp translation 3

📌 Bài dịch đã được đăng tải trong Volume 8 tạp chí Aloha. Mua membership để đọc tạp chí Aloha đang giảm giá 25% ➡️ http://bit.ly/THDPmembership 

Bạn có thể nghĩ rằng những công nghệ kỹ thuật số, thường được coi là một sản phẩm của phương Tây, sẽ gia tăng sự khác biệt giữa các triết lý Đông phương và Tây phương. Nhưng trong nghiên cứu về Vedanta, một trường phái tư tưởng Ấn Độ cổ đại, tôi thấy một khía cạnh khác. Nhờ sự hiểu biết ngày càng tăng của chúng ta với điện toán, thực tế ảo (VR) và trí thông minh nhân tạo (AI), xã hội hiện đại đang phù hợp hơn bao giờ hết để thấu hiểu những trí tuệ của truyền thống này.

Vedanta tóm gọn phần siêu hình học của bộ kinh Upanishads (Áo Nghĩa Thư), một tập hợp các văn bản tôn giáo Phạn ngữ, có khả năng được viết trong khoảng từ 800 đến 500 trước công nguyên. Chúng tạo thành nền tảng cho nhiều truyền thống triết học, tâm linh và huyền bí của tiểu lục địa Ấn Độ. Upanishads cũng là nguồn cảm hứng cho một số nhà khoa học hiện đại, bao gồm Albert Einstein, Erwin Schrödinger và Werner Heisenberg, khi họ đấu tranh để thấu hiểu vật lý lượng tử của thế kỷ 20.

>> Con mèo của  Schrödinger

Cuộc hành trình của Vedanta tìm kiếm sự hiểu biết bắt đầu từ cái được xem là một điểm khởi đầu hợp lý: Ý thức của chính chúng ta. Làm thế nào ta có thể tin tưởng vào những kết luận về cái ta quan sát và phân tích, trừ khi ta hiểu cái đang thực hiện những quan sát và phân tích đó? Sự tiến bộ của AI, những mạng lưới thần kinh và deep learning (học sâu) đã khiến một số nhà quan sát hiện đại cho rằng tâm trí con người chỉ là một cỗ máy hữu cơ xử lý phức tạp – và ý thức, nếu nó tồn tại, có thể chỉ đơn giản là một đặc tính xuất hiện từ sự phức tạp của thông tin. Tuy nhiên, quan điểm này không giải thích được các vấn đề khó hiểu như về một cái ngã (self) chủ quan và trải nghiệm của chúng ta về qualia (tạm dịch: tính chất), những khía cạnh của nội dung tinh thần như ‘màu đỏ’ hay ‘sự ngọt ngào’ mà chúng ta trải nghiệm trong thời gian chúng ta tỉnh thức (nd: những lúc không ngủ). Tìm hiểu làm thế nào vật chất có thể tạo ra ý thức, vẫn còn được gọi là ‘vấn đề khó khăn’ (the hard problem of consciousness).

Vedanta đưa ra một mô hình để tích hợp ý thức chủ quan và hệ thống xử lý thông tin của cơ thể và bộ não của chúng ta. Lý thuyết của nó tách não bộ và các giác quan khỏi tâm trí. Nhưng nó cũng phân biệt tâm trí với chức năng của ý thức, cái nó định nghĩa là khả năng trải nghiệm đầu ra tinh thần (mental output). Chúng ta đã quen với khái niệm này từ các thiết bị kỹ thuật số. Máy ảnh, micrô hoặc các cảm biến khác được liên kết với máy tính thu thập thông tin về thế giới và chuyển đổi các dạng năng lượng vật lý khác nhau – sóng ánh sáng, sóng áp suất không khí, vân vân – thành dữ liệu kỹ thuật số, giống như các giác quan cơ thể của chúng ta. Bộ xử lý trung tâm xử lý dữ liệu này và tạo các đầu ra liên quan. Điều tương tự cũng đúng với bộ não của chúng ta. Trong cả hai trường hợp trên, dường như trải nghiệm chủ quan (qualia) có một vai trò rất nhỏ để đóng trong các cơ chế này.

Mặc dù máy tính có thể xử lý tất cả các loại thông tin mà không cần sự giúp đỡ của chúng ta, chúng ta cung cấp cho chúng một màn hình để làm một giao diện (interface) giữa máy tính và chúng ta. Tương tự, Vedanta cho rằng thực thể có ý thức – thuật ngữ gọi là Atma – là người/sự/cái quan sát đầu ra của tâm trí. Atma sở hữu, và được cấu tạo bởi, tính chất nền tảng của ý thức. Khái niệm này được khám phá trong các thực hành thiền định, của những truyền thống phương Đông.


Bạn có thể nghĩ về Atma như thế này. Hãy tưởng tượng bạn đang xem một bộ phim trong rạp. Nó là một phim kinh dị, và bạn lo lắng về nhân vật chính, bị mắc kẹt trong một căn phòng. Đột nhiên, cánh cửa trong phim mở tung ra đứng ngay đó là… Bạn nhảy dựng lên mất hết hồn vía. Nhưng mối đe dọa thực sự đối với bạn là gì, ngoài việc nó có thể làm đổ bỏng ngô của bạn? Khi bạn ngưng nhận thức về cơ thể của mình trong rạp phim, đồng nhất với nhân vật trên màn hình, chúng ta cho phép trạng thái cảm xúc của chúng ta bị thao túng. Vedanta gợi ý rằng Atma, cái ngã có ý thức, đồng hóa với thế giới vật chất cũng theo cách tương tự.

Ý tưởng này cũng có thể được khám phá trong lĩnh vực VR (thực tế ảo). Khi tham gia vào một trò chơi, chúng ta có thể được yêu cầu chọn nhân vật hay còn gọi là avatar (hóa thân) – có nguồn gốc là một từ tiếng Phạn, một cách khéo léo tinh tế có nghĩa là ‘một người giáng xuống từ một chiều miền cao hơn.’ Trong các văn bản cũ, thuật ngữ này thường có nghĩa là những hiện thân thần thánh. Tuy nhiên, từ này cũng phù hợp của các game thủ, anh ta hoặc cô ta giáng xuống từ thực tại ‘bình thường’ rồi bước vào thế giới ảo VR. Chúng ta chọn giới tính cho avatar, các tính năng cơ thể, thuộc tính và kỹ năng, tiếp theo chúng ta học cách kiểm soát các chi và công cụ của nó. Chẳng mấy chốc, nhận thức của chúng ta chuyển từ bản thân vật lý sang khả năng ảo VR của nhân vật đại diện.

Trong tâm lý học Vedanta, điều này gần giống với Atma dần quen với cái ngã tâm lý cá nhân gọi là ahamkara, hay bản ngã giả (pseudo-ego). Thay vì là một sự quan sát ý thức tách rời, chúng ta chọn cách xác định bản thân qua các mối liên hệ xã hội và các đặc điểm vật lý của cơ thể. Như thế, ta tin vào bản thân với tham chiếu về giới tính, chủng tộc, kích thước, tuổi tác v.v.. cùng với vai trò và trách nhiệm của gia đình, công việc và cộng đồng. Trong điều kiện nhận dạng như vậy, ta đắm chìm trong những cảm xúc liên quan – một số thì hạnh phúc, một số thì thử thách hoặc căng thẳng – được tạo ra bởi những hoàn cảnh ta chứng kiến mình đang trải qua.

Trong một trò chơi thực tế ảo VR, avatar của ta thể hiện sự bắt chước nhợt nhạt về bản thân thực tế của mình và các vướng mắc của nó. Trong các tương tác của ta với avatar của người khác, ta có thể tiết lộ rất ít về tính cách hoặc cảm xúc thực sự của mình và ngược lại. Thật vậy, những cuộc gặp gỡ giữa các Avatar – đặc biệt là khi có tính cạnh tranh hoặc chiến đấu – thường thâm hiểm, dường như không bị hạn chế bởi mối quan tâm với cảm xúc của những người đứng sau Avatar. Các kết nối được tạo ra thông qua chơi game trực tuyến không phải để thay thế cho các mối quan hệ ngoài đời. Thay vào đó, như các nhà nghiên cứu tại Đại học Johns Hopkins đã lưu ý, những game thủ có đời sống xã hội thực tế lành mạnh sẽ ít có khả năng rơi vào tình trạng nghiện game và trầm cảm.

Những quan sát này lặp lại tuyên bố của Vedanta rằng khả năng hình thành các mối quan hệ có ý nghĩa của chúng ta bị giảm đi bởi sự đắm chìm trong ahamkara. Tôi càng coi bản thân mình như một thực thể vật lý đòi hỏi nhiều hình thức thỏa mãn các giác quan, tôi càng có khả năng vật hóa (xem như đồ vật, objectify) những người có thể thỏa mãn ham muốn của tôi và tạo nên các mối quan hệ dựa trên sự ích kỷ lẫn nhau. Nhưng Vedanta gợi ý rằng tình yêu nên xuất phát từ phần sâu nhất của chân ngã, không phải cái ngã hư giả. Tình yêu, là trải nghiệm từ tâm hồn tới tâm hồn. Tương tác với những người khác trên cơ sở của ahamkara chỉ cho ra được một thứ tình cảm châm biếm giả tạo.

