Trang chủ Blog Trang 220

Ta cần biết ta hơn nữa

Featured Image: Larpoon 

 

Đã là một sự thật không thể chối cãi, một sự thật thần kỳ, một sự thật cả thế giới đều nhìn nhận: năm 2006 là năm “đến” của kinh tế nước ta. Tuy rằng về nhiều chỉ số phát triển và an sinh, Việt Nam vẫn còn là một nước lạc hậu, nhưng về đà tiến của chúng ta, xung lực của chúng ta, sự năng động của chúng ta thì Việt Nam quả là “top ten” (nói vậy là còn… khiêm nhường!)… Trước một tương lai đầy hứa hẹn mà cũng nhiều thử thách, nhà kinh tế thấy chúng ta cần chuẩn bị để ra luật lệ, lập chính sách, đối phó với mọi tình huống, lấp những lỗ hổng trong cơ cấu… Anh ta muốn hình dung khuôn mặt đất nước trong 10-20 năm sắp đến, và xa hơn nếu có thể. Nhà kinh tế nhìn lại các tài liệu, sách báo, báo cáo, phúc trình trong nước mà anh ta đã đọc nhiều năm qua, anh ta lên web, vào thư viện nhiều trường đại học hàng đầu trên thế giới. Và anh ta bỗng “ngộ” ra một điều: Ta cần biết ta hơn nữa!

I. Nhu cầu thông tin và phân tích

“Biết”: chúng ta cần mọi loại thông tin, thống kê, kịp thời và chính xác, nhưng “biết” còn có nghĩa là những thông tin ấy phải được sắp xếp, phân tích một cách khoa học, đưa vào luật pháp, chính sách, dự báo, cho từng khu vực, từng ngành nghề, cho cả nước, trong tương lai gần lẫn xa. Để phát triển và bảo vệ quyền lợi đất nước, ta cần phải “biết” như thế, càng rõ, càng nhiều, càng đúng, càng tốt.

Để có những chính sách hữu hiệu để ổn định và phát triển

Cần nhấn mạnh: Chúng ta đã có những chính sách tương đối thành công, song với mức phát triển ngày càng cao, cơ cấu kinh tế xã hội ngày càng phức tạp, nhu cầu phân tích từ vi mô đến vĩ mô chỉ có thể mô tả là “phi mã”! Thông tin và phân tích không chỉ là thiết yếu cho những người làm chính sách trong khu vực công, mà còn cho các nhà quản lý, kinh doanh, xuất nhập khẩu, các ngân hàng, thậm chí các hiệp hội doanh nhân, lao động…

Nhìn lướt qua báo chí, hầu như không ngày nào là không thấy vài vấn đề kinh tế ảnh hưởng đến hàng triệu người, nhiều mảng công nghiệp, dịch vụ quan trọng, “kêu gào” phân tích, khảo sát, nghiên cứu: thuế thu nhập cá nhân, giá điện, ảnh hưởng của thuế giày do EU áp đặt, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư… Rõ ràng, mỗi chính sách kinh tế, tài chính, xã hội, đòi hỏi xác định sự liên hệ giữa nhiều yếu tố khác nhau, và mỗi con số trong từng quy chế, điều luật, phải được tính toán theo phương pháp khoa học hiện đại nhất, trong những giả định thích hợp với đặc thù của nước ta.

Là người dân, ai cũng hy vọng (cầu mong?) rằng các bộ, các cơ quan nhà nước (kể cả quốc hội) đã nghiên cứu kỹ lưỡng khi đưa ra những chính sách, luật lệ, song lắm lúc (nhất là khi nghe phát biểu hơi “trái tai” của vài quan chức) không khỏi băn khoăn: chất lượng những phân tích này đến đâu? Các chuyên gia đã dùng mô hình, lý thuyết nào? (Chẳng hạn, Luật Cạnh tranh cần xây dựng trên lý thuyết về cách thức cạnh tranh, mà hiện nay giới học thuật vẫn chưa nhất trí, vậy thì các chuyên gia đã dùng mô hình nào để tính cái gọi là “thị phần khống chế”?) Căn cứ trên những giả định nào? Dù biết rằng kinh tế học không phải là chính xác đến độ cho phép tiên đoán tất cả mọi việc, song đàng sau mỗi dự luật, mỗi chính sách, phải là những cố gắng tột bậc để tính toán đến chừng mực mà kinh tế học hiện đại cho phép, từ các giả định minh bạch, với những thông tin chính xác nhất. Không thể bốc những con số ra “từ không khí” (như người Mỹ hay nói), căn cứ vào các giả định ẩn mà có khi chính người phân tích cũng không ý thức.

Nghi vấn về kiến thức kinh tế ở Việt Nam không chỉ liên hệ đến các bài toán nổi cộm như ví dụ ở trên. Đôi khi nó còn là ấn tượng đọng lại sau những tranh cãi vòng vo xung quanh vài vấn đề (như “giáo dục có phải là hàng hoá?”) đã được các học giả khắp thế giới mổ xẻ mọi khía cạnh từ hàng mấy chục năm, song dường như một số người tham dự tranh luận trong nước vẫn tưởng là mới lạ, đưa ra những lập luận, ý kiến mà giới học thuật tiên tiến đã vượt qua từ lâu. Đàng khác, có những chủ đề đang thu hút sự chú ý đặc biệt của giới học thuật và quản lý toàn cầu, ví dụ vấn đề “văn hoá doanh nghiệp”, mà kinh nghiệm của Việt Nam (kinh tế chuyển tiếp từ kế hoạch sang thị trường trong bối cảnh văn hóa nho giáo) có thể có những đóng góp nhất định thì lại ít được học giả trong nước nghĩ đến để điều tra, nghiên cứu.

Cần biết ta khi thương lượng với nước khác

“Ta cần biết ta” để ổn định và phát triển kinh tế tự thân, như trên đã nói, đã là vô cùng cần thiết, song bức xúc hơn nữa trong thời đại “hội nhập” ngày nay là nhu cầu biết ta (và biết người) khi thương thuyết với thế giới.

Khi đối diện với nước khác trong đàm phán thì lượng thông tin và khả năng phân tích là quan trọng ở hai khâu. Thứ nhất, ta phải hiểu tận tường vấn đề trên bàn nghị sự, kể cả liên hệ giữa nó và những vấn đề khác không nằm trên bàn ấy. Thứ hai, ta phải nắm vững đặc tính kinh tế của ta và của (những) quốc gia đối diện. Thật là nguy nếu chẳng những ta không biết rõ đối tác, mà còn không biết ta rõ bằng đối tác biết ta! Không thể nghi ngờ: sự chênh lệch kiến thức và thông tin (mà ta ở vào phía kém) chắc chắn sẽ gây nhiều thiệt thòi (mà, khổ thay, lắm khi ta cũng không biết!) trong các thương lượng quốc tế.

Thực vậy, sự thiếu thốn chuyên gia về kinh tế (và về luật quốc tế) có thể là yếu tố quyết định lợi thế giữa các quốc gia quanh bàn đàm phán. Có người (như nhà kinh tế nổi tiếng Jagdish Bhagwati, nguyên cố vấn cho Tổng thư ký WTO) khẳng định rằng vài nước (ông có nêu tên, nhưng người viết bài này không dám lặp lại vì hơi … nhạy cảm!) đã gia nhập WTO khá dễ dàng chỉ vì họ hạ bút ưng thuận soàn soạt mọi điều kiện mà đối tác đặt ra, bởi lẽ muốn “cãi lại” cũng không đủ chuyên viên đọc (và hiểu!) tất cả văn kiện cần ký kết, nói chi đến phân tích sự lợi hại của từng điều khoản!

Gần đây, nhiều người đã nhận thấy nhu cầu nghiên cứu thêm vì quyền lợi các quốc gia đang phát triển (để phát triển chính các nước ấy, dù có phản lại quyền lợi các nước đã phát triển). Trong một cuốn sách vừa xuất bản, Joseph Stiglitz (viết chung với Andrew Charlton), người lãnh Nobel kinh tế khá quen thuộc với Việt Nam, đề nghị rằng chính WTO phải đảm nhiệm những nghiên cứu loại này nếu thực tâm muốn tiến đến một nền thương mại toàn cầu thật sự công bằng như tôn chỉ của tổ chức ấy.

II. Phát biểu và nghiên cứu

Đáng mừng là trong vài năm gần đây, hầu hết các phương tiện truyền thông trong nước đều tăng cường mục kinh tế, góp phần nâng cao kiến thức của người dân chẳng những xung quanh vài vấn đề sôi nổi cả nước (như việc gia nhập WTO, vụ cá ba sa) mà còn về nhiều vấn đề khác nữa. Nhiều kinh tế gia Việt Nam (trong lẫn ngoài chính phủ) được phỏng vấn thường xuyên, và viết nhiều bài bình luận xây dựng, chuẩn mực. Tuy nhiên, những bài phỏng vấn và ý kiến đóng góp trên các phương tiện thông tin đại chúng, dù có lợi ích và đáng hoan nghênh, không thể thay thế những phân tích kỹ thuật, cặn kẽ, để tính toán những con số chính xác mà nhiều điều luật, chính sách, phải có.

Phân tích kinh tế có thể được chia làm ba tầng. Tầng cơ bản là những phân tích kỹ thuật cực độ, dành cho chuyên gia, đăng trong các tạp chí chuyên môn, hoặc những báo cáo của các viện nghiên cứu, các trường đại học. Tầng kế đó là các sách giáo khoa, sách tham khảo cho sinh viên, nhất là ở cấp cao học, tiến sĩ. Tuy những giáo trình này cũng nặng tính kỹ thuật, hàn lâm (như các nghiên cứu cơ bản) không ai kỳ vọng ở chúng những phát giác mới. Bản chất của giáo trình là tổng kết và hệ thống hóa kiến thức thu thập từ các nghiên cứu cơ bản và đã qua kiểm nghiệm. Tầng thứ ba là những tài liệu có tính chính sách (công lẫn tư), ứng dụng hơn là lý thuyết. Tuy nhiên, mỗi tầng, muốn vững chắc, phải được xây dựng trên tầng dưới nó. Đặc biệt, mọi phát biểu dù chỉ có tính phổ thông, cho công chúng, đều cần dựa vào những nghiên cứu cơ bản. Quan trọng hơn, những tính toán cụ thể cho chính sách, luật lệ, phải nhất quán với (và tận dụng) những nghiên cứu cơ bản, nếu không thì những chính sách và luật lệ ấy chỉ là ngẫu hứng, tùy tiện, thậm chí phản hiệu quả và mâu thuẫn.

Phải nhìn nhận rằng làm nhà kinh tế Việt Nam lúc này không phải dễ. Không ai thực sự “yêu nghề” mà không muốn làm những nghiên cứu thâm sâu. Song những nghiên cứu như thế rất tốn thời giờ, công của, và nhiều phụ trợ khác. Đối trọng với ước muốn ấy là thiên chức “trí thức công” (public intellectual) mà xã hội mong mỏi ở nhà kinh tế: đóng góp ý kiến về những vấn đề đương thời, nhiều khi không hoàn toàn trong chuyên môn của họ. Sự giằng co này không phải mới, và không chỉ ở nước ta. Ở các quốc gia tiền tiến, vai trò “trí thức công” thường gây nhiều tranh luận, và tùy vào truyền thống trí thức của xã hội liên hệ. Ở nước ta, khi mà dân trí còn chưa cao thì trách nhiệm của trí thức nói chung là còn nặng nề, bị nhiều giằng xé hơn nữa.

Các chuyên gia (nhất là thuộc những ngành trực tiếp liên hệ đến chính sách) trong một nước mà trí thức tương đối còn hiếm, sẽ là “chỗ đặt” của nhiều (lắm khi quá nhiều!) kỳ vọng xã hội, và do đó phải vô cùng cẩn trọng khi phát biểu. Đàng khác, một nhà khoa học – nhất là khoa học xã hội như kinh tế – không thể chỉ phát biểu cho công chúng mà còn phải thật sự “sống” trong chuyên môn của mình để tránh tụt hậu trong kiến thức, xơ cứng trong lập luận, lão hoá trong tư duy. Người ấy phải luôn cập nhật kỹ năng, và làm gương cho các bạn trẻ trong sinh hoạt và tác phong nghề nghiệp. Tìm một vị trí tối ưu giữa tháp ngà hàn lâm và thực tế đời sống là một thách thức không nhỏ.

III. Công khai, độc lập, và đa dạng

Nếu nhìn nhận là chúng ta cần nhiều nghiên cứu dầy chiều sâu, chuẩn mực lý thuyết, cực độ kỹ thuật, thì câu hỏi kế tiếp sẽ là: cơ chế nào có thể phát huy những nghiên cứu như vậy?

Công khai

Hiển nhiên, người làm chính sách luôn luôn cần những phân tích, phúc trình nội bộ (có thể là “mật”) từ các cơ quan chính phủ, các viện nghiên cứu, v.v. Mặt khác, như mọi ngành khoa học, kinh tế học chỉ có thể tiến triển trong tinh thần trao đổi xây dựng, khách quan. Do đó, để bảo đảm chất lượng các phân tích làm nền tảng cho chính sách, luật lệ, cần nghĩ đến việc “bạch hoá” chúng (trong chừng mực an ninh quốc gia cho phép).

Trao đổi công khai những phân tích về các vấn đề hệ trọng giữa chuyên gia nhà nước và ngoài chính phủ sẽ có lợi cho cả hai bên. Một mặt, cộng đồng khoa học có thể đánh giá lập luận, phương pháp tính toán của các chuyên gia nhà nước. Mặt khác, các chuyên gia nhà nước cũng cần lấy cảm hứng và tìm tham khảo từ những nghiên cứu phát xuất từ các đại học, các viện nghiên cứu độc lập, các nhà kinh tế ngoài hệ thống công quyền. Không ai có thể biết tất cả, nghĩ ra mọi tình huống, kịch bản, nhất là khi hầu hết lãnh vực học thuật đều không ngừng chuyên biệt hoá, tình hình thế giới ngày càng phức tạp, như ngày nay.

Tiến trình trao đổi giữa các chuyên viên trong và ngoài chính phủ cũng đóng góp vào bầu không khí dân chủ, gây hưng phấn cho xã hội nói chung và giới học thuật nói riêng.

Độc lập

Khối lượng nghiên cứu thật sự khách quan phải đến từ nhiều nguồn, và gồm một số đáng kể công trình của những nhà nghiên cứu chọn lựa đề tài với chủ đích thuần tuý khoa học. Nói cách khác, ngoài những báo cáo, phúc trình từ các bộ, các viện, các ngân hàng, các tổ chức quốc tế, còn cần những nghiên cứu mà đề tài và mục đích không theo đơn “đặt hàng” của bất cứ ai và không chỉ nhằm cho việc sử dụng của tổ chức hoặc cơ quan nào đó.

Không bị chi phối bởi yêu cầu thực dụng tức thời, hoặc bức xúc của một giai đoạn chính trị nhất định, những nhà nghiên cứu hoàn toàn độc lập mới có thể đào sâu các vấn đề thật căn bản, so sánh những cách đổi mới thể chế, phát hiện những kịch bản tiến hoá của đất nước. Chỉ cần ngẫm nghĩ ít lâu là có thể kê ra hàng trăm đề tài như thế.

Tất nhiên, để tự do trong chọn lựa đề tài và phương pháp, nhà nghiên cứu không thể lệ thuộc vào sự tài trợ của nhà nước hoặc doanh nghiệp. Nói cách khác, phải đa dạng hoá cơ chế xã hội khuyến khích những công trình nghiên cứu độc lập, chẳng hạn như dựa vào chất lượng và số lượng nghiên cứu để thăng thưởng, cho vào biên chế, v.v.