Là Atma, ta vẫn là cái ngã chủ quan trong suốt cuộc đời. Cơ thể, tâm lý và tính cách của ta thay đổi đáng kể – nhưng trong suốt quá trình, ta biết mình là người/sự quan sát bất biến. Tuy nhiên, khi nhìn thấy mọi thứ thay đổi xung quanh ta, ta nghi ngờ rằng ta cũng bị ảnh hương bởi thay đổi, tuổi già và hướng đến sự hủy diệt (cái chết). Yoga, được hệ thống hóa bởi Patanjali,  là một phương pháp thực tế để giải thoát Atma khỏi cơn hoạn nạn tinh thần không ngừng, và để an trú đúng đắn trong thực tại của ý thức tinh tuyền.

Trong thực tế ảo VR, chúng ta thường được kêu gọi để chiến đấu với các thế lực xấu, đối mặt với nguy hiểm và tử vong ảo trên đường đi. Bất chấp những nỗ lực của chúng ta, điều không thể tránh khỏi hầu như luôn xảy ra: Avatar của chúng ta bị giết. Trò chơi kết thúc. Các game thủ, đặc biệt là các game thủ “bệnh hoạn”, gắn bó sâu sắc với Avatar của họ, và có thể đau khổ khi Avatar của họ bị tổn hại. May mắn thay, chúng ta thường được đưa ra một cơ hội khác: Bạn có muốn chơi lại không? Chắc chắn, chúng ta chơi. Có thể chúng ta tạo ra một avatar mới, một người nào đó lão luyện hơn, dựa trên những bài học kinh nghiệm thời gian qua. Điều này lặp lại khái niệm đầu thai trong Vedanta: sự chuyển đổi của cái ngã có ý thức vào một phương tiện vật lý mới.

Một số nhà bình luận giải thích Vedanta gợi ý rằng không có thế giới thực, và tất cả những gì tồn tại đều là sự nhận biết ý thức (conscious awareness). Tuy nhiên, một cái nhìn rộng hơn về các văn bản Vedanta thì nó gần giống với thực tế ảo VR. Thế giới ảo VR hoàn toàn là dữ liệu, nhưng nó trở thành ‘thật’ khi thông tin đó thể hiện ra với những giác quan của chúng ta dưới dạng hình ảnh và âm thanh trên màn hình hoặc thông qua tai nghe. Tương tự, đối với Vedanta, chính những biến hiện nhất thời của thế giới bên ngoài là những vật thể quan sát được, khiến nó ít ‘thực’ hơn bản chất bất biến của ý thức, cái quan sát những biến hiện đó.

Đối với các nhà hiền triết xưa, đắm mình trong thế giới vô thường có nghĩa là cho phép Atma chịu khuất phục một ảo tưởng, ảo tưởng rằng ý thức của chúng ta là một phần của ngoại cảnh, phải chịu đựng hoặc tận hưởng cùng với nó. Không biết Patanjali và những vị tổ sư Vedanta sẽ nghĩ gì về VR: Một ảo ảnh trong một ảo ảnh, có lẽ thế, nhưng nó có thể giúp chúng ta nắm bắt được cái tinh túy trong thông điệp của họ.

Tác giả: Akhandadhi Das – Aeon

Biên dịch: Hàn Tâm

Hiệu đính: Prana

Akhandadhi Das là một triết gia Vedanta và nhà thần học Vaishnava Ấn Độ giáo. Ông là giám đốc của Buckland Hall, một trung tâm hội nghị và tu viện ở Wales, thành viên của Science and Philosophy Initiative (tạm dịch: Khởi xướng Khoa học và Triết học), đồng thời là phát thanh viên và cố vấn cho BBC về những truyền thống triết học và tâm linh Ấn Độ.


📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

  1. Chuyển tiền qua ngân hàng Việt Nam
    Người nhận: Vũ Thanh Hòa
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công, Hà Nội
    Số TK: 0451000409314
  2. Chuyển tiền qua Paypal
    Người nhận: Huy Nguyen
    Địa chỉ: https://paypal.me/huythdp

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

Triết Học Đường Phố Official Offline Đà Lạt 26/10/2019

Một cuộc gặp gỡ hết sảy, vui hơn cả mong đợi. Rất nhiều tiếng cười và những trải nghiệm thú vị bên nhau. THĐP chân thành cảm ơn sự hiện diện và đồng hành của các bạn. Tất cả đều là những động lực to lớn giúp THĐP tiếp tục cống hiến những điều giá trị tới cộng đồng. Thân chúc các bạn sức khỏe và bình an trong cuộc sống.

DSC_3618DSC_3621DSC_3629DSC_3638DSC_3667DSC_3668DSC_3673DSC_3707DSC_3717DSC_3722DSC_3723DSC_3726DSC_3728DSC_3809

Tạp chí Aloha volume 17

0

Volume 17 lần này có thêm một chương mục mới (“Thế Giới Đó Đây”) nên số trang và nội dung cũng nhiều hơn những volume trước đây. Ai chưa có membership để đọc tạp chí Aloha của THĐP thì mua ngay tại bit.ly/THDPmembership (SALE 25% OFF)

📌 Aloha Volume 1-16

📌 Mời Triết Học Đường Phố và đội ngũ một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

  • Chuyển tiền qua ngân hàng Việt Nam
    Người nhận: Vũ Thanh Hòa
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công, Hà Nội
    Số TK: 0451000409314
  • Chuyển tiền qua Paypal
    Người nhận: Huy Nguyen
    Địa chỉ: https://paypal.me/huythdp

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

Untitled

Nội dung Volume 17

🌈 [Hỏi-Đáp] Làm sao để thay đổi định mệnh?

🌈 [Bài dịch] David Hawkins – Các mức độ tâm thức

🌈 [Truyện dài] Lên Đà Lạt | Chương 5: Phủ bụi và tái sinh – Vũ Thanh Hòa

🌈 [Bài dịch] Tại sao những ý tưởng vĩ đại luôn xuất hiện trong lúc tắm (và cách tận dụng nó)

🌈 [Truyện dài] Tuổi trẻ cô đơn – Chương 26-27 | Ni Chi

🌈 [Bài dịch] Tư duy như Elon Musk

🌈 [Truyện ngắn] Cô bé Hạt Tiêu – Quyển 2, Tập 17 – Con mèo đu dây | Vũ Thanh Hòa

🌈 [Thơ dài] Thiên đường trần gian – Phần 17 | Vũ Thanh Hòa

🌈 Thế Giới Đó Đây

74362349_2504714603095548_2162655684397629440_n

75481738_2504714746428867_425235031120674816_n

73395359_2504714836428858_6754135818727587840_n

74634733_2504715203095488_3110204389919293440_n

Cọc đi tìm trâu hay trâu đi tìm cọc?

1

Trong thời buổi hiện đại giới tính hỗn độn, vai trò bổn phận của nam nữ không còn được gìn giữ theo lối truyền thống thì chuyện trâu và cọc, cái nào đi tìm cái nào luôn nằm trong sự mơ hồ của con người. Nó thường là chủ đề của những cuộc tranh cãi lý luận dựa trên khoa học duy vật nhiều hơn là dựa vào trí tuệ và sự tự thực hành để kiểm chứng. Bản chất của Đạo lý là sự không có đối cực, vì nó là sự hài hòa của các đối cực. Nên một điều được nói ra mà có một ý trái ngược phản biện thì điều đó không phải chân lý và không xứng đáng được noi theo thực hành. Khi bảo đàn ông nên đi tán gái thì sẽ đồng thời tồn tại khả năng đàn bà đi cưa trai. Chẳng có cái nào là kiện toàn cả, chúng chỉ là thứ gây mâu thuẫn, xung đột, cần được loại bỏ càng sớm càng tốt thì một người mới có hy vọng sống hạnh phúc tiến hóa. Ngoài ra, Đạo lý là sự vận hành hài hòa của nhiều tầng lớp (layer), chứ không diễn ra một chiều như đa số con người thường nghĩ. Nên nắm bắt Đạo không phải chuyện đơn giản, nó cần trí tưởng tượng đa chiều và trực giác để cảm nhận. Khi một người bình an, họ mới có khả năng nắm bắt được Đạo. Còn người náo động nháo nhác thì không thể.

Bài viết này được đúc kết từ sự tìm hiểu và thực hành đạo lý âm dương mà cha ông để lại, và mình cố gắng viết tường minh nhất có thể. Cá nhân mình đã thay đổi nhận thức hoàn toàn về âm dương và đi ra khỏi rất nhiều đau khổ trong đời sống.

1. Trâu đi tìm cọc hay cọc đi tìm trâu?

Mình xin trả lời đó là cọc và trâu không hề đi tìm nhau như người ta vẫn thường nghĩ, chính bác nông dân là người dẫn trâu tới cố định vào cái cọc, hoặc đóng cọc vào chỗ con trâu đang đứng thẩn thơ. Vấn đề ở đây đó là con người không nhận ra được đâu là bác nông dân, và đâu là hai thứ cần được kết nối, trâu và cọc.