Nói cho cùng, nghiên cứu là thú vui tinh thần trước tiên cho nhà khoa học. Phần thưởng vô giá của khoa học là sự khám phá. Sẽ là ảo tưởng nếu nghĩ rằng có quốc gia nào “nuôi” các nhà khoa học để họ muốn làm gì thì làm. Nhà khoa học phải có can đảm không … xin tiền nhà nước. Mặt khác, trong một xã hội lành mạnh, văn minh, nhà khoa học có thể sinh nhai bằng những nghề gần gũi với nghiên cứu, như dạy học, viết sách, diễn thuyết… Và xã hội phải quan tâm để là như thế.

Đa dạng

Kinh tế học có nhiều trường phái. Không kể đến sự khác nhau giữa kinh tế học Mác và kinh tế học gọi là “thị trường”, ngay trong kinh tế học thị trường cũng có nhiều chi phái mà “tân cổ điển” chỉ là một. Chúng ta cần nghe những tiếng nói khác nhau.

Hãy lấy làm ví dụ hai cụm đề tài cực kỳ quan trọng: (a) vai trò của nhà nước, và (b) chính sách kinh tế đối ngoại. Như ai cũng biết, ý kiến trong giới kinh tế có thể rải từ quan điểm cho rằng vai trò nhà nước càng nhỏ càng tốt, đến quan điểm cho rằng nhà nước phải là khống chế trong kinh tế, nếu không ở khâu sở hữu thì cũng ở khâu điều tiết, chỉ đạo. Phải tạo một không khí tranh luận lành mạnh, không giáo điều, không có “vùng cấm”, để những ý kiến này được đối chiếu, thẩm định. Về mặt kinh tế đối ngoại cũng thế: có nhiều trường phái rất khác nhau về chính sách bảo hộ, về sự nên-hay-không kiểm soát các luồng vốn nước ngoài, v.v.

Sự đa dạng ấy, với những lập luận lắm khi quyết liệt, song ở trình độ khoa học cao, chưa thấy có trong giới kinh tế Việt Nam (so sánh, trong khu vực, với giới kinh tế Hàn Quốc, chẳng hạn, đừng nói chi đến các nước mà sinh hoạt trong giới kinh tế rộn rịp hơn ta nhiều lần, như Ấn Độ, Trung Quốc…). Chính vì có nhiều tiếp cận, nhiều trường phái khác nhau, ta cần khuyến khích những “lò suy nghĩ” (think tank) vô vị lợi, ngoài chính phủ, và nhất là (theo kinh nghiệm nhiều nước) nghiên cứu trong các đại học. Đây là một vấn đề chỉ thực hiện được trong một môi trường nghiên cứu công khai (công trình được đăng trên các tạp chí kinh điển, các hội thảo chuyên môn, mở cửa cho mọi người).

Tất nhiên (ít ra là trong tương lai gần) chúng ta không thể đòi hỏi Việt Nam sản xuất những “siêu” kinh tế gia, mở đường cho cả một học thuyết như Karl Marx, Adam Smith, hoặc thậm chí những nhà kinh tế có ảnh hưởng quốc tế cỡ như Raul Prebisch, Amartya Sen. (Đàng khác, những vị ấy là chung của nhân loại, không cớ gì ta phải đòi có người mang quốc tịch Việt Nam!) Tuy nhiên, so với vài quốc gia trong vùng như Hàn Quốc, Ấn Độ, chúng ta cũng rất thiếu những phân tích vĩ mô sâu sắc, có tính nền tảng về kinh tế, xã hội, và vai trò của chính phủ. Nhưng, theo nhận xét của người viết bài này, có lẽ sự thiếu sót nổi bật nhất là những nghiên cứu vi mô trình độ cao, sử dụng những lý thuyết và kỹ thuật phân tích (kinh lượng học) hiện đại nhất.

IV. Ta phải làm lấy

Phải nhìn nhận rằng chúng ta đã nhận được nhiều giúp đỡ quý báu của các nhà kinh tế ngoại quốc (thường là với các cộng sự viên người Việt) do các nước bạn, các tổ chức quốc tế chủ xướng và tài trợ. Và chúng ta thực tình mong mỏi sẽ được họ nghiên cứu nhiều hơn nữa. Câu hỏi sẽ là: Tại sao chúng ta không “khoán” cho các nhà kinh tế nước ngoài (hay giao cho họ một phần lớn) việc nghiên cứu nước ta?

Câu hỏi này hầu như mọi nước nhỏ, kém phát triển, đều nghĩ đến. Hiển nhiên, kinh tế học là một khoa học, và phương pháp khoa học thì đâu cũng thế, không biên giới, không mang tính dân tộc chủ quan. Tuy nhiên trên thực tế nghiên cứu thì có hai vấn đề vẫn rất “chủ quan”, đó là (a) chọn lựa đề tài, và (b) mức quyết tâm tìm kiếm giải pháp đặc thù cho một quốc gia, vì lợi ích quốc gia ấy. Phần lớn những báo cáo, phúc trình của các chuyên gia nước ngoài chỉ ở mức “chung chung”, và nhằm đáp ứng “đơn đặt hàng” của các tổ chức quốc tế, hay của một nước khác (thường là nhằm mục đích tìm hiểu môi trường đầu tư cho họ, hoặc khả năng hấp thụ viện trợ của Việt Nam). Nhìn từ phía ta, chúng không phải luôn luôn là những vấn đề đầu “bảng bức xúc” của Việt Nam.

Một thực tế nữa là đa số các chuyên viên ngoại quốc đã nghiên cứu nhiều nước khác trước khi họ đến Việt Nam (nếu không thì họ lại quá thiếu kinh nghiệm về phát triển!), do đó không khỏi nhìn Việt Nam qua lăng kính kinh nghiệm mà họ có ở nước khác. Phần lớn kinh nghiệm này là rất quý, song những khuyến cáo của họ, trớ trêu thay, không tận dụng những tiềm năng đặc thù của nước ta. Họ cũng khó đề cập đến những mặt liên quan đến địa chính trị, hay địa kinh tế, có tính nhạy cảm trong bang giao quốc tế (có khi dính líu đến chính nước họ!).

Chúng ta chưa phát triển, song không giống nước chưa phát triển ở châu Phi, chẳng hạn. Chúng ta chuyển đổi, nhưng khác chuyển đổi ở Trung Quốc hoặc các nước Đông Âu. Chúng ta ở Đông Nam Á, nhưng không giống Thái Lan, Indonesia, Philippines, vv. Chúng ta khác họ về tiềm lực lẫn nhược điểm, và một phần (lớn?) tiềm lực và nhược điểm này có cội nguồn trong căn tính dân tộc, cơ cấu xã hội, và lịch sử của chúng ta. Người nước ngoài có thể thấy vài tiềm lực và nhược điểm mà chúng ta không thấy, song chúng ta cũng có thể thấy nhiều cái mà người nước ngoài không thấy, nhất là những tiềm lực xuất phát từ cái “hồn” của dân tộc. Nghe thì có vẻ lãng mạn, huyền bí, nhưng, nghĩ lại đi, trước ngày đổi mới, bao nhiêu nhà kinh tế nước ngoài đã tiên đoán sự thành tựu của chúng ta trong mấy chục năm qua, thậm chí tiên đoán là chúng ta có khả năng đổi mới?

Và, nên để ý, giáo trình kinh tế học mà những chuyên gia ngoại quốc đã tiếp thu ở các trường đại học của họ (mà đa số là thuộc hàng đầu trên thế giới, nên nhìn nhận như vậy) thường là nặng về tân cổ điển, xoay quanh cá nhân (thay vì tập thể), trọng điểm là thị trường (trong bối cảnh tây phương), mà nhược điểm là rất ít quan tâm đến các yếu tố thể chế, xã hội, và lịch sử. Song chính những yếu tố này lại có thể là quan trọng nhất để tìm hiểu và đề nghị giải pháp cho nước ta.

Nếu chúng ta cần đến các nhà kinh tế nước ngoài thì trước hết chúng ta nên biết cách đặt vấn đề để họ nghiên cứu, điều tra cho ta. “Đặt vấn đề” không có nghĩa “sần sùi” là “đặt hàng”, song là gợi cho họ những đề tài vừa lý thú cho họ vừa có ích cho ta. Ngoài những đề tài tổng quát (như tăng trưởng, lạm phát), hoặc những đề tài cần cho một chính sách cụ thể (như thuế má), còn có những đề tài mà chỉ những người tha thiết đến tương lai dân tộc (kể cả những đề tài liên quan đến cải cách thể chế) mới thực sự “bức xúc”. Tương tự, ngoài một số vấn đề ở cấp xí nghiệp có thể dùng những bài học rút ra trực tiếp từ các mô hình có sẵn (“off-the-shelf”) ở nước khác, còn có những vần đề trong từng khu vực kinh tế (công, nông nghiệp, dịch vụ, tài chính v.v) cần những nghiên cứu riêng cho Việt Nam.

V. Khả năng tiếp thụ của người làm chính sách và vai trò của báo chí

Dù có những nghiên cứu thâm sâu về Việt Nam cũng không bảo đảm là chính sách kinh tế của ta sẽ tốt hơn. “Chất lượng” tối hậu của chính sách là tuỳ thuộc vào các nhà lãnh đạo mà, cũng nên thông cảm với họ, dù có đánh giá cao các nghiên cứu kinh tế, cũng bị ràng buộc bởi những vấn đề khác, có những mục tiêu khác ngoài kinh tế, mà nhà kinh tế thuần tuý không nghĩ đến.

Không ai ngây thơ đến độ tin rằng chính sách kinh tế của một quốc gia (ngay quốc gia đã phát triển) là luôn luôn dựa trên những phân tích khoa học, khách quan. Trong quy trình làm chính sách, bao giờ yếu tố chính trị, xã hội (và quốc phòng nữa) cũng là quan trọng – có khi là yếu tố quyết định – và sẽ được hội nhập ở một khâu nào đó. (Lại nữa, không luật lệ, chính sách nào tránh được khâu “cò kè bớt một thêm hai” giữa các thành phần, quyền lực khác nhau trong xã hội.) Dù vậy, trước đó, các nhà kinh tế phải cố gắng tận lực – và được có cơ hội – đưa ra những phân tích khách quan, khoa học, những dự báo cho từng kịch bản chính sách. Sau đó, nếu các chính trị gia (chính phủ, quốc hội…) có quyết định không dựa trên những phân tích ấy thì là chuyện khác, và những người này phải chịu trách nhiệm trước nhân dân, tổ quốc.

Một khó khăn rất lớn cho những người nghiên cứu kinh tế Việt Nam là sự thiếu thốn thống kê chính xác và kịp thời, cũng như sự nhập nhằng trong bộ máy làm chính sách kinh tế (giữa các bộ, giữa trung ương và địa phương, v.v.). Sự thiếu minh bạch về các đòn bẩy quyền lực sẽ ngăn cản những đề nghị cụ thể liên hệ đến những ràng buộc và hạn chế thể chế.

Cũng xin có vài hàng về vai trò của báo chí. Như đã nói, báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá và thúc đẩy nghiên cứu qua các bài phỏng vấn chuyên gia Việt Nam và quốc tế. Tất nhiên, một cuộc phỏng vấn thành công, có ích cho bạn đọc, tuỳ thuộc ở câu trả lời, mà câu trả lời lại tuỳ thuộc vào câu hỏi! Nhà báo cần chuẩn bị thật kỹ câu hỏi để “mớm” cho chuyên gia làm sáng những khía cạnh thiết thực nhất của một vấn đề. Tránh những câu hỏi “chung chung”. Và một điều quan trọng nữa: Không phải bất cứ “giáo sư”, “tiến sĩ” nào cũng là chuyên viên về bất cứ vấn đề gì: một kỹ sư không phải là một nhà kinh tế, một nhà kinh tế không nhất thiết tinh thông xã hội học, thậm chí một nhà kinh tế vi mô chưa chắc là rành chuyện hối suất, ngân hàng, v.v.. Không chọn lựa chuyên viên đúng ngành để phỏng vấn, lắm khi báo chí chỉ gây hoang mang thêm cho công luận.

Thêm nữa, đọc các tạp chí kinh tế chuyên ngành trên thế giới sẽ phát giác hiện tượng đáng hổ thẹn này: Ngay các quốc gia láng giềng của chúng ta (như Thái Lan, Indonesia) cũng có nhiều nghiên cứu thâm sâu bởi các nhà kinh tế của họ về nước họ, hơn hẳn chúng ta! Cho đến nay, số bài về kinh tế Việt Nam trên các tạp chí hàng đầu thế giới mỗi năm ít khi hơn số ngón trên một bàn tay. (Chính phát giác này là nguyên do thúc đẩy người viết bài mà bạn đang đọc!) Hiện tại, Việt Nam hầu như chưa có tạp chí kinh tế (nói rộng, gồm cả các ngành “lân cận” như tài chính, quản lý, kinh doanh, v.v) vào hạng “quốc tế” – nghĩa là, đa số bài đều trong đó đều có thể được vài tạp chí uy tín trên thế giới nhận đăng, hoặc có sự cộng tác thường xuyên của các tác giả nước ngoài. So với vài quốc gia trong vùng như Singapore, Hàn Quốc (đừng nói chi đến Ấn Độ, Trung Quốc, thậm chí Bangladesh!)…nước nào cũng có ít nhất 4-5 tạp chí như vậy, thì đây không thể là một tình trạng làm Việt Nam hãnh diện.

Cuối cùng, phải nhận rằng “ta cần biết ta hơn nữa” không chỉ để hoạch định chính sách tăng trưởng, điều tiết và ổn định kinh tế, hay đối ngoại, bởi vì, tuy chỉ là một (trong nhiều) thành tố của công cuộc phát triển, nghiên cứu là biểu hiện, là sinh hoạt căn tính của một xã hội văn minh. Phát triển không chỉ là tạo một đời sống vật chất sung mãn, nó còn là văn minh trong suy nghĩ, trong quản lý, trong chính sách. Nói gọn: “ta cần biết ta hơn nữa” chính vì tiền đồ của dân tộc.

 

Trần Hữu Dũng

Sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân

Featured Image: Ferry Vermeer

 

Vốn thích nhạc không lời nhưng đôi khi tôi vẫn nhớ về một câu hát cũ: “Anh ở đầu sông, em cuối sông. Chung nhau dòng nước Vàm Cỏ Đông…” Lãng mạn sao, những cặp tình nhân cùng uống chung một dòng nước. Và hạnh phúc thay những kẻ có thể sống cả đời bên một con sông êm đềm, qua những mùa lúa chín không tiếng súng, những trưa hè có thể nép mình dưới bóng các rặng cây. Nhưng đó là chuyện cổ tích.

Lịch sử cận đại của người Việt Nam đã diễn ra trong khói bom và tiếng nổ của đạn pháo. Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ chia cắt đến tận lòng sâu của mỗi gia đình. Sự nhầm lẫn, cự bất khả tri không chỉ xẩy ra giữa hai nền văn hoá Đông-Tây mà còn xẩy ra ngay giữa lòng dân tộc Việt, giữa các thành viên trong một gia đình, một dòng họ, giữa miền Bắc và miền Nam, giữa bên thắng cuộc và bên thua cuộc, giữa người trong nước và những người sống ngoài biên giới… Tóm lại, những người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông. Những con sông thiếu vắng những cây cầu
Khoảng cách giữa người với người có thể còn dài rộng hơn sông, sâu hơn vực thẳm, thế nên, dù trên địa hạt văn chương, tôi coi Albert Camus cao hơn hẳn Jean Paul Sartre, tôi vẫn phải công nhận câu nói nổi tiếng của Sartre là một nghiệm sinh có tính nhân loại, “Tha nhân là địa ngục của ta.”