Ở đây, bác nông dân là biểu tượng đại diện cho Luật Trời (luật âm dương và luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”), trâu ám chỉ nguyên lý âm chứ không phải người phụ nữ, cọc ám chỉ nguyên lý dương chứ không phải người đàn ông. Nguyên lý dương (masculine) là sự đứng yên tĩnh lặng, không chuyển động, mang vai trò trụ cột. Nguyên lý âm (feminine) là thứ linh động, chuyển động, sáng tạo, mang vai trò quấn quýt. Âm luôn xoay xung quanh dương, “nương tựa” vào dương. Còn dương thì khẳng định bản chất của mình nhờ sự hiện diện của âm. Nguyên lý (spirit) dương sẽ có biểu lộ (body) âm, và ngược lại nguyên lý âm sẽ có biểu lộ dương.

Ví dụ: Mặt trời đứng yên không chuyển động, mang nguyên lý dương. Nhưng có biểu lộ của nguyên lý âm là sự tỏa phát ánh sáng. Các hành tinh chuyển động quanh mặt trời, mang nguyên lý âm. Nhưng có biểu lộ của nguyên lý dương là phản xạ ánh sáng. Một bên là hành động, một bên là phản ứng. Mọi người thường nhầm lẫn sự biểu lộ của nguyên lý là nguyên lý, trong khi hai thứ đó là ngược nhau. Nên đa phần chúng ta bị bối rối trong việc phân định đâu là nam tính đích thực và đâu là nữ tính đích thực.

2. Như thế nào là người nam tính hay nữ tính đích thực?

Người nam tính đích thực có bản chất điềm tĩnh, vững chãi, ít dao động bởi hoàn cảnh bên ngoài, ví như quả núi, và biểu hiện bên ngoài của họ ở thể hình cứng cáp, săn chắc, “sần sùi”, “gồ ghề” (tough); còn ở tinh thần thái độ là sự dũng cảm, tự tin, can trường, nhiệt huyết, năng nổ, thẳng thắn, chủ động, kỷ luật; đôi khi theo chiều hướng tiêu cực là táo bạo, liều lĩnh, tự phụ, nóng nảy, bốc đồng, khắt khe. Vì sự tận cùng tĩnh lặng (nguyên lý dương) là tiềm năng to lớn nhất cho sự rung động (nguyên lý âm).

Còn người nữ tính đích thực thì sao? Họ có bản chất linh động, sáng tạo, luôn có xu hướng cần một điểm tựa, ví như con nước và biểu hiện bên ngoài của họ ở thể hình là sự êm mềm, láng mịn, căng tròn, thướt tha (soft); còn ở tinh thần là sự dịu mát, khiêm nhường, thụ động, dưỡng nuôi, nương theo hoàn cảnh; đôi khi theo chiều hướng tiêu cực là sự tự ti, nhút nhát, dễ tổn thương, hay suy diễn ảo tưởng, màu mè, trì hoãn, ỷ nại, lẳng lơ. Vì sự tận cùng linh động (nguyên lý âm) là tiềm năng to lớn nhất cho sự ngơi nghỉ (nguyên lý dương).

Có rất nhiều câu ca dao tục ngữ Việt Nam nói về nguyên lý âm dương này. Các bạn quan sát tìm hiểu là sẽ thấy.

“Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.”

“Đàn ông cười hoa, đàn bà cười nụ.”

“Đàn bà không biết nuôi heo, đàn bà nhác; đàn ông không biết buộc lạt, đàn ông hư.”

3. Sự sai lầm trong tư duy của con người hiện đại nằm ở đâu?

Sai lầm của chúng ta không chỉ là sự nhầm lẫn bản chất nguyên lý với biểu lộ của nguyên lý, mà còn là khẳng định việc chỉ cần làm theo mỗi biểu lộ nguyên lý ấy là đã hoàn thiện con người. VD: Một người đàn ông cứ năng nổ lồng lộn thì sẽ là đàn ông, mà không cần quan tâm đến cội nguồn thực sự của dao động ấy là sự điềm đạm. Còn người phụ nữ cứ thể hiện sự phóng đãng, lẳng lơ thì mặc định là phụ nữ, chứ không cần quan tâm đến cội nguồn của sự lắng đọng là tính linh động. Khi không biết bản chất của các biểu lộ thì các biểu lộ ấy sẽ thể hiện ra sự tiêu cực, thoái hóa. Những sai lầm của con người đều đến từ tư duy một chiều phiến diện và mang bản chất duy vật chia rẽ. Chúng sẽ làm cho chúng ta chỉ bám vào vẻ bề ngoài của vấn đề, sống một cách máy móc hình thức, và không cảm nhận được các đối cực tiềm tàng bên trong chính mình và trong người khác giới mà mình tương tác.

Vì không hiểu được vai trò và vị trí âm dương, không hiểu được đạo lý của cha ông nên con người hiện đại sống hỗn loạn và ảo tưởng, sinh ra tranh luận mâu thuẫn, cãi cọ, tranh giành, lấn lướt chức năng của nhau. Họ lý lẽ rằng đàn ông sinh ra với bản năng chinh phục nên đàn ông phải là người xông pha đi tán gái. Rồi có người không chịu, phản biện lại thì bảo phụ nữ được bình đẳng nên phụ nữ có quyền xông lên tán trai cũng không vấn đề gì. Nhưng họ không hề biết rằng bản chất tận cùng của nam tính là nữ tính và tận cùng của nữ tính là nam tính, âm dương ở trong nhau không thể tách rời, là hai mặt của một đồng xu. Nên các ý tưởng chia rẽ của loài người về việc ai là người nên đi tán tỉnh đối phương đều rơi vào ngõ cụt và xung đột. Đạo lý không hề nói về việc cưa cẩm, mà chỉ nói về việc hoàn thành chức năng của chính mình. Sự thu hút lẫn nhau là điều hiển nhiên diễn ra sau đó. Đa phần con người xem xét vấn đề theo đối tượng rời rạc chứ không theo sự phối hợp của tần số rung động. Họ nhìn thế giới theo chiều nằm ngang, hướng tới lẫn nhau, kiểm soát lẫn nhau, thay vì nhìn thế giới theo chiều thẳng đứng, hướng tới đạo lý là sự tương hỗ âm dương và quy phục theo sự dàn xếp, mai mối của Đất Trời cho vạn vật.

4. Đạo lý thể hiện trong tự nhiên thế nào?

Nếu các bạn để ý kỹ, tất cả các hiện tượng tự nhiên đều tuân theo đạo lý âm dương. Trong nguyên tử, các hạt electron mang điện tích âm quay quanh hạt nhân mang điện tích dương. Các hành tinh xoay xung quanh Mặt Trời, những người chưa giác ngộ tìm kiếm người giác ngộ (biểu hiện trong tôn giáo), những cánh hoa xếp xung quanh nhị/nhụy hoa, bút chì quay xung quanh chân compa, tinh trùng vây xung quanh trứng, mưa gió quanh quẩn trong bầu trời, sự thay đổi cuộn tròn trong vĩnh hằng. Trong đạo tam tòng, chức năng của người phụ nữ là “chưa chồng theo cha, có chồng theo chồng, chồng chết theo con trai.” Ở đây, người phụ nữ cũng đóng vai trò “theo”, xoay xung quanh người đàn ông, tương tự như các electron vậy. Hạt nhân nguyên tử, hay người đàn ông, chẳng hề được nói là nên xông pha đi cua cô nào, chỉ được nhận biết với vai trò đứng yên, làm trụ cột. Nguyên tắc về tương tác âm dương chỉ thuần là một sự cố định và một sự đi theo. Trong Đạo, sự tán tỉnh diễn ra là thụ động, bằng việc làm đúng chức năng của mình, chứ không phải sự chủ động như cách hiểu của con người là một việc gì đó có thể “làm” được.

(Tam tòng tứ đức – Đạo lý dành cho phụ nữ là đạo lý ngầm dành cho đàn ông)

Nguyên lý nam tính mà con người đang nhận biết ngày nay bị lộn ngược, bóp méo cùng với nguyên lý nữ tính. Họ nghĩ rằng xông pha mới thể hiện bản lĩnh đàn ông. Nhưng sự thật rằng tính nam nằm ở sự kiên cố, bình an. Nó thu hút tính nữ là sự huyên náo, ồn ào, linh động, sáng tạo. Những bậc giác ngộ như Jesus, Phật Thích Ca, Lão Tử, Gandhi, v.v… mới là người mang tính nam chuẩn mực, thu hút vô số người noi theo, quy phục – là những người mang tính nữ (không điều tiết được tâm trí hỗn độn). Tôn Ngộ Không thông minh, nháo nhác bản chất là nguyên lý âm, tìm về đất Phật, giác ngộ thành Phật bình an, khiêm nhường (nguyên lý dương).

Tất cả những tư tưởng chủ động tán tỉnh, cưa cẩm nhau đều không nằm trong Đạo lý. Chúng chẳng hề làm người ta trở nên bản lĩnh hay dịu dàng, mà chỉ làm người ta dễ thoái hóa, hao hổn năng lượng, rời xa bản chất chân thực của chính mình, phụ thuộc dính mắc vào ái tình.