Đây là kinh nghiệm của chính tôi

Năm 1994, tôi sang Pháp lần đầu, được một nhóm “Việt kiều yêu nước” đón tiếp. Có lẽ tên ấy được đặt ra khi nhóm này tham gia vào phong trào chống chiến tranh và người cầm đầu nhóm ấy đã từng là phiên dịch cho ông Lê Đức Thọ trong các hội nghị đàm phán hưu chiến ở Paris. Khoảng năm 1990, cũng nhóm này đứng lên lấy chữ ký của Việt kiều trí thức ở Mỹ, Đức, Úc và Pháp trong bản kiến nghị yêu cầu nhà nước và đảng cộng sản Việt Nam mở rộng dân chủ. Sau bản kiến nghị ấy, họ bị cấm về nước một thời gian khá dài, thậm chí còn bị gọi là “các phần tử phản động”.
Như thế, phải hiểu là giữa nhóm Việt kiều này với tôi có chung mục đích tranh đấu cho quyền sống của người dân Việt Nam. Có lẽ cũng vì lý do ấy, họ đón tôi, ít nhất đấy là điều tôi nghĩ. Cuộc đón tiếp diễn ra nồng nhiệt, dường như mang mầu sắc bạn hữu. Tuy nhiên, chỉ một thời gian sau, tôi nhận thấy giữa họ với tôi có rất nhiều điểm bất đồng, đặc biệt là sự nhìn nhận về cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Tôi tự nhủ: “Người ta sống trên đời, thường tụ thành bè, còn bạn là thứ quý hiếm, nó còn quý hiếm hơn tình yêu vì không có bệ đỡ tình dục. Tình bạn đòi hỏi một sự cảm thông sâu sắc, những phẩm chất tương đồng, và cơ duyên để có thể cùng nhìn về một hướng, cùng đi theo một ngả. Vì lẽ đó, tình bạn không thể có được một cách dễ dãi. Không có thứ tình cảm nào không cần thử thách, cho dù là tình yêu, tình bạn hay tình đồng đội, tất thảy đều cần phải nung qua lửa mới biết vàng thau.”

Nghĩ thế, tôi chọn thái độ im lặng, lảng tránh các cuộc tranh cãi, vì nếu không là bạn, hà tất phí nước bọt để đôi co?

Tôi biết rõ rằng, đối với nhóm Việt kiều này cuộc chiến tranh chống Mỹ là cần thiết, là niềm kiêu hãnh, là đài vinh quang của dân tộc Việt Nam. Đối với tôi, đó là sự nhầm lẫn lớn nhất trong lịch sử, là cuộc chiến tranh ngu xuẩn nhất, tàn khốc nhất đã xảy ra trong một tình thế đen trắng lẫn lộn, các khái niệm bị đánh tráo, kẻ tham gia cuộc chiến ở phía Bắc nhầm lẫn do trói buộc bởi ngôn từ, kẻ tham chiến ở phương Nam bị cuốn vào dòng chảy của cuộc Chiến tranh Lạnh, và cả hai bên đều bị đặt vào thế đã rồi.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ là bài học đau đớn nhất, nhục nhã nhất cho dân tộc Việt Nam, mà kẻ chịu trách nhiệm không chỉ là người Mỹ mà còn là chính những người lãnh đạo cộng sản phía Bắc. Trong cuộc chiến tranh ấy, dân tộc Việt tự biến mình thành vật đệm giữa hai toa tầu, là đám lính đánh thuê cho hai hệ thống tư tưởng trái chiều đang tiến hành cuộc chiến tranh Lạnh. Trong suốt một thập kỷ, nước Việt Nam đã thực sự biến thành cái cối xay thịt khổng lồ nhất trong lịch sử của toàn thể loài người. Vì lẽ ấy, theo tôi, cả người thắng lẫn người thua phải biết sám hối, và nếu muốn lật trang cho lịch sử đất nước, trước hết kẻ thắng phải biết câm mồm lại đừng huyênh hoang nữa; còn kẻ thua cũng phải biết câm mồm lại, thôi chửi rủa, cả hai phía không nên tiếp tục đào bới cái thây ma lên mà ngửi. Nếu không đủ can đảm nhìn nhận vấn đề như nó vốn thế, họ chỉ còn là đám thú rừng bị lọt xuống một cái bẫy của lịch sử và không bao giờ có thể nhẩy lên khỏi hố sâu.

Năm 2005, tôi trở lại Pháp

Nhóm “Việt kiều yêu nước” chủ động mời tôi đến ăn cơm tối với họ để trao đổi tình hình. Tôi nhận lời. Bữa cơm ấy diễn ra ở một quán ăn thuộc quận 13. Trước khi đến Paris, tôi đã ở Turin (Ý) một tuần. Trong tuần lễ đó, khá nhiều báo Ý đã phỏng vấn tôi và đã đăng bài tức khắc. Một trong số các bài báo ấy, có đề tựa “Mười triệu người chết trong cuộc chiến Việt Nam”.

Trong các cuộc phỏng vấn tại Turin, tôi đã kể lại hai điều:

– Thứ nhất, khi làm người viết thuê cho các ông tướng, tôi được nghe họ nói với nhau: Chúng ta chỉ công bố con số thật sự khi người Mỹ bồi thường chiến tranh. Như thế, con số phía Mỹ đưa ra (khoảng 5 triệu tử vong) lẫn con số chính quyền Việt Nam đưa ra (hai triệu rưỡi) đều là số sai sự thật.

– Thứ hai, chỉ khi đến Turin tôi mới biết lính các nước chết ra sao và nhờ có sự so sánh ấy, tôi mới biết thân phận người lính và người dân Việt Nam đau khổ đến mức nào. Năm 2005, cuộc chiến tranh đang xảy ra ở Iraq. Báo mỗi ngày đều đăng tin bao nhiêu lính Mỹ, bao nhiêu lính Iraq tử vong. Nếu con số đó chạm tới năm chục đã khiến các nhà báo làm rộn lên, chất vấn tổng thống. Khi số tử vong chạm đến số 100 thì sự căng thẳng trong chính trường đã khiến Nhà Trắng điên đầu. Trong chiến tranh Việt-Mỹ, mỗi lần B52 bay qua, chỉ hai ba phút, dân thường, thanh niên xung phong chết hai trăm, ba bốn trăm, thậm chí nơi đông hơn sáu trăm người nhưng không có một dòng trên báo, không một câu trên đài phát thanh. Không ai hay biết, kể cả người Việt lẫn người nước ngoài.

Tôi nói với các nhà báo Ý: “Tới tận năm nay, gần sáu mươi tuổi tôi mới thấm thía sự khác biệt giữa kiếp người. Nhờ đọc báo phương Tây, tôi mới biết là người Mỹ và người Iraq chết như người, chết theo kiểu người. Chúng tôi, những người Việt Nam, chúng tôi chết như kiến, chúng tôi chết như ruồi, chúng tôi chết như lá khô rụng, cái chết của chúng tôi hoà lẫn bùn đen, và tan trong câm lặng.”

Vì ở Turin có những Việt kiều liên hệ chặt chẽ với nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris và gửi báo cho họ nên trong bữa cơm tối hôm ấy, tôi bắt buộc phải bàn cãi với họ về chủ đề chiến tranh Việt-Mỹ. Tôi đã thuật lại cho họ nghe sự tổn thất to lớn của dân tộc khi những người lãnh đạo mắc chứng vĩ cuồng. Rất nhiều trận xảy ra khi lực lượng trinh sát thăm dò địa hình địa vật không kỹ, bộ phận hậu cần chuẩn bị khí tài chưa đủ nhưng cấp chỉ huy ham lập thành tích nên cứ đẩy lính ra chiến trường, kết quả là đại bại. Trong khi ở chiến trường xác lính chết ngập suối, nước không chảy được, chim cắt chim kền kền ăn thịt no đến mức không bay lên nổi, lệnh ở Hà Nội vẫn tiếp tục giục tấn công. May mắn là còn có những vị tướng biết thương dân, thương lính, khóc đỏ mắt, quyết định rút quân và làm báo cáo giả để gỡ tội.

Hồi ấy, tổng tư lệnh của cuộc chiến là Lê Duẩn, đã đưa ra khẩu hiệu:

“Dân tộc chúng ta là dân tộc anh hùng, chỉ có thắng không có thua.
Quân đội chúng ta là quân đội anh hùng, chỉ có tiến không có lùi.”

Điều đó có nghĩa: Chỉ tiến công, không phòng thủ!

Xưa nay, trong lịch sử ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc, bao giờ chúng ta cũng lùi về rừng núi để chờ thời gian mài mòn lòng kiêu ngạo lẫn ý chí quân địch, cũng là để khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt quật ngã chúng, cũng là để củng cố quân đội rồi chờ thời cơ thuận lợi mới huy động binh lính và dân chúng tổng tấn công. Khẩu hiệu của ông Lê Duẩn đưa ra là một sự sáng tạo thuần tuý, một ý thơ bay bổng, xuất phát từ tham vọng và lòng kiêu mạn cộng sản. Nhưng thơ phú là thứ chỉ để ngâm ngợi khi gió mát trăng thanh, thơ mà trà trộn với chiến tranh nó biến thành núi xương sông máu.

Đám tướng lĩnh không dám tuyên bố thẳng thừng, nhưng đều hiểu ngầm rằng lãnh tụ của họ là một kẻ vĩ cuồng.

Nhóm “Việt kiều yêu nước” ở Paris nghe tôi nói xong thì hai nhân vật chủ chốt phản ứng dữ dội. Ông X bảo:

– Mục tiêu biện minh cho phương pháp. Muốn thắng cuộc trong chiến tranh thì phải chấp nhận tất cả.

Ông Y phản ứng với con số Mười triệu:

– Con số đó không thật. Ở nước Pháp chúng tôi có các biện pháp khoa học về dân số để chứng mình là con số ấy sai. Làm sao chị có thể nghe theo mấy thằng tướng ngu ấy được?

Tôi im lặng không đáp. Nhưng hôm sau, tôi có nhờ ông Phan Huy Đường, lúc đó còn dịch sách của tôi, nói lại với ông Y:

– Nhờ Đường nói với ông bạn của Đường là về Việt Nam chớ mở mồm mà bảo mấy ông tướng là ngu. Bởi vì, rất nhiều hạ sĩ quan thời đó (trung uý, đại uý, thiếu tá…) biết rõ rằng sinh mạng họ được bảo tồn là nhờ những ông tướng thực sự thương lính và không ham thành tích như tướng Vũ Lăng. Bây giờ, nếu không giải ngũ họ cũng đã leo lên đại tá hoặc thiếu tướng. Nếu ông Y mở mồm bảo tướng của họ là thằng ngu hẳn họ sẽ cho một báng súng vào đầu, hiền hoà nhất họ cũng khạc vào mặt.

Đấy là phản ứng duy nhất của tôi. Trong thâm tâm, tôi quyết định chia tay

Tôi nghĩ, đám người này cần cuộc chiến tranh chống Mỹ như người đàn bà cần son phấn. Giữa họ với ta chẳng còn điều gì đáng nói. Một cuộc chia tay vĩnh viễn là điều hợp lý hơn cả. Không cần kiệt xuất thông minh, chỉ cần chịu khó quan sát sẽ thấy ngay rằng cộng đồng người Việt ở nước Pháp là một cộng đồng không bản sắc, sống co cụm, một bầy thỏ ngoan ngoãn đối với chính quyền. Họ không gây ra các vụ lộn xộn như người da đen và người Arab theo đạo Hồi, nhưng họ cũng chẳng có tiếng nói, chẳng có một gương mặt nào trên các diễn đàn quyền lực. Vì bản chất nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó nên họ thành công ở mức trung bình, trở thành kỹ sư, bác sĩ, nha sĩ, giáo viên đã là giấc mơ tột đỉnh. Hội nhập vào xã hội Pháp chưa lâu, sự tự tin vào bản thân chưa đủ, họ lại bị ám ảnh bởi thân phận lớp người Việt Nam nhập cư trước họ, những người lính thợ bị thực dân cưỡng bức rời quê hương sang Pháp phục vụ tại một số nhà máy làm thuốc súng để thay thế cho các công nhân Pháp ra chiến trường.

Năm 1937, để dự phòng chiến tranh, bộ trưởng Bộ Thuộc Địa và Quân Đội (ministre de la Colonie et de la Défense) Georges Mandel dự tính tuyển 80.000 người Đông Dương. Tháng 6 năm 1940 đám thanh niên Việt Nam được dẫn đến hải cảng Pháp gồm: 10.750 người trung kỳ, 7.000 người miền Bắc, 2.000 người miền nam. Đám lính thợ này đã bị đối xử như những con vật, bị dồn vào sống trong những khu nhà tồi tàn, không điện và thiếu nước, không nơi vệ sinh, không lò sưởi và thức ăn không đủ nửa khẩu phần. Mùa đông, những kẻ khốn khổ ngủ trên sàn, đại tiểu tiện ngay bên ngoài cửa, người nọ dẫm vào phân người kia. Đói khát, họ phải đào rễ củ và hái rau dại về ăn. Cái sự thật tàn nhẫn này bị vùi trong câm lặng. Cho đến đầu thế kỷ XXI, mới có vài nhà báo Pháp lên tiếng. Sau đó, Bernard Kouchner, vốn là một ngôi sao cánh tả nhưng sau thất bại của Ségolen Royal trong cuộc tranh cử 2007, đã nhận lời làm bộ trưởng bộ ngoại giao cho chính phủ Sarkozy mới chính thức lên tiếng xin lỗi vì: “Nước Pháp đã đối xử với những người lính thợ Việt Nam như đối với súc vật.”

Trong thực tiễn, nước Pháp đã đối xử với đám lính thợ Việt Nam còn tệ hơn súc vật bởi khi cưỡng chế thanh niên Việt Nam sang Pháp, họ dồn đám người này xuống hầm tầu còn tầng trên, thoáng mát hơn thì để dành cho… những con bò. Cái kinh nghiệm tồi tệ ấy được cấy trong tim như một quá khứ sầu thảm, cộng đồng người Việt không thể tránh khỏi mặc cảm của những kẻ vừa là dân nhập cư, vừa mang nhãn hiệu “Được lôi ra từ vùng đất thuộc địa”. Thế nên, cuộc sống tinh thần của họ dường như đột ngột khởi sắc, bừng bừng ánh sáng khi cuộc chiến tranh Việt-Mỹ xẩy ra. Tại sao?
Dễ hiểu thôi, tinh thần „Bài Mỹ“ là chất xi-măng gắn kết một số đông quốc gia trên thế giới, không chỉ các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa nhưng ngay cả các nước phương Tây. Hành vi của nước Mỹ không chỉ gợi lên lòng căm thù nhưng kèm theo đó cả sự sợ hãi. Nếu có tiền lệ một nước nhược tiểu bị Mỹ chà nát thì sẽ đến lượt các nước khác theo thành ngữ, “Không bao giờ có lần thứ nhất, lần thứ hai mà lại không có lần thứ ba”.

Vả chăng, về mặt lý, cuộc chiến này không thể biện minh, “Không một người Việt Nam nào mang bom sang giết người Mỹ.”