Các bạn hãy thử nghĩ mà xem, đàn ông bản lĩnh thì đàn bà con gái tự cảm nhận thấy mà yêu thích, mến mộ, tự đi theo xung quanh hàng đàn như các hành tinh xoay quanh mặt trời. Yêu quái săn đón Đường Tăng là vậy. Vua của nữ vương quốc cũng xiêu lòng vì Đường Tam tạng là thế. Còn phụ nữ dịu dàng yêu kiều thì sao? Đàn ông cũng tự thấy hấp dẫn, thu hút, muốn được nâng niu che chở, họ đâu cần phải hối hả đi tán trai nào cho nhiễu loạn tâm hồn.

Âm dương tương hợp là bản chất của vạn vật, chỉ khác nhau ở cường độ. Khi cường độ tương đồng, các vật tự hút lấy nhau (luật hấp dẫn). Hay nói cách khác, người nam và nữ tự hút lẫn nhau với cùng mức độ hòa hợp bên trong chính mình, chứ không phải do dương của người này hút âm của người kia hay ngược lại. Đàn bà xốc nổi thì dễ gặp đàn ông bạc nhược. Đàn bà ôn hòa thì dễ gặp đàn ông điềm tĩnh. Con người thời đại này sai lầm vì chia rẽ tính âm hay dương ra thành một khối riêng biệt, không hiểu ra nền tảng bên trong của phẩm hạnh bên trong bản thân chính là đối cực còn lại. Mỗi chúng ta đã là một sự trọn vẹn cân bằng. Sự lao về phía trước kiếm tìm “một nửa” chỉ thể hiện sự thiếu thốn, đói khát chân lý mà thôi. Chẳng có gì đáng hấp dẫn ở một người xông pha đi tán tỉnh. Tất cả sự cao quý và hấp dẫn nằm ở một người hiểu biết chân lý và tập trung làm việc của chính mình trong bình thản. Họ chẳng bao giờ phải nghi ngờ trí tuệ của Trời Đất (bác nông dân) trong việc sắp đặt lương duyên, nên chẳng bao giờ phải lồng lên truy tìm “đối phương” theo ý riêng ích kỷ của mình.

5. Vậy chúng ta lên làm gì để trở nên nam tính đích thực hay nữ tính đích thực?

Ta nên tìm hiểu và nắm bắt cho thật rõ ràng nguyên lý âm dương, bằng cách học hỏi Đạo lý từ những bậc giác ngộ, quan sát từ tự nhiên, luyện tập sự hài hòa bên trong con người mình, nâng cao nhận thức, tần số rung động, sống hướng thiện chứ không hướng vật (con người, đối tượng bên ngoài) để vượt lên khỏi tư duy mâu thuẫn, phân cực và duy vật. Thực hành đạo lý “yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu” vừa là để kiểm chứng đạo lý, vừa để hợp nhất tâm hồn và biểu lộ của tâm hồn là cơ thể, mang lại bình an. Chỉ khi nào nội tâm bình an, đạo lý mới hiển lộ, âm dương mới hòa hợp, người đối ngẫu tương thích giá trị cao mới xuất hiện. Kiếm tìm chân lý là nền tảng bảo hành cho kiếm tìm chồng vợ. Luật Trời mới là ông Tơ bà Nguyệt tuyệt vời nhất. Hay nói cách khác, cái cọc và con trâu chỉ cần làm đúng bổn phận của mình là cái cọc và con trâu, những việc còn lại cứ để bác nông dân tùy cơ thi hành.

(“Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu” – Ai còn biết nghe theo đạo lý này?)

Tác giả: Vũ Thanh Hòa – Hòa Taro

Ảnh minh họa: Joel Overbeck

📌 Mua membership để đọc tạp chí Aloha đã giảm giá 25% ➡️ http://bit.ly/THDPmembership

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

  1. Chuyển tiền qua ngân hàng Việt Nam
    Người nhận: Vũ Thanh Hòa
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công, Hà Nội
    Số TK: 0451000409314
  2. Chuyển tiền qua Paypal
    Người nhận: Huy Nguyen
    Địa chỉ: https://paypal.me/huythdp

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

Hình tượng Tôn Ngộ Không hé lộ 4 bản chất của tâm trí

0

Một trong những nhân vật nghệ thuật mà mình yêu thích nhất là chàng khỉ đá Tôn Ngộ Không trong đại kiệt tác Tây Du Ký của tác giả Ngô Thừa Ân. Trong góc nhìn khiêm tốn thì mình nghĩ rằng việc thấu hiểu được giá trị tinh thần của nhân vật này có thể mang lại lợi lạc lớn lao trên con đường tìm Đạo của một người. Hoặc ngược lại, việc cảm thấu được các chân lý khiến người ta có thể nắm bắt sâu sắc hơn ý đồ của tác giả khi xây dựng nên nhân vật đầy sắc màu này.

1. Tâm trí không phải sở hữu của cá nhân

Khi nhìn Tôn Ngộ Không, điều ấn tượng nhất mình liên tưởng đến là tâm trí. Nó sinh ra từ hư vô giống như con khỉ sinh ra từ phiến đá nằm giữa đất trời, chứ không theo thói thường là từ một khỉ mẹ. Tâm trí náo động nhảy nhót không yên là tạo vật của trời đất, không phải của con người. Chúng ta chỉ nằm trong tâm trí ấy và trải nghiệm nó thông qua những liên kết não bộ. Đi đến đâu ta cũng có thể suy nghĩ, tưởng tượng, ảo tưởng không phải bởi vì ta sở hữu tâm trí, mà có nghĩa là mạng lưới tâm trí ở muôn nơi và ta được kết nối với nó.

Ảo tưởng của con người nằm ở sự tư hữu, từ đó sinh ra một ảo tưởng khác là sự kiểm soát tâm trí. Việc này giống như chém lưỡi kiếm xuống mặt nước hòng cho mặt nước đứng yên. Sự nỗ lực kiểm soát tâm trí càng làm cho tâm trí náo động và sản sinh ra áp lực, bạo động. Trong cuốn Kỳ thư Kybalion, tác giả diễn giải sự “kiểm soát tâm trí” thực chất là sự dùng luật cao hơn để điều phối luật thấp hơn, tức là dùng một rung động thanh cao yên bình để đi ra khỏi vòng ảnh hưởng của tâm trí. Tương tự như trong Tây Du Ký, Đức Phật không hề sở hữu, kiểm soát Tôn Ngộ Không dù chàng khỉ đá ngỗ nghịch không thể lọt khỏi lòng bàn tay Ngài. Nhưng Ngài vẫn có thể dẫn dắt, cảm hóa Ngộ Không tiến bước trên đường phò tá Đường Tăng, hòa nhập Đạo lý, và cuối cùng Ngài phong hiệu Phật cho hắn khi bốn thầy trò hoàn thành cuộc hành trình.

2. Tâm trí không thể bị tiêu diệt, chỉ có thể được sử dụng

Tôn Ngộ Không là một nhân vật vô cùng thông minh và lanh lợi. Ngay từ khi đi học Đạo từ sư phụ Bồ Đề, hắn đã thể hiện sự nhạy bén xuất chúng, tương thông tư tưởng với bậc giác ngộ, vượt qua các bạn học khác đề được sư phụ trao truyền cho các phép thần thông. Có thể nói, Ngộ Không là một kỳ tài, một kho báu của đất trời. Tâm trí cũng vậy, nó có một tiềm năng vô hạn trong việc học hỏi. Chỉ là con người chưa đủ khả năng để rèn luyện và khai mở tiềm năng ấy. Nên tất cả những gì tâm trí thể hiện ra là một sự vô phép tắc và rối loạn. Điều này gây nên đau khổ bất tận cho con người giống như thể họ là đứa bé được đưa cho một thanh kiếm quá sắc mà lóng ngóng tự cắt vào chính mình.

Xét về ý tưởng này, Terence McKenna đã có câu:

“Vũ trụ là một bài kiểm tra trí thông minh.”

Còn Carl Jung thì nói:

“Suy nghĩ là việc khó, đó là lý do tại sao hầu hết mọi người phán xét.” (“Thinking is difficult, that’s why most people judge.”)

Tôn Ngộ Không là một tài năng xuất chúng, không thể bị giết chết. Hắn đã bị bắt lại tra tấn chặt đầu nhưng lại mọc đầu mới, luyện trong lò bát quái không cháy ra than mà rèn được đôi mắt thần nhìn xuyên vỏ bọc giả dối của yêu tinh, bị đày xuống chân núi Ngũ Hành 500 năm nhưng vẫn sống mạnh khỏe như thường (chỉ là phải chịu đựng sự kiềm chế bó buộc.) Phật Tổ đã nhìn ra điều này và có thể định hướng Tôn Ngộ Không cho một mục đích vĩ đại, trợ giúp Đường Tam Tạng đi thỉnh kinh, thay vì để uổng nhân tài. Trong quá trình có mục tiêu hướng thiện, Ngộ Không cũng tự được rèn dũa và trưởng thành.

Tâm trí cũng vậy, nó không thể bị tiêu diệt mà chỉ có thể được sử dụng. Có người tu thiền với mong ước tiêu diệt tâm trí, đây là một sự hoang đường ảo tưởng, không thực tế và sẽ làm cho người đó đau khổ bất mãn nhiều hơn mỗi khi tâm trí trỗi dậy. Tâm trí chỉ có thể được sử dụng với mục đích thiện lành, phục vụ Đạo lý. Sử dụng nó là cách duy nhất thuần phục nó, khẳng định vị trí làm chủ của trí tuệ cao hơn. Suy nghĩ tích cực là một trong những cách sử dụng tâm trí mà đa số con người không biết thực hành.

“Đối với người đã chế ngự được tâm trí, nó là bạn tốt nhất. Còn đối với kẻ chẳng làm được điều đó, nó là kẻ thù ghê gớm nhất.” – Sri Krishna, Chí Tôn Ca (6:6)

(Download Chí Tôn Ca THĐP version (Free) >>> bit.ly/CTC_THDP)

3. Tâm trí và trí tuệ là hai thái cực đối nghịch

Trong phim, xuất hiện rất nhiều cảnh Tôn Ngộ Không và Đức Phật tương tác với nhau. Chúng ta có thể nhìn thấy hai trạng thái nhận thức đối nghịch, một bên là ồn ào, linh động, náo nhiệt, lanh lợi còn một bên là trầm tĩnh, kiên cố, dịu mát và thư thái. Giống như hai người là tấm gương phản chiếu lẫn nhau, nhờ có người này mà người kia mới thể hiện rõ ràng bản chất của chính mình. Cuối cùng, kết cục tốt đẹp nhất xảy ra thể hiện trong sự gặp nhau của hai thái cực, khi Ngộ Không giác ngộ thành Phật. Tức là sự tiến hóa của con người, của tâm trí là trở nên khiêm cung, tĩnh lặng và thấu suốt. Ngay trong cái tên “Ngộ Không” đã thể hiện xu hướng tiến hóa của tâm trí nháo nhác là trở thành sự tĩnh lặng tuyệt đối và mang một tầm nhìn vượt qua những ồn ào.

Trong con đường tu tập, có những người không hiểu ra được sự tương hỗ giữa hai đối cực nên ra sức gạt bỏ, chối từ tâm trí; đấu tranh, giãy đạp để vượt thoát đau khổ. Họ không nhận ra rằng sự hiện diện của ồn ào là biển báo dẫn đến khả năng thinh lặng. Họ cũng không nhận ra rằng đau khổ là động lực cho sự kiếm tìm chân lý. Nỗi đau thể hiện sự vươn mình rộng mở, sự trưởng thành của tâm trí chứ không phải một mối hiểm họa cần chống cự. Người ta nên vui sướng thay vì hoảng loạn.

“Khả năng tự hủy diệt bản thân là hình ảnh phản chiếu lại trong gương khả năng tự cứu lấy bản thân, điều đang thiếu là một tầm nhìn sáng suốt về việc nên làm gì.” — Terence McKenna

Trong cuốn Kỳ thư Kybalion, ở nguyên lý thứ 7 về giới tính, đã thể hiện rõ tính âm dương của tâm trí và trí tuệ. Chúng tuân theo nguyên lý nữ tính và nam tính, tâm trí huyên náo tiềm tàng sự tĩnh lặng, còn sự tĩnh lặng tiềm tàng tính linh động của tâm trí. Chúng là hai cực của thực tại mà không thể tách rời nhau, thu hút bổ trợ lẫn nhau. Việc cần làm của người tu Đạo là nhận ra điều này và học cách điều phối sử dụng chức năng của từng thứ sao cho nó mang lại lợi lạc lớn lao nhất trong đời sống. Hay nói cách khác, chúng ta cần phải học tập Phật Tổ trong cách thuần phục Tôn Ngộ Không vậy.

4. Giác ngộ là sự quy phục của tâm trí

Dù thông minh lanh lợi, chí khí hơn người nhưng sự ngang bướng của Tôn Ngộ Không cũng to chẳng kém tài năng của hắn. Chính sự kiêu căng của Mỹ Hầu Vương là thứ gây nên tai ương cho hắn ngay từ thuở đầu. Sư tổ Bồ Đề đã nói trong lúc đuổi Ngộ Không đi khỏi đạo tràng bởi sự nông nổi sĩ diện của hắn là: Sau này có gây nên tai họa thì đừng nhận là học trò của ta. Nhớ làm điều thiện, chớ làm điều ác.

Trong quá trình hỗ trợ Đường Tăng thỉnh kinh, Ngộ Không cũng không ít lần làm sai như giết người, bỏ mặc sư phụ, ăn nói xấc xược với Bồ Tát hay Phật Tổ, không bao giờ biết cúi mình trước các vị thiên thần, tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh (là thánh to ngang Trời), náo loạn thiên cung, v.v… Nhưng trong cuộc hành trình gian nan, mỗi lần được chư thiên cứu hộ là Ngộ Không đều biết cúi mình cảm tạ (dù đôi lần cũng tính “thủ” luôn các bảo bối của các vị), và đến cuối cùng, hắn biết bái lạy Phật Tổ và các vị Bồ Tát ở chốn Tây Thiên. Người ta được chứng kiến một sự quy phục của Ngộ Không và thấy sự thay đổi thần thái rõ ràng của nhân vật này. Hắn không còn là một con khỉ loi choi nhảy nhót đòi đi đầu thiên hạ, mà là một vị thánh khiêm nhường điềm đạm đến bất ngờ, tỏa ra hào quang dịu dàng bình yên.

Việc tu thiền hay học Đạo của con người là việc để cho tâm trí quy phục những điều lớn lao hơn như tình yêu, trí tuệ, Thượng Đế. Có như vậy thì bản thân tâm trí mới được soi sáng và nắm bắt được mục đích cao thượng vĩ đại của chính nó chứ không còn là sự nháo nhác phá hoại. Những người vô minh là những người kiêu căng, sống trong cái ao làng hiểu biết nông cạn; không có khả năng lắng nghe và đón nhận Đạo lý; thích đi tranh cãi, tranh luận, giằng co, đòi phần đúng và sự đồng tình về phía mình. Đó là một căn bệnh rất nguy hại, và cách chữa trị duy nhất là sự dập đầu khiêm cung, quy phục Trời Đất.

“Còn những kẻ vô minh, không có đức tin và nghi ngờ lời dạy của Thánh Kinh sẽ không thể đạt được ý thức Thượng Đế, họ thoái hóa dần dần và mãi mãi. Linh hồn hoài nghi không có hạnh phúc ở kiếp này lẫn kiếp sau.” — Sri Krishna, Chí Tôn Ca (4:40)

Tóm lại, không phải ngẫu nhiên mà Tây Du Ký là một trong bốn đại kiệt tác của Trung Hoa, và Tề Thiên Đại Thánh thông minh tinh nghịch lại chiếm được trái tim của nhiều thế hệ khán giả hơn bao giờ hết. Tôn Ngộ Không là một hình tượng ẩn dụ sâu sắc về con đường tiến hóa của một người, hay hành trình quy phục đạo Trời của họ. Bằng việc thấu hiểu bản chất của tâm trí và tinh tấn thực hành nâng cao nhận thức sống, một người sẽ tiến bộ vượt bậc trên Đạo lộ, hay sớm muộn cũng tới được miền đất Phật và được phong hiệu thiên thần, như chàng khỉ Tôn Ngộ Không vậy.

Tác giả: Vũ Thanh Hòa – Hòa Taro

Ảnh minh họa: vietnamnet

📌 Mua membership để đọc tạp chí Aloha đã giảm giá 25% ➡️ http://bit.ly/THDPmembership

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

  1. Chuyển tiền qua ngân hàng Việt Nam
    Người nhận: Vũ Thanh Hòa
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công, Hà Nội
    Số TK: 0451000409314
  2. Chuyển tiền qua Paypal
    Người nhận: Huy Nguyen
    Địa chỉ: https://paypal.me/huythdp

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

[Review] Kỳ thư Kybalion – Soi rọi đêm tối vô minh của loài người

thđp review

Điều đầu tiên mình muốn nói là mình thấy rất may mắn và vinh dự khi được viết review cho quyển sách Kỳ thư Kybalion. Tất cả những gì ấn tượng nhất với mình khi thưởng thức Kỳ thư Kybalion nhỏ bé chưa tới 200 trang này đó là nó tạo ra cảm giác giao thoa khi đọc hai kiệt tác trước đó là Cộng Hòa (Plato) và Chí Tôn Ca.

Nó vừa thấm đẫm những triết lý bí truyền huyền nhiệm của tâm linh tôn giáo vừa dồi dào những kiến giải logic chặt chẽ với các hiện tượng tự nhiên hay sự nghiên cứu của các ngành khoa học hiện đại. Có thể nói, Kỳ thư Kybalion là một tuyệt phẩm mà chúng ta sẽ bỏ lỡ nếu không đủ tư duy và trí tuệ để đón nhận.

Kỳ thư Kybalion

Nếu đọc triết phẩm Cộng Hòa, người ta bị xoắn não bởi việc phải huy động hết các liên kết thần kinh để thấu hiểu những lý luận logic; đọc Chí Tôn Ca, người ta bị nhức óc bởi những gì họ có thể lý giải đều quá bé nhỏ so với kết luận Đấng Chí Tôn Krishna, thì khi đọc Kỳ thư Kybalion, họ sẽ cảm thấy “bó tay toàn tập” vì chẳng hiểu gì cả.