Dù cộng sản hay không cộng sản thì sự thực là không có một người Việt Nam nào cầm dao hoặc cầm súng sang tận nước Mỹ để giết một người Mỹ, hoặc ngay đến một con bò trong trang trại Mỹ cũng không.

Vì thế, lương tâm nước Mỹ phải thức tỉnh. Các vụ biểu tình phản đối chiến tranh trước toà Nhà Trắng của Mỹ điệp với các cuộc biểu tình trước sứ quán Mỹ tại các nước khác. Tiếng hát và ngọn lửa tự thiêu của trí thức Mỹ đốt nóng cả châu Mỹ La-tinh và châu Âu.

Vào thời điểm ấy, người Việt Nam nhập cư chống chiến tranh được hưởng một sự ưu đãi vô tiền khoáng hậu. Đi đến đâu họ cũng được thăm hỏi, giúp đỡ, được coi là người của “một dân tộc anh hùng”. Và, trên các diễn đàn chống chiến tranh, đại diện của “tổ chức Việt kiều yêu nước” được xuất hiện bên cạnh những nhân vật quan trọng bản xứ mà nếu không nhờ ân sủng của cuộc chiến này, không bao giờ họ có cơ hội và có tư thế tiếp xúc. Để ví von, có thể nói rằng: Những con chim vốn nép mình trong bóng tối nhờ ánh đạn lửa mà được nhô đầu ra và há mỏ cất tiếng kêu.

Thế nên, họ cần cuộc chiến tranh Việt-Mỹ.

Lòng ích kỷ, cái kiêu ngã của con người quả là vô giới hạn. Những kẻ sống ở một phương trời, cần máu đồng bào phải đổ ở một phương trời khác để tô điểm cho cuộc sống tinh thần của chính mình.

Chiến tranh thật đẹp khi nó được tạo bằng máu xương kẻ khác!

Từ đây, tôi nghi ngờ hai từ “yêu nước”. Phía sau danh từ này có vô vàn tâm trạng, có vô số động cơ, hoặc xác thực, hoặc ngầm ẩn, hoặc có ý thức, hoặc vô thức.

Danh từ nào cũng lập lờ và cũng có khả năng phản lại nghĩa chính thống.

Như thế, giữa người Việt với người Việt cũng bị chia cách bởi những con sông vô hình. Chắc chắn cũng còn khá lâu mới bắc được cầu qua những con sông ấy.

Chiến tranh Việt-Mỹ đã qua, nhưng sau đó không lâu cái tên Việt Nam lại dội lên trên các kênh thông tin quốc tế. Lần này, là một thứ ồn ào dơ dáy. Chẳng còn là người anh hùng bé nhỏ dám đương đầu với đế quốc Mỹ mà là tác giả của Khổ nạn Thuyền nhân. Ở châu Âu, phái đoàn Việt Nam không còn được chào đón bằng cờ và hoa mà bằng cà chua và trứng thối. Tôi nhớ rằng lần đi châu Âu, ông Võ Văn Kiệt đã hứng trọn một quả trứng thối vào giữa mặt còn đến lượt ông Phan Văn Khải thì thoát nạn nhờ sự bố trí, dàn cảnh công phu của cảnh sát Pháp. Sự đời vốn đổi thay như các lớp tuồng. Điều khốn khổ cho người Việt Nam là dường như họ chỉ được biết đến trong các tình huống đau khổ. Kể từ khi làn sóng “Thuyền nhân” dịu đi, Việt Nam gần như chẳng còn gì để nhớ. Cứ nghe đài phương Tây thì biết, người ta chỉ nhắc tới hai từ Việt Nam khi nhắc tới cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, bởi rất nhiều trí thức phương Tây, đặc biệt là các văn nghệ sĩ đã tham gia vào phong trào chống chiến tranh và tuổi trẻ của họ gắn bó với những kỷ niệm của một thời sôi động. Tuy nhiên, ngay cả những người kiên nhẫn nhất và hiểu biết Việt Nam nhiều nhất cũng chưa dám quả quyết rằng họ nắm được sự thực về cuộc chiến tranh này. Điều đó, quá khó khăn.

Một lần, một nhà văn Pháp hỏi tôi:
– Cái gì tạo nên sức mạnh của chúng mày trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ?
Tôi đáp:
– Một nửa là thói quen của hàng ngàn năm chống xâm lược. Nửa kia là sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân.
Anh bạn chưng hửng:
– Mày không đùa đấy chứ? Ai có thể tin nổi một thứ lý thuyết quái gở như thế.
Tôi cười:
– Rất nhiều thứ quái gở ở phương Tây lại là sự thực đơn giản ở phương Đông. Và ngược lại.

Bây giờ, tôi xin giải thích “thứ lý thuyết quái gở” này.

Cuộc chiến tranh Việt-Mỹ được đảng cộng sản phát động với lời tuyên bố: Đánh đuổi quân xâm lược Mỹ.

Năm 1964, tôi mười bẩy tuổi. Vào tuổi ấy, tất thảy thanh niên ở miền Bắc không có quyền nghe đài nước ngoài, không có ti-vi, không có máy quay đĩa, không có bất cứ nguồn thông tin nào ngoài báo chí cộng sản và đài phát thanh trung ương. Lần đầu tiên, tôi được nghe những bài hát nước ngoài là năm tôi mười sáu tuổi. Mùa hè năm 1963, anh họ tôi là phiên dịch tiếng Nga dẫn tôi cùng đứa em trai đến nhà ông chuyên gia mỏ thiếc Tĩnh Túc ở Hà Nội. Ông bà ấy đón tiếp rất tử tế, ngoài việc chiêu đãi bánh ngọt và nước trà chanh, còn mở máy quay đĩa cho chúng tôi nghe. Cảm giác của tôi lúc đó là choáng váng, như muốn chết. Đó là cảm giác thật sự khi con người lạc vào một thế giới mà họ vừa cảm thấy ngây ngất vừa cảm thấy như ngạt thở. Đĩa nhạc đó là của Roberto… (không nhớ họ), một giọng ca Ý tuyệt diệu nhưng chết trẻ. Những bài hát tôi nghe là các bài nổi tiếng cổ truyền: Ave Maria, Santa Lucia, Paloma, Sérénade, Histoire d’amour, Besame Mucho…

Ra khỏi cửa nhà ông chuyên gia Nga nọ, tôi bước đi loạng choạng. Lần đầu tiên, tôi hiểu rằng cuộc sống của chúng tôi là cuộc sống của những kẻ bị nhốt dưới hầm. Những bài hát kia là một thứ ánh sáng mà lần đầu tiên tôi được thấy. Ánh sáng đó rọi từ một thế giới khác, hoàn toàn ở bên ngoài chúng tôi. Kể lại chuyện này, để hậu thế nhớ rằng, thời đại của chúng tôi là thời đại của một thứ chủ nghĩa ngu dân triệt để. Một thứ chủ nghĩa ngu dân tàn bạo, nó buộc con người sống như bầy súc vật trong một hàng rào được xây nên bằng đói khát, hà hiếp và tối tăm.

Khi con người bị điều khiển cùng một lần bằng tiếng gào réo của dạ dầy và cái bỏng rát của roi vọt thì họ không thể là người theo nghĩa thực sự. Chủ nghĩa ngu dân là thứ lá chắn mắt ngựa, để con vật chỉ được quyền chạy theo chiều mà ông chủ ra lệnh. Khi tất cả những con ngựa đều chạy theo một hướng, ắt chúng tạo ra sức mạnh của “bầy chiến mã”, nhất là khi, trong máu chúng đã cấy sẵn chất kích thích cổ truyền “chống xâm lăng”.
Với lũ trẻ là chúng tôi thời ấy, danh từ Xâm lăng dùng để chỉ: quân Nguyên, quân Minh, quân Thanh, và bây giờ là quân Mỹ. Danh từ ấy đồng nghĩa với Tô Định, Mã Viện, Thoát Hoan… Tóm lại, Mỹ là lũ giặc phương Bắc nhưng mũi lõ, mắt xanh, tóc vàng.

Ngôn ngữ vốn là một nhà tù, mà chúng tôi không có điều kiện để tiếp cận với các nguồn thông tin khác, các ngôn ngữ khác, nên hiển nhiên chúng tôi là đám tù binh ngoan ngoãn sống trong nhà tù ấy, đinh ninh rằng mình ra đi là để bảo vệ non sông.

Bởi vì, tổ tiên chúng tôi đã quen chết hàng ngàn năm để chống lại những kẻ thù mạnh hơn họ bội phần, chúng tôi cũng sẵn sàng ra chiến trường chống quân xâm lược Mỹ theo đúng cách thức ấy.
Đó là lý do tôi nói, “sức mạnh của chủ nghĩa ngu dân”.

 

Dương Thu Hương

Israel – Một đất nước thần kỳ

Featured Image: Halfway Anywhere

Một ngày thôi, chúng ta hãy tạm quên đi khung trời tự do thiên đường của Mỹ và hãy thôi thèm thuồng sự hào nhoáng ngọt ngào từ các bộ phim Hàn. Một ngày thôi, chúng ta hãy thôi ca tụng nếp sống văn hóa của Nhật và quên luôn gã khổng lồ đáng ghét Trung Quốc đang lặn ngụp ngoài biển đông. Một ngày thôi, hãy quên những đất nước đang sôi sục say men chiến thắng mùa world cup và thậm chí hãy tạm lơ luôn cả đất nước Việt Nam máu thịt mà ta đang ngự trị. Chỉ một ngày thôi, hãy nhìn sang một đất nước khác, một đất nước nghe tên đã thấy nhàm chán và xa xôi, một đất nước chỉ có chiến tranh và sa mạc nóng bỏng trải dài tít tắp. Một đất nước nhỏ bé và chẳng có mấy tin tức hay ho về nó trên báo đài nhưng phần lớn sự kiện quan trọng trên thế giới đều có liên quan đến những con người xuất thân từ đó. Đó là đất nước Israel, nơi con người đã chiến thắng thiên nhiên và theo tôi, chiến thắng cả thế giới về tính cần cù, bền bỉ, vượt khó, khả năng sáng tạo và không bao giờ dừng lại. Những thông tin sau đều là tin tổng hợp nên chắc nhiều bạn biết rồi nhưng tôi tin cũng rất nhiều người chưa hề được biết, và chắc chắn, sẽ có điều khiến bạn phải ngạc nhiên về đất nước này.

Một nền nông nghiệp thần kỳ

Israel có diện tích rất nhỏ, trên 20.000 km2, tức là chỉ lớn hơn tỉnh Nghệ An của Việt Nam chút ít. Tuy nhiên Israel lại được mệnh danh là “thung lũng silicon” của thế giới trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghệ nước. Chỉ với 2,5% dân số làm nông nghiệp nhưng mỗi năm Israel xuất khẩu chừng 3 tỷ USD nông sản, là một trong những nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Ít ai biết rằng, những sản phẩm rau quả từ Arava – một trong những nơi khô cằn nhất thế giới – lại chiếm tới trên 60% tổng sản lượng xuất khẩu rau của Israel và 10% tổng sản lượng hoa xuất khẩu. Thung lũng Arava. Địa danh khá lạ tai đối với khách du lịch, nhưng lại là cái tên rất tự hào của mọi người dân Israel vì tại đây, phép màu đã làm nở hoa giữa sa mạc – những phép màu thực sự của khoa học công nghệ. Là phần khô hạn nhất của hoang mạc Negev với lượng mưa bình quân chỉ từ 20-50mm mỗi năm (Việt Nam là 1500mm/năm). Độ ẩm cực thấp và sự chênh lệch nhiệt độ khiến đá cũng phải vỡ vụn mà khắp hoang mạc phủ một lớp đá vụn và cát đặc thù sa mạc. Arava là một trong những vùng đất khô cằn nhất thế giới. Cảm giác đầu tiên khi đặt chân đến vùng đất này, là miền Trung Việt Nam với những dải đất bạc màu và đồi cát, hóa ra vẫn còn là miền đất trù phú! Ấy thế mà nơi đây mọc nên những nông trại trồng đủ loại cây từ rau củ, cây ăn trái đến hoa hòe. Tất cả đều xanh tốt và cho sản lượng không nơi nào sánh được. Không từ nào có thể diễn tả đúng hơn về một “vườn địa đàng” đã được tạo ra giữa thung lũng Arava, đúng như Tổng thống Israel Shimon Peres đã thốt lên khi đến thăm nơi này năm 2009: “Hãy đến và thấy chính con người cũng có thể tạo nên vườn địa đàng! (Garden of Eden)” Ông Ezra Ravins, người đứng đầu cộng đồng hơn 3.000 người tại khu vực này cho biết, từ một nhóm thanh niên Israel “bồng bột”, mang theo bánh mì và nước quyết định định cư tại thung lũng Arava năm 1959, cả một cộng đồng đã được xây dựng với nhiều thế hệ, tạo thành một trong những trung tâm nông nghiệp lớn nhất cả nước. “Khi những người đầu tiên đến đây, quyết định đó được xem là “điên rồ” nhất và chính những nhà khoa học cũng khẳng định con người không thể sống được ở vùng đất này.” Ấy vậy mà họ đã làm được, không chỉ làm được, mà còn tuyệt đối thành công, trồng trọt mà không cần đất và không cần nhiều nước, thoạt nghe cứ như chuyện của thế giới nào đó không phải trái đất này. Nhưng không, đó là sự thật, đó là Israel!

Thần kỳ cách họ trữ nước và sử dụng nước

Thiên đường nông nghiệp tại Arava gắn liền với một công trình xứng đáng ghi nhận như một kỳ công mà con người đã tạo ra giữa xa mạc: Bể chứa nước khổng lồ mang tên Shizaf. Với khả năng dự trữ 150.000 m3 nước sạch, bể chứa này có nhiệm vụ cấp nước sạch cho sinh hoạt và tưới tiêu. Bể được thiết kế để tích trữ nước từ giếng khoan vào thời điểm nhu cầu giảm. Bể có đáy chìm 3,5 m dưới mặt sa mạc và chia thành nhiều lớp khác nhau, tạo nên bề mặt nổi 10m. Một khối lượng công việc khổng lồ được thực hiện để đào bỏ 320.000 m3 đá và đất sa mạc. Độ sâu của giếng khoan lên tới 1,5 km mới tới túi nước ngầm. Kỹ thuật thiết kế đặc biệt của bể chống lại chế độ bốc hơi tự nhiên cũng như thu gom nước một cách hoàn hảo. Điều kiện tự nhiên của Israel đặc biệt khô hạn với lượng mưa rất thấp và thay đổi theo từng mùa: Phía Bắc quốc gia này lượng mưa khoảng 800 mm/năm và ở phía Nam chỉ khoảng 50 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 11 đến khoảng tháng 3 năm sau và lượng bốc hơi tự nhiên lên tới 1.900-2.600 mm/năm. Không có gì ngạc nhiên khi nước ngọt ở Israel được coi như vàng trắng và được quản lý một cách chặt chẽ hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Chính phủ xây dựng hẳn một bộ luật để đo lường mức tiêu thụ nước, kiểm soát việc khai thác nước ngầm, ngăn chặn ô nhiễm nước. Công nghệ xử lý nước của Israel thuộc hàng hiện đại nhất thế giới với tỉ lệ tái chế tới 75%. Dọc ngang Israel, ở những thành phố lớn hay những vùng nông thôn, hoang mạc, hệ thống tưới nước hoàn hảo đến mức gần như không bỏ phí một giọt nước nào. Đại diện công ty công nghệ tưới NaanDanJain cho biết 75% hệ thống nước nông nghiệp của Israel áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt, 25% còn lại tưới nước bằng ống dẫn và vòi tưới các loại phun mưa nhỏ, không hề có chế độ tưới ngập nước. Israel cũng là quốc gia phát minh ra hệ thống tưới nước nhỏ giọt điều khiển bằng máy tính, kết hợp với các thiết bị kiểm soát độ ẩm trong đất, có thể tính toán chính xác nhu cầu nước và tiết kiệm tối đa. Tại công ty Netafim, người viết được chứng kiến những thành quả đáng ngạc nhiên về hiệu quả của việc sử dụng công nghệ tưới nhỏ giọt của Israel trên khắp các dự án ở những vùng khô hạn trên thế giới. Hệ thống ống dẫn nước như những mao mạch dẫn tới từng gốc cây, được vận hành chính xác bằng công nghệ cao cũng như sử dụng tối ưu năng lượng mặt trời. “Đạt năng suất cao hơn với chi phí thấp hơn” (grow more with less) là khẩu hiện của Netafim và có lẽ cũng là hướng đi của phần còn lại của thế giới, khi nguồn tài nguyên nước đang ngày càng suy giảm. Israel giải quyết được sự thiếu nước, biến nước thành tài sản, đang dẫn đầu thế giới về tái chế nước thải, hơn 70% lượng nước được tái chế, gấp 3 lần quốc gia đứng thứ hai Tây Ban Nha.

“Cây đũa thần” khoa học

Một con số dễ hình dung về năng lực của “cây đũa thần” khoa học. Năm 1950, một nông dân Israel cung cấp thực phẩm đủ cho 17 người, hiện đã là 90 người. Một hecta đất hiện cho 3 triệu bông hồng, hay 500 tấn cà chua/vụ. Một con bò cho tới 11 tấn sữa/năm – mức năng suất mà không một nước nào trên thế giới có được. Những thực tế tại công ty NaanDanJain đã đem lại một bài học khác về sự phối hợp: nhà khoa học, nhà doanh nghiệp có sự tách biệt khó phân định với nhà nông. Đa phần các nước nhập khẩu công nghệ của NaanDanJain chỉ biết rằng đây là một trong những công ty hàng đầu Israel chuyên về giải pháp tưới, hệ thống công nghệ kiểm soát khí hậu nhà kính, mà không biết rằng chính công ty cũng đang sở hữu những đồn điền rộng lớn, nơi chính những tiến bộ khoa học của công ty được triển khai đầu tiên, nhằm đảm bảo sự thích ứng hoàn hảo nhất đối với nhu cầu của người trồng trọt. Một trong những lợi thế của sự phối hợp giữa khoa học và nhà nông tại Israel là tính cộng đồng rất cao. Nhà khoa học rất gần gũi với đồng ruộng và nhiều trong số họ cũng chính là nông dân hoặc giữ vai trò tư vấn trực tiếp cho nông dân. Các trung tâm nông nghiệp lớn, thậm chí cả các “làng nông nghiệp” (từ địa phương là kibbutz) đều có sự xuất hiện của các phòng nghiên cứu hoặc đại diện của các viện khoa học. Những giống cây mới hay các nghiên cứu mới về hệ thống nhà kính trước hết được thí nghiệm, kế đó sẽ áp dụng thử nghiệm với một số nhỏ hộ nông dân bằng nguồn vốn hỗ trợ của hệ thống tài chính vi mô hoặc từ chính quỹ của viện thí nghiệm, trước khi triển khai thương mại đại trà. Tại Israel phần lớn các nhà khoa học nông nghiệp làm cho chính phủ. Có tới hơn 60% các công trình nghiên cứu nông nghiệp là của Cơ quan Nghiên cứu Nông nghiệp hay trung tâm Volcani thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Israel cũng là nước có mức đầu tư cho nghiên cứu thuộc loại lớn nhất thế giới với gần 100 triệu USD mỗi năm, chiếm khoảng 3% tổng sản lượng nông nghiệp quốc gia. Nguồn lực này đến từ ngân sách và cộng động (50 triệu USD/năm), các hợp tác quốc gia song phương (12 triệu USD/năm), các tổ chức nông nghiệp cấp địa phương và quốc gia (6 triệu USD/năm) thông qua nguồn lợi từ thu hoạch cây trồng. Khu vực tư nhân cũng đóng góp khoảng 25 triệu USD hàng năm. Nguồn lực này được cung cấp trực tiếp cho việc nghiên cứu và phát triển các sản phẩm ứng dụng và các nhà đầu tư giữ bản quyền sáng chế. Phần lớn các nghiên cứu đều do những công ty sản xuất sản phẩm đầu tư, như hệ thống tưới tiêu, phân bón, nhà kính… triển khai. Sự phối hợp giữa kinh doanh và nghiên cứu đảm bảo cho các nhà khoa học một mức ưu đãi đủ để phát huy tối đa năng lực hoạt động chuyên môn. Thậm chí các chuyện các chuyên gia nông nghiệp đi tư vấn trực tiếp cho các nông trại là điều không hiếm.

Việc chăn nuôi tại Israel:

Nuôi cá trên sa mạc Khi đào giếng sâu gần nửa dặm, người Israel phát hiện nguồn nước ấm mặn. Một giáo sư đại học chỉ ra đây là nguồn nước hoàn hảo để nuôi cá nước ấm. Các nông trang bơm nước nóng 37 độ vào trong bể, nuôi cá thương mại. Nước chứa chất thải của cá được tưới cho rau, cây ăn quả. Nhờ vậy, nước được sử dụng tới 2 lần thay vì dùng 1 lần rồi bỏ. Những con bò có giáo dục AfiMilk chính là công ty đã mang lại cho Israel thương hiệu độc tôn trong ngành chăn nuôi bò sữa, đặc biệt là ở khu vực châu Á, nơi mà thói quen uống sữa đang được hình thành. Những công nghệ của AfiMilk đã và đang giúp người nông dân chăn nuôi bò sữa kiểm soát được loại sữa đang được sản xuất từ trang trại của mình; cũng như kiểm soát được liệu mỗi con bò đã có đủ dinh dưỡng không, sữa bò có đủ lượng protein tiêu chuẩn không, tình trạng sức khỏe của bò ra sao, mỗi con bò đang cần được chăm sóc thế nào… Hệ thống giám sát thời gian thực do AfiMilk sản xuất đã giúp người nông dân đảm bảo duy trì chất lượng và sản lượng, đồng thời đáp ứng những nhu cầu cơ bản của đàn bò sữa. Ở trang trại nuôi bò sữa của Kibbutz Mashabbe Sade thuộc vùng Nagev, bò được huấn luyện rất kỹ, cứ đến giờ là tự tìm đường về trạm cho sữa, thậm chí không cần người dẫn dắt. Họ gọi những con bò này là “bò có giáo dục”. Tiện nghi cho chó Israel đã phát triển một loạt các sáng tạo với những sản phẩm out of the box (những sản phẩm sáng tạo không gò bó theo khuôn phép) cho những người nuôi chó trên toàn thế giới, từ DogTV (kênh truyền hình dành cho chó) đến pooper-scooper (một thiết bị mang tính cách mạng giúp bạn tự động dọn sạch phân chó – đã có trên thị trường). Khi bạn đi ra ngoài và để chú chó của mình ở nhà một mình, chúng sẽ không còn cảm thấy chán nhờ vào kênh DogTV – kênh truyền hình dành cho những chú chó đã đạt những thành công phi thường của Israel . Và khi bạn lái xe, một việc không ai muốn làm đó là dọn phân cho những chú chó, sẽ trở nên dễ dàng với thiết bị của Paulee CleanTec: biến chất thải thành chất không màu, không mùi, bột vô hại chỉ với một nút nhấn. Dẫn đầu thế giới về công nghệ sạch Họ được xếp hạng cao nhất với chỉ số 4,34, tiếp theo là Phần Lan 4,04, Mỹ 3,67, Thụy Điển 3,55 và Đan Mạch 3,45. Trong vòng 3 năm qua, Israel có 19 công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sạch được lọt vào danh sách rút gọn của GCII. “Israel đứng đầu chỉ số năm 2014. Ngoài bản năng sinh tồn, đất nước này còn tạo ra nền văn hóa, giáo dục và những nền tảng cần thiết khác để nuôi dưỡng sự sáng tạo”, báo cáo cho biết.

Những điều hay ho về con người, tính cách, bản sắc văn hóa và nền kinh tế:

Kinh doanh từ niềm đam mê sáng tạo nên cái mới, chứ không hẳn vì tiền TS. Ze’ev Ganor, một giảng viên cao cấp tại Viện Công nghệ Technion-Israel và đồng sáng lập của Urginea Ventures, người đã phân tích dữ liệu về các doanh nhân nối tiếp ở Israel từ năm 2005 nói rằng: Hiện tượng một doanh nhân thành lập nhiều công ty rất phổ biến ở Israel. Khoảng 10% doanh nhân Israel có ít nhất hai công ty trở lên, gấp đôi con số 5% ở Mỹ. Tương tự như vậy, có khoảng 7,5% các doanh nhân Israel khởi nghiệp từ ba công ty hoặc nhiều hơn, trong khi chỉ có 3,75% các doanh nhân Mỹ làm như vậy. Trên sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ, số doanh nghiệp Israel nhiều hơn cả 4 nước Nhật Hàn Trung quốc và Sing cộng lại. Không ít những ông chủ khổng lồ nhất thế giới có mặt trên đất nước này đến từ Mỹ, Ấn độ, Đức… Xuất khẩu hướng vào thị trường cao cấp và sản phẩm mà Israel thu lợi nhuận cao nhất là bán các ý tưởng, được kết hợp chặt chẽ từ hai yếu tố sáng tạo và táo bạo. Và hình như, đây chính là tinh thần Do thái. Israel có tỷ lệ doanh nhân bình quân đầu người cao hơn bất kì một quốc gia nào khác. Vậy đâu là những yếu tố thúc đẩy sự thành công của họ? “Tôi cho rằng giá trị chung cơ bản mà những người liên tục tạo ra các công ty khởi nghiệp nằm ở sự đam mê tạo ra giá trị mới chứ không phải đam mê kiếm tiền. Kiếm tiền chỉ là một yếu tố phụ, không phải là mục tiêu phấn đấu của những doanh nhân tiếp nối ở Israel.” GS. Amnon Shashua của Đại học Hebrew, người sáng lập ra các công ty Cognitens, OrCam và Mobileye nói. Hay như theo cách mà ông Wurtman giải thích thêm về triết lý kinh doanh của họ: “Điều khiến bạn thích thú không phải ở việc tạo ra của cải, mà là tạo ra những cái mới.” “Đặc điểm của những doanh nhân tiếp nối là họ không bao giờ ngừng liên kết những ý tưởng mới vào doanh nghiệp mới và họ coi trọng cuộc hành trình của mình hơn là cái đích. Theo tôi, đây là một đặc điểm mang tính dân tộc, vì bản thân tôi đã luôn xem những gì tôi làm như là một phần của cuộc hành trình để phục vụ nhà nước Do Thái. Thành công, theo tôi, được đo bởi số lượng việc làm có chất lượng được tạo ra.” Wurtman khẳng định. Chuyện nói và chuyện làm Khi người Israel có ý tưởng, anh ta sẽ triển khai nó ngay trong tuần. Tổng thống S. Peres, người đã sang Việt Nam, nói thế này: diễn văn rất hay, nhưng anh định làm gì tiếp theo?. Tỉ phú hàng đầu Israel , ông Stef Wertheimer, lời khuyên đầu tiên với người Việt cũng là, nói ít thôi làm nhiều lên. Ông là nhà sản xuất vũ khí và chủ một khu công nghệ còn đẹp hơn bất cứ công viên giải trí nào ở Việt Nam. Điều này hơi ngược với triết lý của ta khi bắt đầu kinh doanh cần phải có kinh nghiệm. Người Israel không cần kinh nghiệm, họ cần ý tưởng nhiều hơn, và sẵn sàng thất bại để học hỏi từ thất bại đó. Người Israel mê sáng tạo, và không sợ trí tưởng tượng. Họ biết kinh nghiệm là quý báu, nhưng kinh nghiệm dễ thành lối mòn. Họ không ngại thay đổi, luôn hướng về phía trước, không nằm im gặm nhấm thành công quá khứ. Họ biết “nỗi sợ hãi mất mát luôn lớn hơn niềm hy vọng nhận được” để bỏ đi cái cũ không còn phù hợp, kiến tạo cái mới cho hiện tại và tương lai. Trong những buổi gặp mặt cựu binh hay bạn học, họ ít hồi tưởng về quá khứ huy hoàng, mà hướng về tương lai phía trước. Những đơn vị thành công thì thuyết trình về công ty để người khác được chia sẻ kinh nghiệm. Họ xây dựng mạng luới làm ăn, kiến tạo những cơ hội kinh doanh. Tiếp nhận sự khác biệt và đa dạng trong cộng đồng Một trong những giá trị của Israel đó là lịch sử dân tộc. Chỉ với khoảng 8 triệu dân nhưng lại có nguồn gốc từ 70 nước trên toàn thế giới. Họ là quốc gia duy nhất thực thi luật di trú mà bất cứ người Do thái nào đặt chân lên Israel, ngay lập tức trở thành người Israel. Họ biết chiêu dụ những người Israel sống ở nước ngoài về phục vụ tổ quốc, trọng dụng họ và không bao giờ bỏ rơi họ. Israel thực sự là một đất nước đa dạng về văn hóa, sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc. Vì là nạn nhân của chủ nghĩa bài Do thái, họ thấu hiểu việc tôn trọng sự đa dạng quan trọng như thế nào. Chính vì vậy, sự khác biệt không cản trở họ, mà ngược lại là nguồn gốc của sự sáng tạo. Đây chính là cốt lõi khởi tạo mọi thành công của người Israel.