Nhưng nếu họ có khả năng nuốt trôi được hai kiệt tác kia thì Kỳ thư Kybalion này lại là sự cộng hưởng may mắn khi độc giả có thể giao tiếp với trí tuệ thần linh bằng một tư duy nhạy bén nhất của con người. Tức là bằng sự tập trung cao độ, lòng khiêm nhường sùng kính và tất cả những trải nghiệm thế giới sâu sắc nhất từng có, bạn có thể nắm bắt được những sự diễn giải chân lý từ những người khai ngộ – ba đệ tử của nhà huyền môn vĩ đại Hermes Trismegistus.

Kỳ thư Kybalion

“Nếu ngươi không làm cho bản thân ngang bằng Thượng Đế, ngươi không thể nắm bắt được Thượng Đế; bởi hai cái giống nhau thì mới biết nhau. Bay qua tất cả những gì vật chất, và phát triển bản thân trở nên vĩ đại vượt mọi thước đo; vượt mọi thời gian và trở nên vĩnh cửu; thì lúc đó ngươi sẽ nắm bắt được Thượng Đế.

Hãy nghĩ rằng không có gì là không thể đối với ngươi; nghĩ rằng chính bản thân ngươi cũng bất tử, và ngươi có thể thấu suốt mọi thứ, biết hết mọi môn khoa học; tìm thấy nhà mình trong nhà của mọi sinh linh; bay cao hơn mọi độ cao và chìm sâu hơn mọi độ sâu; mang vào trong mình mọi sự đối lập, nóng và lạnh, khô và ướt;

nghĩ rằng ngươi đang ở khắp mọi nơi cùng một lúc, trên cạn, dưới biển, trên thiên đàng; nghĩ rằng ngươi chưa được sinh ra, rằng ngươi đang ở trong bụng mẹ, rằng ngươi còn trẻ, rằng ngươi đã già, rằng ngươi đã chết, rằng ngươi đang sống trong cõi giới bên kia ngôi mộ;

hiểu rõ tất cả những thứ này cũng một lúc, mọi lúc mọi nơi, mọi liệu chất và phẩm chất và mức độ; thì lúc đó ngươi có thể nắm bắt được Thượng Đế.

Nhưng nếu ngươi khép lại linh hồn trong cơ thể mình, rồi tự hạ thấp chính mình và nói ‘Tôi không biết gì, tôi không thể làm gì; tôi sợ đất sợ biển, tôi không thể lên được thiên đàng; tôi không biết tôi đã là gì, hay tôi sẽ là gì,’ vậy thì ngươi có dính dáng gì với Thượng Đế?”

— Hermes Trismegistus, Hermetica (Nguyễn Hoàng Huy dịch)

Cá nhân mình thấy rất vui sướng khi được tiếp cận với cuốn kỳ thư này vì trong quá trình tìm hiểu về chân lý và thực hành tu tập mình vẫn gặp những vướng mắc nhất định trong tư tưởng mà không sao vượt qua được. Chúng để lại những khoảng tối trong nhận thức và những e sợ nghi ngờ nhe nhóm về con đường Đạo mình đang bước đi. Sự thật tối hậu có bất khả tri không? Tình yêu vô điều kiện có thể đạt tới?

Âm dương bên trong mỗi con người được biểu lộ như thế nào? Đạo lý của cha ông về bổn phận của nam nữ có phải đúng đắn? Tất cả những nghi vấn đó đều được gỡ giải một cách ngoạn mục và dễ dàng bởi sự diễn đạt tường minh và mạch lạc của những tác giả. Trong vài giờ đọc Kỳ thư Kybalion, mình liên tiếp có cảm giác như tâm trí được giải phóng và sáng bừng lên vui sướng.

Mình chỉ muốn được chia sẻ ngay những điều mình đã hiểu ra với thế giới, muốn được loan tin mừng với mọi người, rằng đây chính là con đường chân lý, không còn nghi ngờ gì nữa.

Kỳ thư Kybalion này rất mỏng, không tốn quá nhiều thời gian để đọc, nhưng bù lại, nó tốn nhiều thời gian để nghiền ngẫm, trải nghiệm mà thấu hiểu. Nội dung xoay quanh 7 nguyên lý thần thánh, đúng trên mọi tầng mức nhận thức, và là những quy luật tối cao của thực tại.

  1. Nguyên lý tâm thức
  2. Nguyên lý tương ứng
  3. Nguyên lý dao động
  4. Nguyên lý đối cực
  5. Nguyên lý tiết nhịp
  6. Nguyên lý nhân quả
  7. Nguyên lý giới tính

7 nguyên lý này đều được đúc rút trong những lời ngắn gọn và mang tính đối xứng cao, tương tự như cách viết của Chí Tôn Ca. Cùng với sự diễn giải của ba người khai ngộ thì những nguyên lý đó được phơi bày một cách thân thiện và dễ hiểu hơn bao giờ hết. Nếu có một sự tưởng tượng về ba người đệ tử này, ta không biết họ là những nhà khoa học hay những bậc tu tế hay những triết gia, hay cả ba.

Các tác giả có sự liên kết nội dung của các nguyên lý thần thánh với những hiện tượng tự nhiên gần gũi như chuyện yêu ghét của con người, chuyện quả lắc hoạt động, chuyện khúc gỗ trôi dọc theo dòng hay chuyện các nguyên tử hoạt động, v.v… Tất cả mọi thứ được kết nối và được nhìn ra cùng với nguyên lý thiêng liêng chứ không còn là những sự kiện hững nhờ nhàm chán.

Nhờ những mối liên kết minh họa ấy mà các tác giả khiến người đọc phải chú ý nhiều hơn đến những gì xảy ra xung quanh mình, biết đâu chuyện ngồi ngõ bàn phím máy tính cũng là một phép màu và chuyện vặn nước rửa rau cũng hàm chứa sự thần diệu.

Tưởng chừng như 7 nguyên lý đó là cao siêu phi thực, nhưng không hề. Chúng là thứ có thể mang ra áp dụng ngay trong đời sống thường ngày, trong việc cân bằng cảm xúc tư tưởng, làm chủ chính mình, thăng tiến trong Đạo lộ và góp phần cải thiện thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống.

Các nguyên lý này hỗ trợ mình rất mạnh trong việc thực hành thiền và cân bằng nhận thức, thậm chí nó giúp mình kết nối và tương tác với những người xung quanh tốt hơn, khai mở tâm trí và trái tim mạnh mẽ hơn. Nó như là những mảnh ghép để hoàn thiện những điều mình còn yếu kém, những điều mà tự thân trải nghiệm chưa đạt tới tầng sâu sắc ấy.

Khi đọc mỗi nguyên lý này, mình đều có những liên hệ tới những lời trí tuệ từ những bậc khả kính khác (Rumi, Terence McKenna, Đức Phật, Dalai Laima, Soyal Rinpoche, Lão Tử, Khổng Tử, v.v…) và thấy có rất nhiều điểm trùng khớp tương đồng. Họ đều đang cùng nói về một thứ dưới nhiều cách diễn giải khác nhau.

Như thể tất cả họ là những sứ giả đến từ tương lai và đang góp phần nâng cao rung động của nhân loại bằng việc truyền tải những tầng nhận thức tiến hóa vượt trội – thứ đa số con người ở trong vùng tăm tối u mê luôn phản kháng điên cuồng trước khi có thể đón nhận. Nhân loại phải bỏ ra hàng ngàn triệu năm trải nghiệm học hỏi để có thể tường thông được những chân lý ấy.

Kỳ thư Kybalilon không chỉ là ngọn đèn soi rọi đêm tối vô minh của con người, mà còn là gáo nước lạnh dội thẳng vào nhận thức khoa học duy vật bảo thủ. Ngay từ nguyên lý đầu tiên đã khẳng định “Vạn hữu là tâm trí, vũ trụ là tâm thức” và xuyên suốt Kỳ thư Kybalion là sự chứng minh nguyên lý ấy.

Tất nhiên, các tác giả đủ thông thái để dẫn dắt minh chứng tiến bộ của khoa học lượng tử hiện đại trong việc khám phá dần tới bản chất tinh thần của vạn vật. Độc giả càng nhiều bám chấp thì Kỳ thư Kybalion càng tung ra nhiều cái tát nổ đom đóm mắt.

“Khoa học đang di chuyển dần tới vị trí Hermetic bằng sự dò dẫm trong bóng tối để tìm lối ra khỏi mê cung mà nó đang lang thang trong cuộc tìm kiếm Thực tại.”

Cuối cùng, một điều mình thấy rất tuyệt vời ở tác phẩm này đó là nó giải quyết được tư duy nửa vời phiến diện của người bước đi trên con đường tu tập, bằng cách chỉ ra hai mặt của một vấn đề và sự vướng mắc của môn sinh do thiếu nhận biết đối cực còn lại. Điều quan trọng hơn cả là nó nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thực hành đạo lý, nâng cấp chính mình trong đời sống, và tập trung sống một cuộc đời dồi dào ý nghĩa. Đây chính là những gì Triết Học Đường Phố vẫn kiên trì truyền đạt tới mọi người trong suốt quãng thời gian qua.