Chuyện người lãnh đạo

Quá trình tuyển chọn lãnh đạo của Israel dựa trên tài năng chứ không phải dựa trên mối quen biết hay sức mạnh tài chính. Quá trình tuyển chọn rất minh bạch và dân chủ. Cộng với văn hóa tranh luận và đặt câu hỏi “tại sao ông là sếp của tôi; tại sao tôi không phải là sếp của ông?” đầy thách thức, làm cho người sếp không đủ tài năng sẽ phải nhường chỗ cho người khác. Quá trình này giúp tìm ra được người lãnh đạo tốt nhất cho công ty, tập đoàn hay chính phủ. Khi có lãnh đạo giỏi, việc trao quyền cho cấp dưới được thực hiện dễ dàng hơn, các thông tin, ý tưởng, giải pháp được đến từ nhiều người hơn là chỉ một số người có trách nhiệm. “Mục tiêu của nhà lãnh đạo là tối đa hóa sự chịu đựng – trong khi khuyến khích sự bất đồng chính kiến.” Là một phương châm lãnh đạo rất sâu sắc. Tinh thần này có nghĩa, lãnh đạo phải chịu được những điều “chướng tai gai mắt”, những khác biệt thậm chí bất đồng, thì nhân viên mới thỏa sức sáng tạo. Còn nhân viên, phải phát huy tính tự chủ độc lập của mình, không sợ khác biệt về nhận định hay giải pháp, vì đó chính là khởi nguồn của sáng tạo. Văn hóa này đã nuôi dưỡng tinh thần chiến đấu và hướng tới cái mới hơn, tốt hơn và hiệu quả hơn. Ở Israel, các sinh viên đại học nói chuyện với giảng viên, nhân viên thách thức ông chủ, binh lính chất vấn sĩ quan chỉ huy, thư ký sửa lưng các bộ trưởng, đây không phải là sự cả gan, mà là điều hết sức bình thường. Ai mới tới Israel thường có cảm giác người bản xứ rất thô lỗ, thẳng thắn quá trớn. Nhưng nếu hiểu được bản chất và văn hóa của người Israel thì ta sẽ cảm thấy thoải mái, xem đây là biểu hiện của sự chân thành. Hiện tượng cấp dưới có quyền đưa ra quyết định vượt cấp trong quân đội Israel là kết quả của nhu cầu thực tế cũng như bản chất của lực lượng này. Việc quân đội Israel có ít chỉ huy, đồng nghĩa với việc có nhiều sáng kiến hơn đến từ binh lính cấp dưới. Mức độ trao quyền hạn vượt cấp trong quân đội Israel đã làm lãnh đạo các quốc gia ngạc nhiên. Giá trị của binh lính Israel không phụ thuộc quân hàm, mà được quyết định bởi năng lực của họ. Ở đây, bí quyết lãnh đạo là niềm tin của binh lính đối với chỉ huy của mình. Nếu không có niềm tin, binh lính sẽ không bao giờ tuân phục. Trong doanh trại quân đội Israel, các viên tướng, sĩ quan và binh lính thường ngồi quây quần bên nhau, ít kiểu cách nhưng thân thiện và bao dung hơn. Đó là tinh thần Chutpah trong quân đội. Điều này lý giải tại sao Shvat Shaket, một người đã sống nhiều năm trong quân đội, có thể giảng cho chủ tịch PayPal về sự khác nhau giữa “người tốt và kẻ xấu” trên internet. Hay nhóm kỹ sư Israel của Intel thực hiện cuộc cách mạng lật đổ kiến trúc cơ bản của sản phẩm của chính công ty mình. Tinh thần chiến đấu của người Israel không chỉ được thể hiện trên chiến trường, bàn ngoại giao, mà còn thẫm đẫm vào công việc kinh doanh của họ. Khi bị ban lãnh đạo Intel từ chối giải pháp làm nguội con chíp, nhóm làm việc Israel không chịu lùi bước. Họ kiên trì thuyết phục, cải tiến và chứng minh viễn kiến và giải pháp của họ là đúng, tạo bước ngoặt cho Intel và thế giới khi đưa ra các sản phẩm chip mới. Trong những công ty khởi nghiệp, khi thất bại họ “thất bại có tính xây dựng” hay “thất bại thông minh”, cộng với tính khoan dung của người Israel, nên những người thất bại được trao cơ hội làm lại. Theo thống kê, những người đã thất bại lần đầu mà khởi nghiệp lại, tỉ lệ thành công của họ sẽ tăng lên 20%. Đây chính là lý do góp phần để Israel thành một quốc gia khởi nghiệp.

Và những điều lạ lùng khác nữa…

Mô hình kinh tế Kibbutz Về kinh tế, mô hình kinh tế Kibbutz được hình thành từ những năm 1960 và tới nay vẫn còn duy trì hiệu quả. Đây là mô hình tổ chức nông-công nghiệp nông thôn độc nhất vô nhị trên thế giới chỉ có tại Israel. Hiện nay trên toàn Israel có khoảng 270 Kibbutz, trung bình mỗi Kibbutz này có trên dưới 300 xã viên hoạt động tương tự như nhau, sở hữu những cánh đồng trồng cây nông nghiệp, trại chăn nuôi gia súc, các nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ như sản xuất bột giạt, đồng hồ đo nước xuất khẩu, van và khớp nối ống nước… Mọi thành viên của gia đình các xã viên được cung cấp miễn phí hai bữa ăn sáng và trưa tại một bếp ăn tập thể giữa làng. Riêng bữa tối các gia đình tổ chức ăn ở nhà để cho gắn bó tình cảm giữa các thành viên trong gia đình mình. Buổi sáng, các xã viên và trẻ em trong làng lũ lượt kéo đến các nhà ăn tập thể dùng bữa sáng. Nhà ăn được tổ chức hiện đại và sang trọng với đầy đủ các món ăn cao cấp không khác mấy so với các phòng ăn ở khách sạn 5 sao. Sau khi ăn xong, mỗi người tự mang bát đĩa, khay, thìa đến những chỗ quy định để “tổ bếp núc” rửa. Sau đó, trẻ em thì đến trường, người lớn đến nơi làm việc. Khoảng 12h30 trưa, trẻ em đi thẳng từ trường học tới nhà ăn, cùng người lớn dùng bữa trưa. Các gia đình không nhất thiết ngồi ăn cùng bàn, họ thoải mái tự chọn món mình thích và tùy chọn chỗ ngồi trong bữa ăn, không hạn chế số lượng và hoàn toàn theo nhu cầu. Ngoài ra còn những điều cực kỳ lý thú, việc giặt giũ của mỗi gia đình được phụ trách bởi một tổ có tên “tổ giặt giũ” đảm nhiệm. Họ phân loại quần áo, dùng máy móc giặt sấy và trả về cho mỗi gia đình theo số thứ tự được đánh dấu của mỗi nhà. Các xã viên cũng không cần mua ô tô khi các Kibbutz luôn có sẵn khoảng 60 ô tô con các loại để tại bãi đậu xe có người trông coi. Ai cần đi xe chỉ việc chọn xe, đăng kí trên website và tới bãi để lấy xe chạy thoải mái. Ngoài ra, các khoản như xăng, sửa chữa và các chi phí khác hoàn toàn do Kibbutz chịu trách nhiệm. Nếu thích một loại xe nào đó khác, chỉ việc yêu cầu, Kibbutz sẽ chịu trách nhiệm đi thuê xe cho bạn, và đương nhiên, hoàn toàn miễn phí, Kibbutz sẽ thanh toán cho bạn. Kibbutz còn xây dựng và cấp nhà miễn phí cho các gia đình xã viên. Khi cần mở rộng hoặc muốn cải tạo theo ý mình, chủ nhà trao đổi với ban quản trị, sau đó sẽ có một đội xây dựng đến thực hiện theo yêu cầu của chủ nhà, Kibbutz thanh toán chi phí toàn bộ, bao gồm cả tiền điện, nước, gas sinh hoạt trong các gia đình. Mỗi căn nhà này ở Mashabbe Sade là một biệt thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi. Ngày Shabbat bình yên Chiều thứ sáu, đường phố ở Haifa vắng tanh, mọi người đều về nhà để chuẩn bị một bữa tối linh đình cho gia đình. Các cửa hàng, siêu thị, công sở đều đóng cửa, thậm chí các phương tiện giao thông công cộng cũng ngưng hoạt động. Người lần đầu đến Israel đúng những ngày này sẽ cảm thấy bất ngờ và hụt hẫng. Muốn mua sắm hay đi chơi đều phải chuẩn bị từ đầu hoặc giữa tuần. Nếu chẳng may phải đi đâu, phương tiện công cộng duy nhất là taxi với giá 5 shekel (tiền Israel, bằng khoảng 5.000 đồng VN). Một người dân tên Roi Ariel cho biết, theo phong tục, người Israel thường ở nhà nghỉ ngơi, thư giãn, đọc sách, đi thăm người thân hoặc bạn bè, đi du lịch nhân ngày Shabbat. Cánh thanh niên tận dụng những ngày Shabbat để đi ra biển hoặc khám phá những thành phố mới. Roi Ariel đang trong thời gian quân ngũ và phục vụ trong hải quân. Tham gia quân đội cũng là cách các chàng trai, cô gái xứ sở này có được một khoản thu kha khá. Sau 3 năm tại ngũ, họ sẽ dùng số tiền tiết kiệm được để đi du lịch hoặc đăng ký học tại một trường đại học nào đó. Và trường đại học tại Israel thì có chất lượng không thua kém bất cứ đại học danh tiếng nào trên thế giới. Theo lời Erik – một người dân Israel thì, đàn ông Israel không có thói quen tụ tập tại các quán bar sau giờ làm việc, trừ những ngày cuối tuần. Hầu hết đều trở về nhà, giúp đỡ vợ những công việc gia đình, xem tivi, đọc sách và ngủ. Làm việc quên giờ giấc cũng là một đặc tính nữa của người Israel. Chắt chiu trong cuộc sống thường ngày, nhưng bù lại họ có niềm đam mê trong việc du lịch và khám phá những vùng đất khác. Chả thế mà người Israel được xem là dân tộc đi du lịch nhiều nhất thế giới.

Tạm kết

Quả thật là lý thú và kỳ diệu, đất nước này, những con người nơi đây. Họ có xứng đáng cho chúng ta học hỏi, từ công việc nông nghiệp, cách dụng người tài, khả năng sáng tạo tuyệt đỉnh cho đến thói quen sinh hoạt thường ngày? Thật đáng khâm phục đúng không? Con người Israel với khả năng kinh doanh tuyệt vời và những vĩ nhân ảnh hưởng lớn đến thế giới thì chắc hẳn bạn nào yêu thích kinh doanh và từng đọc các cuốn sách “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu, Tủ sách của người Do Thái…” đều được biết. Tuy nhiên, thật không thể ngờ đi sâu vào đất nước ấy lại có nhiều điều thú vị đến vậy. Thiết nghĩ, Việt Nam ta cũng là một quốc gia nông nghiệp thì ta nên học hỏi đất nước này. Ta có một nền tảng tốt hơn, tại sao ta lại không thể làm tốt hơn? Phải chăng cũng vì cái nền tảng tốt đẹp sẵn có mà ta không còn cần phấn đấu và sáng tạo nữa? Thật đáng tiếc, theo một bản tin mới đây, thì mặc cho bầu Đức đã và đang triển khai rất nhiều công nghệ nông nghiệp hiện đại từ từ đất nước này, thì Bộ Công Thương của chúng ta sau một hồi nghiên cứu đã quyết định chọn các tư vấn viên đến từ… Trung Quốc để tư vấn cho nền nông nghiệp nước nhà. (!) Thật sự là không còn gì để nói…

Phi Tuyết

Các nguồn tham khảo:

  • https://www.facebook.com/IsraelinVietnam
  • http://nld.com.vn/phong-su-ky-su/shabbat-binh-yen-195204.htm
  • http://reds.vn/…/4771-chu-nghia-cong-san-kieu-israel
  • http://embassies.gov.il/hanoi/AboutTheEmbassy/
  • Các thông tin tổng hợp từ cuốn sách “Quốc gia khởi nghiệp” của Dan Senor và Saul Singer.

Học yêu

Featured Image: Any Direct Flight

 

Em gái thương! Ngắt điện thoại với em rồi, vẫn thấy chưa yên lòng. “Mang tình yêu trong lòng là mang một gánh nặng.” Câu này đang vận vào em chăng.

Nếu tình yêu đủ lớn, em sẽ không thấy giận, buồn, thất vọng vì những điều em mong ở người ấy mà họ không có hoặc họ chưa biết cách thể hiện như em mong đợi.

Yêu một người đúng cách là chấp nhận con người họ, thích nghi với những cái ở họ chưa làm ta vừa ý. Đánh thức và khuyến khích những cái tốt, cái hay của họ, làm cho họ nghĩ tới cảm xúc của mình và mong muốn làm vui lòng mình. Chứ đừng cố gắng thay đổi họ, vì rất khó. Hãy để họ vì yêu mình mà tự nhận ra, tự thay đổi, sẽ dễ dàng cho cả hai.

Yêu thì rất dễ, yêu đúng cách mới khó

Chúng ta thường nhân danh tình yêu để biện minh cho cái tôi của mình, áp đặt cho đối phương một cách nghĩ, cách sống như mình. Nếu khác với mình là rất khó chấp nhận.

Tình yêu không có tội. Tội là ở chỗ ta nghĩ ta yêu họ, nên ta có quyền thế này, thế kia. Quyền yêu họ theo cách của ta, mà đánh mất quyền của họ được là chính họ. Để yêu một người, có khi chỉ cần một ánh mắt. Nhưng để hiểu một người và cho người đó cảm nhận được tình yêu mình dành cho họ, có khi phải mất… một đời.

Nếu cầu toàn trong tình yêu, ta sẽ không bao giờ có được hạnh phúc thực sự

Thay vì thất vọng, dằn vặt về những điều họ không làm được cho mình, hãy vui vì những điều họ làm được cho mình, gấp đôi. Trân trọng những điều đó, dù là ít ỏi, họ sẽ ghi nhận, cám ơn ta về điều đó, và âm thầm làm những cái ta mong muốn ở họ, mà ta chưa dám nói hoặc ngại ngùng, chưa tiện nói.

Hãy tôn trọng và cố gắng đừng làm tổn thương nhau. Hãy chia sẻ với nhau từ những điều giản dị nhất. Đó mới là điều quan trọng nhất, mà chúng ta thường quên, hoặc là thường mắc lỗi rồi mới ngụy biện rằng vì ta cũng bị tổn thương, vì yêu nên ta mới thế, vì quá quen rồi nên mới thế…

Yêu nhau cho đúng cách chưa bao giờ là dễ dàng cả. Học cả đời có khi còn chưa hết. Nhưng có tình yêu với nhau, ta dễ dàng vượt qua những khó khăn, sóng gió mà đi tiếp bên nhau.

Nếu tâm hồn, suy nghĩ của con người như là một cuốn sách, chỉ cần mở ra cho người kia đọc, thì cuộc đời này quá đơn giản. Làm gì có ai phải khổ đau. Nhưng tiếc thay, con người là một sinh vật phức tạp. Cuộc sống biến đổi không ngừng, con người cũng vậy, cảm xúc của con người lại càng khó nắm bắt.

Nên cuộc sống hôn nhân không hề đơn giản khi mọi việc tưởng như đã nói với nhau hết một lần, khẳng định với nhau “I Love You”, rồi cứ thế là hạnh phúc tới. Mà nên hiểu hôn nhân là một công cuộc đầu tư lâu dài, gom góp từng ngày một, từng niềm vui, từng cuộc cãi vã, từng bữa cơm lành canh ngọt, từng kỷ niệm vui buồn… Để rút được ra những bài học ứng xử với nhau, để cảm nhận được sợi tơ hồng còn vương trong mắt nhau, làm hành trang đi cùng nhau tới cuối con đường…

Em gái thương, Tình yêu trong hôn nhân như muối bỏ biển vậy. Lúc nào cũng thấy ít, thấy thiếu, thấy nhạt nhẽo vì người ta còn biết bao thứ phải bận tâm, lo toan, tính toán.

Nếu em khoác cho tình yêu cái áo “trong đôi mắt em anh là tất cả” thì sẽ khổ cho anh ấy vô cùng. Tình yêu quan trọng thật, nhưng cũng chỉ là một phần của cuộc sống thôi. Cuộc sống này còn biết bao điều thú vị, hãy phân chia trái tim và cái đầu của mình thật hợp lý để khám phá, trải nghiệm hết những cái mới cuộc sống ban tặng.

Mở lòng ra đón nhận cuộc sống với những niềm vui mới, hướng sự quan tâm ra thế giới bên ngoài, em sẽ thấy nhẹ bớt những ưu tư, phiền muộn em đang cảm thấy nặng trĩu trong lòng.

Hãy hiểu yêu anh ấy nhiều hơn nữa, làm bạn của anh ấy theo cách mà anh ấy muốn, chấp nhận sự khác biệt, em sẽ thấy có một điều kỳ diệu đang đến với em.

Tình yêu chính là phép màu đem đến cho con người niềm tin yêu cuộc sống. Nhưng phép màu chỉ đến với những ai ngày ngày biết vun đắp, nuôi dưỡng nó bằng những hành động nhỏ bé nhưng thực tế, cần thiết cho cả hai người.

Thương em nhiều, cô nàng nhạy cảm đến mong manh của tôi.

 

Julia Le

Đã có lúc mình thấy bất lực trước nỗi khổ của con người

Featured image: LexxNova
Tạm dịch: Bạn chưa bao giờ thật sự sống cho tới khi bạn làm được cho ai một điều gì đó mà họ không bao giờ có thể đáp trả.

 

Những ngày gần đây, mình nhận tư vấn kiếm việc cho các bạn trẻ và lắng nghe câu chuyện của họ. Bạn đoán thử các câu chuyện sẽ là gì? Phần lớn những câu chuyện là về tuổi thơ khốn khó, hiện tại túng thiếu, tranh đấu vì miếng cơm manh áo, hoang mang đi tìm một con đường riêng cho mình. Có câu chuyện khiến mình mất ngủ, trằn trọc không biết nên làm thế nào để giúp chủ nhân câu chuyện. Có câu chuyện làm mình đồng cảm vì những kỷ niệm tuổi thơ không mấy êm đẹp. Cũng có những câu chuyện khiến mình bực tức vì viết sai ngữ pháp quá nhiều, hoặc cách giao tiếp không phù hợp, bởi mình vốn rất nhạy cảm với ngôn từ. Đã có lúc mình thấy bất lực trước nỗi khổ của con người.

Cũng có một vài lần, mình nhận được những tin nhắn rất khẩn thiết, kiểu như như chị ơi em muốn vươn lên, chị ơi em muốn thoát khỏi cảnh nghèo, muốn có xe hơi trong vài ba năm nữa, chị ơi hãy cho em cơ hội gì đó để học hỏi kinh nghiệm, em phải làm sao đây, chị ơi hãy giúp em… Mình thở dài. Thực sự nếu mình có thể giúp các bạn ấy thay đổi cuộc đời nhanh và dễ dàng như thế, mình sẽ làm ngay. Mà nếu mình có cái quyền năng như chúa trời như thế, mình sẽ làm phép để biến bản thân trở thành Paulo Coelho hay Elizabeth Gilbert ngay sau một đêm ngủ dậy. Ai chẳng ước mong thành công đến trong nháy mắt.

Nhưng bạn biết không, nếu bạn đang phải trải qua những ngày khốn khó, phải đương đầu với nghịch cảnh của cuộc đời, thì đó thực sự là một món quà vô giá đấy. Có thể lúc đang khổ sở với những vấn đề của mình, bạn không thấy như vậy, nhưng sau này, khi nhìn lại, bạn sẽ thấy rằng những khó khăn mà bạn đã đương đầu giúp tạo nên câu chuyện của riêng bạn.

Mình rất thích bộ truyện Harry Potter. Nhớ những đêm mình thức đến 3, 4 giờ sáng ôm quyển truyện trong tay, vừa đọc vừa quẹt nước mắt. Harry và những người bạn của cậu chỉ là tưởng tượng. Thế giới của phù thủy, đũa thần và chổi bay có thể không có thật. Nhưng những nỗi buồn và sự tuyệt vọng là thật. Cảm giác đau đớn và sự cô độc là thật. Có ai trong chúng ta chưa từng một lần trong đời thức dậy mà không biết hôm nay mình phải làm gì, nhìn mọi thứ xung quanh chỉ tuyền màu xám và thấy mình đang lạc lối? Có ai sống trên đời mà chưa từng biết đến khổ đau, chưa từng bị chối bỏ bởi người mình yêu thương, bởi gia đình hay xã hội? Những nỗi đau trong câu chuyện đã kết nối người đọc với tác giả, kết nối người đọc với nhau, và góp phần làm nên thành công của bộ truyện. Và những mất mát đau đớn ấy chân thật, bởi vì được viết bởi một con người đã nếm trải bao điều khốn khó của cuộc đời, mẹ cô đột ngột qua đời, hôn nhân tan vỡ, nghèo hết mức có thể nghèo, và trở thành một bà mẹ đơn thân. Nếu không trải qua từng ấy đau khổ, chắc gì Rowling đã viết được câu chuyện sâu sắc được dường vậy, chắc gì Harry Potter đã lay động lòng người và thành công đến thế?

Vậy nên, nếu bạn đang phải vật lộn với cuộc sống, đang phải đấu tranh với những khó khăn trong đời, thì hãy cảm ơn Thượng đế vì món quà của Người, hãy ôm ghì lấy cuộc đời bạn với tất cả những đớn đau khổ sở của nó, và sống với tất cả sức lực và nhiệt huyết của bạn. Vì với những kinh nghiệm của mình, và kinh nghiệm của tất cả những người đã đi trước chúng ta, mình biết rằng quãng đường gian khó không kéo dài mãi mãi. Những khó khăn giúp làm nên câu chuyện của bạn. Cô gái có tuổi thơ bị ngược đãi trở thành người hoạt động tình nguyện tích cực vì quyền trẻ em, chàng trai từng tuyệt vọng đến mức muốn tự tử vì thất bại rồi trở thành doanh nhân thành công, một người từng viết câu nào là sai chính tả câu nấy lại là một tác giả ăn khách sau những ngày tháng khổ luyện. Câu chuyện của bạn như thế nào là do bạn quyết định. Hãy viết lên câu chuyện của cuộc đời bạn.

Thế nên, bạn thân mến, đừng cầu nguyện để đời bạn không phải trải qua những nghịch cảnh, khó khăn. Mà cầu nguyện để bạn đủ sức lực để đương đầu với những sóng gió của cuộc đời. Hãy mỉm cười, nhìn lên bầu trời cao xa. Dù là ngày trời xanh nắng đẹp hay ngày mây mù âm u, thì bạn cũng sẽ không có cơ hội nhìn thấy bầu trời chính xác như thế lần nữa. Ngày hôm nay trôi qua là sẽ mãi mãi không quay trở lại. Mọi chuyện rồi cũng sẽ qua. Trong khi đó, thì đừng chìm trong những thất vọng của đời mình nhé. Hãy bơi đi.

Rosie Nguyen

Chuyện chẳng ai thấy ai

Featured Image: Caravaggio

 

Chuyện kể rằng Narcissus là một chàng trai có sắc đẹp tuyệt trần, nhưng chàng lại mắc chứng bệnh lãnh cảm và kiêu ngạo. Chàng không yêu bất cứ ai ngòai chính bản thân mình và cho rằng chỉ có mình là người duy nhất đáng yêu. Một hôm trong khi đi săn ở trong rừng chàng đã để cho Nữ thần sông núi Echo nhìn thấy. Chóang váng trước sắc đẹp của chàng, nữ thần Echo đã phải lòng chàng ngay tức khắc. Nhưng vì lãnh cảm và kiêu ngạo, Narcissus đã khước từ tình yêu của nàng. Nàng Echo buồn rầu lui về ở ẩn, sống xa lánh mọi người, dần dần nàng trở nên tiều tụy và thân thể nàng đi đến chỗ tàn tạ và chỉ còn lại một âm thanh yếu ớt như tiếng vọng (trong tiếng Hi Lạp hay tiếng anh ngày nay: Echo có nghĩa là tiếng vọng, âm thanh).
Các nữ thần sông núi vô cùng căm giận chàng Narcissus, họ liền rủa nguyền:
– Này chàng Narcissus kiêu ngạo, chúng ta nguyền cho chàng cuối cùng cũng sẽ yêu và mắc bệnh tương tư như nàng Echo, nhưng mà cái người được chàng yêu cũng sẽ không đáp lại tình yêu của chàng!
Trong khi đó, Nữ Thần Tình Yêu và Sắc Đẹp cũng đã thấy hết mọi chuyện và Nữ Thần cũng vô cùng tức giận khi thấy có một kẻ được yêu mà không đáp lại tình yêu, thứ tình cảm thiêng liêng quý giá mà chính Nữ thần đã ban tặng cho con người. Thế là Nữ Thần quyết định trừng phạt Narcissus.
Một hôm vào mùa xuân, sau một buổi đi săn mệt mỏi, Narcissus liền tìm đến một con suối để nghỉ ngơi. Đây là một con suối chưa có ai đặt chân đến bao giờ, kể cả những con vật sống trong khu rừng này. Thậm chí cũng chưa có một cành cây gãy nào rơi xuống mặt nước, ngay cả những cánh hoa rừng cũng không theo gió bay mà rụng xuống nơi đây. Đó là một con suối vô cùng trong sạch, nó soi tỏ mọi vật xung quanh như một tấm gương. Và khi chàng Narcissus cuối xuống uống nước thì chàng bổng nhìn thấy hình bóng khuôn mặt và thân thể mình hiện rõ ra mồn một với tất cả vẻ đẹp của chúng dưới mặt nước trong xanh. Và bây giờ cũng chính là lúc Chàng Narcissus phải hứng chịu hình phạt của Nữ Thần Tình Yêu và Sắc Đẹp.
Chàng kinh ngạc ngắm nhìn hình bóng mình phản chiếu dưới đáy nước. Và do Nữ Thần Tình Yêu và Sắc Đẹp sai khiến, chàng lập tức phải lòng ngay chính bản thân của mình. Chằng đắm đuối quan sát hình bóng mình, chàng đưa tay ra và gọi chính bản thân mình. Rồi chàng cuối xuống sát mặt nước để hôn chính khuôn mặt mình. Nhưng đôi môi chàng chỉ cảm thấy được mặt nước lạnh lẽo trong veo. Và rồi, Chàng quên đi tất cả, chàng không rời khỏi dòng suối nửa bước và cứ thế mà ngắm bóng hình mình không biết chán. Chàng Narcissus không còn thiết ăn, thiết uống hay ngủ nghê gì nữa. Cuối cùng, Chàng đưa tay về phía bóng mình dưới nước mà tuyệt vọng kêu lên:
– Trời ơi! Ai còn co thể đau khổ hơn ta được đây? Chẳng có núi non biển cả gì cách trở, chỉ có một dải nước nhỏ hẹp này thôi mà hai ta chẳng thể nào đến được với nhau. Nào hãy lên đây với ta đi, chàng trai yêu quý của ta ơi!
Nhưng khi nhìn kĩ dưới nước thì chàng cũng phát hiện ra là chàng đang phải lòng ngay chính bản thân mình. Chàng liền thì thầm cùng với chiếc bóng mình dưới nước:
– Khốn nạn thân ta! Ta đã phải lòng ngay chính bản thân ta mất rồi. Rõ ràng mi chính là ta chứ còn ai nữa. Thôi chết rồi, ta sẽ chẳng còn sốn được bao lâu. Nhưng ta không sợ chết; chỉ có cái chết mới có thể chấm dứt cuộc tình đau khổ của ta.
Thế rồi Chàng kiệt sức dần và cảm thấy cái chết đang đến gần, nhưng chàng không thể nào rời bỏ được chiếc bóng dưới nước của Chàng. Và chàng khóc. Nước mắt chàng nhỏ lã chã xuống dòng suốt tinh khiết, trong vắt làm gợn lên những vòng tròn lượn sóng và làm hình bóng của chàng tan vỡ ra từng mãnh rồi biến mất. Hỏang sợ, Narcissus vội kêu lên:
– Ôi! Chàng trai yêu qúy của ta, chàng ở đâu? Hãy quay về đi! Đừng bỏ ta! Ta không chịu được đâu, ta không thể thiếu chàng. Ít ra chàng hãy để cho ta ngắm chàng chứ!
Mặt nước trở nên yên lặng và bóng chàng lại xuất hiện. Và thế là chàng lại say sưa ngắm nhìn hình bóng của mình không biết chán. Người chàng khô héo đi như giọt sương trên cánh hoa đang bay hơi dưới ánh nắng mặt trời gay gắt. Trong khi đó thì nàng Echo vẫn còn yêu chàng tha thiết, mặc dù nàng chỉ còn lại là tiếng vọng. Nhìn thấy chàng Narcissus đau khổ, trái tim nàng đau thắt lại.
– Khốn nạn thân ta! – Narcissus cất tiếng than.
– …thân ta…! – nàng Echo nhại theo.
Cuối cùng, Chàng Narcissus chỉ còn đủ sức nói câu cuối cùng với bóng mình dưới nước:
– Vĩnh biệt!
Và nàng Echo cũng cất giọng yếu ớt nhại lại:
– … vĩnh biệt…
Narcissus ngã gục xuống bãi cỏ xanh ven suối và trút hơi thở cuối cùng. Các nữ thần trong rừng hối hận và thương tiếc kéo đến khóc than bên xác chàng, cả Echo cũng đến. Các nữ thần đi chuẩn bị cho chàng một ngôi mô, nhưng khi quay trở lại để mang xác chàng đi chôn thì họ không tìm thấy xác chàng đâu nữa. Ở chỗ xác chàng nằm mọc lên một lòai hoa trắng rất thơm và được người đời đặt tên là hoa Narcissus, tức hoa thủy tiên.

Trầm Hương

 

Đây là truyền thuyết được lưu truyền lại trong những câu chuyện cổ Hy Lạp về Echo và Narcissus. Câu chuyện có rất nhiều dị bản, trong số đó có một dị bản kể thêm về dòng suối trong vắt, nơi chàng Narcissus luôn soi bóng mình.  Sự thật là dòng suối luôn luôn yêu chàng Narcissus, khi chàng chết đi, nàng khóc suốt ngày suốt đêm và chắc chắn tình yêu của nàng không hề thua kém nàng Echo một chút nào. Nàng khóc, khóc nhiều tới mức mang cả dòng suối trong mát, ngon lành trở thành một dòng suối nước mặn chát. Nàng khóc nhiều tới mới các nàng tiên thường tới chỗ nàng soi mình cũng xót thương cho nàng.

–          Em à, em yêu chàng đến thế sao?

–          Em rất yêu chàng.

–          Tại sao em yêu chàng nhiều tới thế?

–          Em không biết.

–          Em yêu chàng ở điểm nào?

–          Bởi vì em nhìn thấy mình đẹp như thế nào trong mắt chàng.

Câu chuyện thật chua xót. Chàng Narcisuss yêu cái bóng của mình hơn cả nàng Echo, còn dòng suối yêu chàng vì nàng thấy được nàng đẹp như thế nào trong mắt chàng nhưng nàng nào có hay chăng nàng cũng chỉ đang yêu chính cái bóng của mình trong mắt chàng.

Tôi nghe được câu chuyện này từ đêm nhạc của Lê Cát Trọng Lý, và điều đầu tiên tôi nghĩ tới là tình yêu của nàng Clytie giành cho thần mặt trời. Liệu nàng Clytie có yêu thần mặt trời tới mức luôn hướng về tình yêu của mình? Hay tình yêu của nàng, cũng chính là hội chứng Narcissism, yêu bản thân nàng hơn bất cứ điều gì trên đời này?

Chân dung “sếp” thời @

Featured Image:  Teppei Takahashi 

 

“Dear Sir“ (Kính tặng Sir nhân ngày sinh nhật  tháng 7)

Lâu lắm rồi tôi không gõ hai từ này. Cái từ thật xa lạ mà rất… đáng dùng, với tôi. Nó vừa đủ trang trọng theo phép tắc xã giao, vừa đủ khoảng cách cho những tình huống cần khách sáo, vừa tránh được sự cứng nhắc theo kiểu soạn thảo văn bản mẫu: “Kính gửi Ngài… “

Ai nói lai căng thì nói, đôi khi tiếng Anh là ngôn ngữ sử dụng thay cho những điều khó nói bằng tiếng Việt mà cá nhân tôi thấy thật đắc dụng trong đời thường, dĩ nhiên rồi. Ai đánh thuế đâu, nhất là trong kinh doanh thời buổi này. Cái gì nghe là hiểu, tiện lợi, giảm bớt thời gian công sức không cần thiết, không vi phạm luật pháp, thuần phong mỹ tục…là phải cập nhật ngay. Mà có không muốn cập nhật cũng không được, nếu bạn không muốn tụt hậu.