“Công việc của chúng ta trong Vũ trụ không phải là để phủ nhận sự tồn tại của nó mà là để ‘sống’, để sử dụng những Luật để vượt từ thấp hơn lên cao hơn – tiếp tục sống, làm điều tốt đẹp nhất có thể, dưới mọi tình huống nảy sinh mỗi ngày, và sống ở mức độ khả thi nhất bằng những tư tưởng và những lý tưởng cao nhất.”

Tóm lại, Kỳ thư Kybalion là một kiệt tác của nhân loại và sẽ là cứu cánh kịp thời cho sự thoái hóa nhận thức của con người thời đại ngày nay. Nó sẽ luôn là ánh sáng bập bùng trong màn đêm u mê của thế giới. Nên ai muốn đen thì cứ gần mực, còn ai muốn rạng ngời thì hãy tiến lại gần đèn.

Một số câu trích dẫn yêu thích của mình từ Kỳ thư Kybalion (không kể tới 7 trích dẫn nguyên lý):

  1. “Hãy nhìn vào nhiệt kế và xem liệu bạn có thấy được đâu là cái “nóng” chấm dứt và đâu là cái “lạnh” bắt đầu.” (Câu này tương tự với câu nói của đại thi hào Rumi: “I don’t know where I end and you begin.”)
  2. “Sự Làm chủ bao gồm không phải những giấc mơ khác thường, những thị kiến và những tưởng tượng hoặc cách sống kỳ quái, mà dùng những lực lượng cao hơn chống lại cái thấp hơn – thoát khỏi đau khổ của những tầng thấp hơn bằng sự dao động ở tầng cao hơn. Sự Chuyển hóa, không phải là sự phủ nhận trong tự đắc, là khí giới chính của bậc Đạo Sư.”
  3. “Tất cả đều ở trên Đạo lộ mà cùng đích là Vạn hữu. Mọi tiến bộ là một cuộc Trở về nhà.”
  4. “Làm sao có thể miêu tả ánh sáng cho người mù bẩm sinh, miêu tả chất đường cho kẻ chưa từng nếm thứ gì có vị ngọt, làm sao miêu tả hòa âm cho người điếc?”
  5. “Phải chăng đại đa số con người chỉ là những cái bóng và những tiếng vang của những người có ý chí và tâm trí mạnh hơn bản thân họ?”
  6. “Vạn hữu ở trong con giun đất, nhưng con giun đất không bao giờ là Vạn hữu.”

Tác giả: Vũ Thanh Hòa

Ảnh minh họa: Vũ Thanh Hòa

[THĐP Translation™] 10 nguyên tắc đơn giản về sự thức tỉnh tâm linh có thể thay đổi cuộc đời bạn

0

thdp translation 3

Sự thức tỉnh tâm linh không phải là một cảm giác, trạng thái, hay trải nghiệm. Nó không phải là mục tiêu hay điểm đến để chạm tới trong tương lai. Như Đức Phật đã dạy, nó không phải là đạt được một kết quả hay thành tựu siêu phàm. Bạn không phải đi du lịch đến Ấn Độ để tìm nó. Nó không phải là một trạng thái hoàn hảo đặc biệt dành riêng cho những người đã giác ngộ, hay một vài người may mắn hoặc có đặc quyền. Nó không phải là một câu lạc bộ VIP. Nó không phải là một trải nghiệm ngoài thân xác (out-of-body experience), và nó không liên quan đến việc sống trong hang động, đóng hết mọi giác quan, tách mình ra khỏi thực tại của thế giới. Nó không thể được trao truyền cho bạn bởi một đạo sư, cũng không thể bị lấy đi hoặc bị mất. Bạn không cần phải trở thành đồ đệ hay đi theo bất kỳ ai hay cho đi tất cả tài sản của mình. Bạn cũng không cần phải gia nhập một giáo phái nào. Thay vào đó, nó là một lời mời gọi liên tục và cổ xưa—xuyên suốt mọi khoảnh khắc của cuộc đời bạn—mời gọi bạn tin tưởng và bao dung chính bản thân con người thật của bạn, với tất cả những khiếm khuyết huy hoàng. Nó có nghĩa là sự hiện hữu toàn diện trong hiện tại, bước ra khỏi câu chuyện hoành tráng về quá khứ và tương lai (“Câu chuyện của Tôi”) và có mặt, hiện hữu với cuộc sống, biết rằng ngay cả cảm giác không chấp nhận của bạn cũng được chấp nhận. Nó có nghĩa là việc mở ra món quà từ cuộc sống phi thường này, ôm lấy cả nỗi đau và niềm vui, phúc lạc và khổ đau, ngây ngất và choáng ngợp, chắc chắn và ngờ vực. Biết rằng bạn không bao giờ tách rời khỏi Toàn Thể, không bao giờ tổn thương, không bao giờ thật sự lạc lối. Sau đây là vài nguyên tắc và gợi ý đơn giản.

1. Không có địa điểm đến; chỉ có ngay bây giờ

Chỉ có CÁI NÀY ĐÂY, cảnh hiện tại bộ phim của cuộc đời bạn. Hãy bước ra khỏi câu chuyện hoành tráng về thời gian và không gian, quá khứ và tương lai, hối tiếc và dự đoán, hay tìm kiếm các trạng thái và kinh nghiệm khác nhau, thậm chí là tìm kiếm sự giác ngộ tâm linh. Buông lỏng thói quen tập trung vào ‘những gì đã qua,’ ‘những gì chưa có ở đây’ – những thứ bạn không thể kiểm soát được từ vị trí hiện tại của mình. Hãy đi ra khỏi câu chuyện ‘Cuộc đời Tôi’ và cho phép bản thân bị mê hoặc trước sự sống đang ở đây, ngay bây giờ. Hãy tò mò về điệu nhảy sống động của những suy nghĩ, cảm xúc, cảm giác và thôi thúc đang diễn ra ngay đây. Hãy nhớ rằng, Bây Giờ là nơi duy nhất những câu trả lời đích thực có thể hiển lộ. Thời điểm hiện tại là ngôi nhà thực sự của bạn, nó có trước thời gian và không gian. Nó là tất cả; sự bình lặng giữa cơn bão.

2. Suy nghĩ và chống cự tạo ra đau khổ

Nỗi đau không phải là vấn đề thực sự; vấn đề thực sự là suy nghĩ của chúng ta về nỗi đau, sự chống cự lại nó, nỗ lực của chúng ta để thoát khỏi nó, để đạt đến một tương lai tưởng tượng nào đó. Vấn đề bắt đầu khi chúng ta ngẫm nghĩ về nỗi đau, nỗi buồn, nỗi sợ hãi, sự tức giận của mình; nghiền ngẫm những khó chịu, tua lui và tua tới bộ phim về cuộc sống của chúng ta. Chúng ta nhai những nỗi buồn ngày hôm qua và ngày mai, thay vì trực tiếp khám phá và trải nghiệm những gì của ngày hôm nay khi nó xảy đến. Chúng ta thêm vào một lớp trầm tư và kháng cự không cần thiết vào cuộc sống, và điều này tạo ra đau khổ. Lời mời gọi? Hãy bước ra khỏi quá khứ và tương lai, tìm kiếm và cố đạt được điều gì, hãy gặp gỡ cuộc sống trong hình thức thô sơ của nó, ngay bây giờ, không phán xét, và không mong đợi ‘bình an,’ ‘thư thái,’ ‘giác ngộ’ hay bất kỳ điều gì sẽ đến. Đón nhận từng khoảnh khắc; xem tất cả như những món quà, dễ chịu và khó chịu, vui thú và đau đớn, mà không phán xét, không có một lịch trình.

3. Suy nghĩ và cảm xúc không phải là bạn (cá nhân), và không phải là sự thật

Xem những suy nghĩ và cảm giác như những sự kiện trung lập và phi cá nhân. Giống như những âm thanh mà chúng ta nghe thấy, những suy nghĩ và cảm giác vật lý phát sinh và biến mất một cách tự nhiên, giống như những con sóng trong đại dương của Bạn. Chúng không thể được kiểm soát, xóa đi hoặc trốn thoát. Nuôi dưỡng một thái độ nhẹ nhàng đối với những suy nghĩ và cảm giác như bạn đã có đối với âm thanh. Đáp lại tất cả những suy nghĩ và cảm giác với một thái độ tử tế và tò mò. Hãy xem chúng như là khách viếng thăm trong sự hiện diện của bạn.

4. Bạn là không gian cho những ý nghĩ, không phải người suy nghĩ

Những suy nghĩ không phải là bạn, và chúng không phải là thực tại; chúng chỉ là những gợi ý, khả năng, tin đồn, tuyên truyền, phán xét, tiếng nói, hình ảnh, tua tới và tua lui sự đến và đi, những đám mây trên bầu trời rộng lớn là bạn. Đừng cố gắng chặn đứng, làm im lặng hoặc dừng lại, thả, xóa hoặc kiểm soát chúng. Hãy là không gian cho chúng, ngay cả khi chúng đang rất tất bật! Hãy nhớ rằng, nếu bạn nhận thấy những suy nghĩ, nếu bạn nhận biết được chúng, bạn sẽ không bị mắc kẹt trong đó. Chúng không định nghĩa bạn. Bạn là không gian chứa đựng tĩnh lặng, không phải cái bị chứa đựng. Hãy là cái bạn là, sự bao bọc bất biến của nghĩ suy, sự bao la trong đó những ý nghĩ có thể đến và đi khi chúng muốn.

5. Đưa hơi thở vào những cảm giác khó chịu và đau đớn, tôn trọng nó

Đưa hơi thở vào những cảm giác khó chịu; cho nó một phẩm giá. Hãy tôn trọng chúng thay vì đóng cửa hay bỏ mặc chúng. Khi tập trung vào hơi thở, hãy tưởng tượng hoặc cảm thấy hơi thở của bạn di chuyển vào những khu vực bị lãng quên, dịu dàng truyền cho nó sự sống và tình yêu. Làm đầy vùng khó chịu trong cơ thể bạn bằng oxy, hơi ấm và phẩm giá. Đừng cố gắng ‘chữa lành’ cho các cảm giác đó, hay thậm chí ‘buông bỏ’ chúng. Chúng muốn được gặp gỡ, tôn trọng, và tích hợp  trong màn cảnh hiện tại. Hãy cho rằng ngay cả sự khó chịu cũng có trí thông minh; rằng nó không chống lại bạn. Hãy biết rằng niềm vui thực sự không phải là sự vắng mặt hay đối nghịch với nỗi buồn hay nỗi đau, mà là sẵn sàng đón nhận bao bọc tất cả.

6. Sự chấp nhận không phải là cái bạn làm,  mà là chính bạn

Chấp nhận không có nghĩa là một ý nghĩ hoặc cảm giác khó chịu sẽ biến mất; nó có thể ở lại một thời gian. Đừng cố gắng chấp nhận nó (vì đây thường là sự phản kháng ngụy trang) nhưng nhìn nhận rằng nó ĐÃ ĐƯỢC chấp nhận, đã ở đây, đã là một phần của cuộc sống. Hãy đối xử như thể chúng sẽ luôn ở đây! Điều này giúp loại bỏ áp lực về thời gian (cố gắng làm cho chúng biến mất, tự hỏi tại sao chúng vẫn còn ở đây). Chúng ĐANG ở đây, bây giờ. Chấp nhận thực tế này. Hãy tò mò. Và cho phép tất cả sự thôi thúc, cảm giác khó chịu, buồn chán, thất vọng hoặc thậm chí tuyệt vọng được xuất hiện và được chứa đựng. Chúng đều là một phần của cuộc sống hiện tại, không phải là sự ngăn cản. Ngay cả một cảm giác bế tắc cũng là một phần của cuộc sống!

7. Không có ‘luôn luôn’ và không có ‘không bao giờ’

Trong thực tế, không có ‘luôn luôn’ và không có ‘không bao giờ.’ Hãy chú ý đến những chữ này; chúng là những lời nói dối, có thể tạo ra cảm giác khẩn cấp hay bất lực; mưu cầu và thiếu thốn. Không có ‘phần còn lại của cuộc đời tôi’, không có ‘trong nhiều năm’, không có ‘cả ngày dài.’ Chỉ có Bây Giờ, nơi duy nhất thực sự có sức mạnh. Thậm chí, đôi khi nghĩ về ngày mai cũng đã quá thừa. Hãy ở đây.

8. Bạn chỉ có thể ‘đến đó” bằng cách “ở đây”

Nhiều khi chúng ta tập trung quá nhiều vào mục tiêu hoặc đích đến mà quên đi cuộc hành trình. Đừng quan tâm đến mục tiêu hay đích đến nữa, nếu không bạn sẽ tạo ra sự căng thẳng, cảm giác rằng chúng ta ‘Vẫn chưa đến.’ Tuy nhiên, niềm vui chỉ có thể được tìm thấy ngay ở đây và bây giờ, và không liên quan gì đến mục tiêu, đích đến hoặc đạt được những gì bạn muốn. Hãy ngưng tập trung vào 10,000 bước sắp tới, 10,000 bước bạn chưa đi, 10,000 điều còn thiếu ngay bây giờ, và hãy nhớ bước hiện tại, nơi cuộc sống này, nơi bạn có mặt. Hãy hít thở. Cảm nhận sự sống trong cơ thể của bạn. Thường thì chúng ta không biết nơi chúng ta đang hướng đến, và điều đó hoàn toàn bình thường. Hãy kết bạn với bất kỳ sự không chắc chắn, nghi ngờ, lo lắng nào bạn cảm thấy; học cách yêu quý trân trọng nơi thiêng liêng không có câu trả lời này. Nó đang sống, sáng tạo, và đầy tiềm năng.

9. Bao bọc cả những vấp ngã của bạn; vì nó cũng hoàn hảo

Nếu bạn nhận ra rằng bạn đã bị lạc lối trong một câu chuyện, rằng bạn đã bị mất kết nối, rằng bạn đã quên mất khoảnh khắc, hãy ăn mừng! Bạn vừa tỉnh dậy từ một giấc mơ. Một trí thông minh tuyệt vời đang sống trong bạn, một sức mạnh để nhận thức và kết nối. Bạn đã bước ra khỏi hàng triệu năm của sự định hướng. Đừng tự trừng phạt mình vì đã quên, hãy ăn mừng khả năng nhớ lại của bạn! Khoảnh khắc không phiền vì bạn đã quên nó! Quên là một cảnh hoàn hảo trong phim. Đôi khi hãy cho phép bản thân quên đi. Khiêm tốn nhún nhường thay vì cố gắng trở nên ‘hoàn hảo.’ Nghi ngờ, thất vọng và vỡ mộng sẽ là những người bạn liên tục trên con đường này. Không có đích đến trong hiện tại, không có hình ảnh ‘thành công’ nào để sống theo. Bạn không thể đi sai, khi không có hình ảnh của ‘đúng.’

10. Ngừng so sánh; bạn chính là cuộc sống!

Bạn là độc nhất; cuộc hành trình của bạn là hoàn toàn mới, chưa từng xảy ra. Chúng ta có thể là những biểu hiện của cùng một đại dương ý thức, nhưng đồng thời, tất cả chúng ta đều là những biểu hiện độc đáo của chính đại dương đó, những làn sóng hoàn toàn độc nhất vô nhị! Đừng so sánh mình với bất cứ ai khác! Khi bạn bắt đầu so sánh, bạn làm giảm giá trị những món quà, tài năng và sự độc đáo, không thể thay thế của mình và ngắt kết nối khỏi những trải nghiệm hiện tại độc đáo của bạn. Đừng so sánh khoảnh khắc này với bất kỳ hình ảnh nào về cách nó có thể, nên, hoặc có thể là. Sự chữa lành là có thể khi bạn nói đồng ý với nơi bạn đang ở, ngay cả khi nó không phải là nơi bạn mơ ước. Tin tưởng, và đôi khi tin tưởng ngay cả khi bạn không thể tin tưởng. Có lẽ ngay cả khả năng không thể tin tưởng của bạn cũng có thể được tin tưởng ở đây, và thậm chí cảm giác rằng bạn không thể giữ được khoảnh khắc, chính bản thân nó đã được giữ lại.

Tác giả: Jeff Foster
Biên dịch: Hàn Tâm
Hiệu đính: Prana
Photo: Marek Piwnicki


📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

  1. Chuyển tiền qua ngân hàng Việt Nam
    Người nhận: Vũ Thanh Hòa
    Ngân hàng Vietcombank chi nhánh Thành Công, Hà Nội
    Số TK: 0451000409314
  2. Chuyển tiền qua Paypal
    Người nhận: Huy Nguyen
    Địa chỉ: https://paypal.me/huythdp

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2

[THĐP Vietsub] Những lợi ích sức khỏe to lớn của “Tự Thực” (Autophagy) và “Nhịn ăn gián đoạn” (Intermittent Fasting)

https://www.facebook.com/TrietHocDuongPho2.0/videos/2400480413503967/

Xem trên Facebook

Ngày 3 tháng 10 năm 2016, Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska đã trao giải thưởng Nobel Y học cho Yoshinori Ohsumi vì những khám phá của ông về cơ chế của sự tự thực bào (autophagy).

Autophagy là gì? Từ “autophagy” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, auto có nghĩa là “tự”, và phagein, có nghĩa là “ăn.” Như vậy theo nghĩa đen, từ này có nghĩa là tự ăn chính mình. Về cơ bản, đây là cơ chế của cơ thể nhằm loại bỏ tất cả các tế bào đã suy thoái (bào quan, các protein và màng tế bào) khi không còn đủ năng lượng để nuôi dưỡng nó. Đây là một quy trình có quy định và trật tự nhằm đào thải và tái tạo các thành phần của tế bào.

Source: Bác sĩ Eric Berg DC
Biên dịch: Prana
Vietsub: Lê Gia Khiêm


Bài liên quan

Cách làm mới cơ thể – Nhịn ăn và Autophagy (Aloha Volume 11) [Mua đọc tại bit.ly/THDPmembership]

👉 Volume 1, 2, 3 FREE >>> http://bit.ly/2Pmh71U