Hơn nữa, mỗi thời thế đều có những xu hướng, trào lưu nổi bật, dẫn tới việc du nhập một số cách diễn đạt ngôn ngữ “thời thượng”. Bây giờ tôi đố bạn dùng từ gì thuần Việt để giới thiệu về internet đó. Mạng à, làm thế nào để phân biệt mạng lưới, mạng nhện, với nó đây? Ít nhất cũng phải là net, đâu có phải tiếng Việt “xịn”? Hay là từ hotel, restaurant chẳng hạn. Một bác sửa xe vá săm lốp ngoài đường, hay một bà bán cá ngoài chợ, chỉ cần nói tên là hiểu liền, dù nửa chữ tiếng Anh họ cũng chẳng biết. Chấp nhận đi bạn nhé.

À, tôi chỉ đang định gõ chữ ‘ Dear Sir ‘ kia mà.

Vâng.
“Thưa Ngài,“
“Dear Sir,“

Hôm nay tôi muốn viết vài dòng về “Sir” cũ của tôi, tự hứa phải cố gắng hoàn thành kịp gửi tới Sir như một lời chúc mừng Sinh nhật chân thành nhất. Và tôi chọn cách viết như nhiều năm qua tôi vẫn viết, khi cần gửi tới Sir, bản báo cáo, thư xin phép hay là các đề xuất liên quan tới công việc hàng ngày…. Mở đầu bằng hai từ ngắn gọn “Dear Sir“…

Dù ai đó tình cờ đọc được có thể nhíu mày vì cái từ không có trong từ điển tiếng Việt này, nhưng tôi tin Sir thì chấp nhận, vì nó vốn đã trở thành một từ hết sức thông thường, phổ cập trong văn hóa email ở nơi mà Sir là người ‘thuyền trưởng’ gần hai thập kỷ qua.

Nếu một ngày bạn gặp một người trong thang máy một tòa cao ốc văn phòng hạng sang có nụ cười rất tươi, ánh mắt ấm áp, thân thiện, à dáng chuẩn nữa chứ, và đặc biệt là không hề giống một mẫu “ sếp “ chung thời bao cấp mà bạn từng hình dung ( bệ vệ, bụng bia, đầu tóc bóng mượt.. ), rất có thể đó là Sir tôi muốn kể.

Tôi đã biết ít nhất cũng hơn một nửa tá chị em – tất nhiên rồi, chỉ phụ nữ mới có khả năng ‘tám’ với người không mấy thân quen nhanh đến thế – vì không kìm nổi sự ấn tượng, ngay sau khi từ phòng Sir bước ra:

“ Ôi sếp em dễ thương thế, làm việc với sếp chắc rất thoải mái …”
“ Ôi sếp làm em nói chuyện rất cởi mở, chẳng có cảm giác sợ sệt gì cả.. “

Như thể họ vừa xóa tan được các ‘ tin đồn ‘ khi chưa gặp Sir thì phải.

Với tôi thì họ nói hoàn toàn chính xác đó, chỉ có điều không đơn giản chỉ là vậy. Nếu bạn cư xử chuẩn trong mọi trường hợp, chắc chắn, bạn sẽ thấy Sir tuyệt vời. Còn nếu bạn có những động thái trệch hướng xem. Bạn sẽ còn thấy Sir… trên cả tuyệt vời, về… cách xử lý vi phạm. Hu hu… Nhưng đừng vội tin tôi, hãy tự trải nghiệm nhé. Hi hi…

Có lần, tôi còn chứng kiến một chuyện rất hài cũng chính từ cái dáng vẻ “không hề sếp” ấy của Sir. Ấy là lần tôi được cử đi cùng Sir và một người có dáng kiểu mẫu ‘ sếp ‘ truyền thống – anh này thuộc hàng ‘ chức sắc ‘ trong Công ty – đi tiếp khách lúc trời đang mưa. Khi cửa xe vừa mở, mọi người cùng bước ra thì ‘ bụp ! ‘ một cây dù bung lên ngay lập tức. Một anh chàng bảo vệ rất chuyên nghiệp đang giơ cao cây dù che mưa hộ tống cho người – tưởng – là – sếp đi cùng đoàn tiến vào nhà hàng. Sir thì đương nhiên là đội mưa giống tôi thôi, trong sự ái ngại, vẻ mặt rất tiến thoái lưỡng nan và đang cố ra hiệu từ chối cái dù của anh cán bộ kia. Còn Sir thì xua tay và rảo bước thật nhanh. Chết cười!

Sự nhầm lẫn này sẽ còn có thể xảy ra cho bất kỳ ai nếu người đó thuộc tuýp “trông mặt bắt hình dong“. Chẳng hạn nếu bạn là nhân viên mới, hay người mới của khách hàng, của đối tác.. tham dự cuộc họp có Sir mà vị trí ngồi trong cuộc họp không định vị chức danh của các thành viên tham dự. Rất có thể bạn sẽ chăm chú lắng nghe một vị giọng nói hào sảng, hùng hồn, miệng vừa nói tay vừa phác những đường nét rất dứt khoát vào không trung, rất quyết liệt hơn là quan sát một vị khác ngồi trầm ngâm, khi thì gật gù, lúc lại nhíu mày suy nghĩ, nếu có phát biểu cũng rất từ tốn, nhẹ nhàng. Đấy, tôi cũng từng chứng kiến nhiều người “ à ra thế ” vào phút chót cuộc họp. Nhầm chết!

Đó mới chỉ là dáng vẻ, phong thái thôi nhé. Điều mà nhiều năm trôi qua tôi chưa hết ‘ mê tín‘ ở Sir là nhân cách và phong cách lãnh đạo đặc biệt cơ.

Đầu tiên tôi không thể không nhắc đến sự bình tĩnh, kiềm chế theo trường phái duy lý của Sir. Không biết Sir có theo đạo giáo nào để rèn cái đức NHU này hay là thiên bẩm. Làm việc sát với Sir gần 20 năm, dù tôi có cố tình theo dõi cũng chẳng bao giờ bắt gặp Sir trong tình trạng ‘ mất kiểm soát ‘. Nổi nóng, mặt đỏ gay, la hét như Trương Phi là những điều không bao giờ có trong lịch sử cũng như viễn cảnh ‘giao tiếp ứng xử’ của Sir.

Có những chuyện, những thông tin đến với Sir vào hàng ‘động trời’, chỉ nghe thấy thôi tôi đã ‘ tim đập chân run, toát mồ hôi hột ‘ mặc dù tôi thì làm cóc gì có trách nhiệm xử lý mà lo với lắng chứ. Ấy vậy mà sau những giây, phút, giờ rồi tới cả vài ngày len lén quan sát cử chỉ, hành động của Sir, tôi tịnh vẫn chẳng thấy một chút nào tỏ ra bối rối, âu lo. Vẫn vẻ mặt, nụ cười thường trực, như mọi ngày, có chăng là trầm mặc hơn chút thôi. Hay là cứ làm lãnh đạo lớn thì “đứt dây thần kinh biểu cảm”. Không dám đâu!

Thật sự phải tới khi tôi trực tiếp được nghe điều nhận xét về cái sự “TRÌ“ của Sir – không phải từ của tôi nhé, trích nguyên văn đấy – của một bác quan chức đáng kính trong ngành, bạn cao niên của Sir, tôi mới dám khẳng định đó là cốt cách của Sir, là cái tạo nên sự khác biệt nổi bật của Sir. Mà điều này không tự dưng sinh ra, không tự dưng tồn tại được đúng không bạn. Đó là sự ‘khổ luyện’ theo năm tháng.

Sự chu đáo, tỉ mỉ cũng là một trong những điều ở Sir làm tôi đi từ ngạc nhiên tới ngỡ ngàng, và càng làm lâu cùng Sir, nó chỉ càng dày lên thêm. Có hơn vài đôi lần tôi cứ nghĩ chắc Sir đã quên béng việc abc, xyz…, quá thời hạn rồi mà. Nhưng không phải vậy, việc gỉ việc gì, từ trọng đại hay bé tẹo teo Sir đều nhớ tất, không quên một cái nào, cái nào cũng lôi ra xử lý hết, chỉ là nhanh hay chậm thôi. May mà tôi cũng không lơ là, sao nhãng. Hú vía!

Đôi khi tôi tự hỏi có phải bộ não Sir có cấu tạo đặc biệt hơn người? Máy tính điện tử có khi còn lỗi, hoặc là tôi bất cẩn, quên, nhầm, sót mà mắc lỗi, chứ Sir thì không. Phù. Có những việc rõ ràng khi Sir móc nó ra thì kiểu gì tôi cũng phải niệm câu ‘ nô tài có lỗi ‘. Tài cách mấy cũng không cãi được vô tội, tang chứng vật chứng rành rành. Chỉ biết càng phải cố mà nghiêm túc, trách nhiệm hơn. Khách quan nhé, chứ không phải câu đùa kinh điển “Điều 1, Sếp luôn đúng“.

Lạ kỳ nữa là dù lịch họp của Sir dày đặc, Sir toàn tự tay thu xếp, tự phải nhớ lịch mà gần như không bao giờ nhầm nhọt cả. Tôi hầu như chẳng khi nào có cơ hội được nhắc tuồng Sir về các cuộc hẹn, chán thế đấy, muốn ghi điểm cũng có dễ ăn đâu. Trừ một đôi lần có túm được vài anh bên quảng cáo nào đó có hẹn ‘giả bộ‘, chẳng ăn thua!

Bận rộn là vậy, tự tay phải làm mọi việc, chẳng có thư ký riêng ‘chưn dài’ gì cả , chỉ có một phòng Hành chính có một vài cô ‘chân cũng không dài‘ (trong đó có tôi, “bí mựt” nhé) phụ giúp vài việc giấy tờ, văn thư, chuẩn bị phòng họp… Nhưng bạn cứ thử không làm con ong chăm chỉ, không tập trung cao độ mà xem, ‘cảnh sát trưởng’ Sir sẽ luôn là người nhắc cho bạn cái việc nhỏ xíu bạn lỡ… bỏ quên trong một chuỗi danh sách công việc dài lê thê, tràng giang đại hải, nhặt cho bạn vài hạt sạn trong mớ văn bản chi chit những chữ là chữ mà bạn kiểm tới kiểm lui mấy lần vẫn sót. Cứ như thần!

Nhớ những ngày cuối năm, nhà nhà, người người, công ty lớn công ty bé đều chạy đua với thời gian cho kịp Tết. Bận mấy nhưng Sir không bao giờ quên công việc tổ chức đoàn cbcnv đi làm từ thiện. Thường là việc này bao giờ cũng phải thu xếp tới trước ngày Cúng ông Táo về trời, coi như hoàn tất việc Công ty, để cho cbcnv còn về lo việc nhà ( đấy, Sir còn nghĩ cho lính nữa chứ ).

Cảm ơn Sir đã tạo điều kiện cho nhân viên chúng tôi tham gia hoạt động này, hiểu được ngoài gia đình, công việc, còn cần phải biết chia sẻ với cộng đồng. “Sống trong đời sống cần có một…đống tiền, ý quên, ngàn lần xin lỗi nhạc sĩ TCS, cần có một tấm lòng.“ Là như thế đó.

Những ngày cuối năm, mọi người, từ lãnh đạo tới thường dân, luôn là thời điểm chúng ta bày tỏ tình cảm, trả nghĩa trả tình cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thầy cô, cấp trên, đồng nghiệp, bạn bè, những người đã giúp đỡ chúng ta…,  sau một năm miệt mài ‘ cày cuốc ‘. Sir cũng vậy thôi. Nhưng chuyện lạ, là Sir còn không quên gửi quà Tết cho gia đình những cựu nhân viên Công ty, có người đã nằm xuống, có người vẫn còn nằm trên giường bệnh. Chuyện này không phải ai cũng biết.

Thậm chí, ngày cuối cùng của năm cũ, Sir còn tự tay mang những cuốn lịch, một vài chai rượu, hộp trà cho các anh chàng trong tổ bảo vệ của tòa nhà, khi ấy Công ty còn chưa có trụ sở riêng. Và cái phòng ‘chưn không dài’ của chúng tôi cũng có một vài hộp bánh phần quà, chị em mỗi người một vài món, mang về nhà ăn Tết. Chai rượu, hộp bánh thì nhẹ thôi, nhưng tấm chân tình của Sir trong đó thì chúng tôi… xách nặng. Sir là ai, có cần phải mất thời gian ‘care‘ tới cả những chuyện ‘nhỏ như con thỏ’ này không. Bạn trả lời giùm tôi nhé. Đắc nhân tâm chứ gì. Đắc gì mà không có tâm thì cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra thôi. Phải không bạn?

Nhân chuyện nói về quà cáp biếu xén, tôi chợt nhớ tới câu chuyện ‘ cười ra nước mắt ‘ về chai rượu quay vòng vòng, tàn dư thời bao cấp chắc bây giờ cũng vẫn còn đó. Sir có lần chia sẻ câu chuyện này với thái độ rất cởi mở, thẳng thắn, chân tình rằng “ một năm làm việc chung với nhau, Tết nhất anh chị em tới thăm nhau có chai rượu để bày tỏ tấm lòng, tình cảm, là bình thường nhưng Sir không muốn sống theo quan niệm “quan nhất thời, dân vạn đại“, để khi anh em không còn đi chung đường không còn muốn nhìn mặt nhau “…

Bởi vậy, nếu có rất nhiều người thật khổ sở (kể cả bạn chỉ là nhân viên “quèn” thôi nhé ) khi mỗi năm hết Tết đến phải chạy đôn chạy đáo kiếm cho bằng được ‘ hàng độc ‘ để biếu ‘ sếp ‘ hầu mong được chút ơn mưa móc cho năm sau thì may mắn cho chúng tôi, tôi nghĩ là đa số anh chị em lãnh đạo cấp trung ở Công ty, lại đều mong chờ tới cái ngày đó. Những ngày duy nhất trong năm được làm khách ở nhà Sir, uống ly rượu tự tay Sir rót mời, ăn những trái cherry xứ người đen bóng, căng mọng, ngọt như đường, mát lạnh ( bí mựt nhé, và xin lỗi là tôi thường ăn cherry nhà Sir… rất hồn nhiên J ). Một cái may nữa là nhân viên Công ty thì càng không phải ‘ lăn tăn ‘ thủ tục này. Bạn cứ việc toàn tâm toàn ý lo Tết cho gia đình và kê gối ngủ ngon nhé, chẳng cần phải hỏi thăm nhà Sir ở đâu, mua quà gì mà không lo sợ bất cứ điều gì.

Anh chị em key staff không ai hẹn nhưng nhiều năm nay đều có lệ tới thăm gia đình Sir vào những ngày 27-28 Tết. Bình thường gặp Sir thì khó nhá, nhưng hôm đó thì thích lắm. Sir ở nhà sẵn sàng đón tiếp, với những loại rượu ngon thượng hạng, bánh ngon tuyệt hảo tự tay phu nhân Sir làm đãi khách, bạn cứ tha hồ mà chén nhé, giống tôi. Và những câu chuyện rất chân tình cứ thế được mọi người chia sẻ để mỗi người đều cảm thấy có gì đó thật sâu, thật lắng đọng trong lòng. Và tin tôi đi, nếu chẳng may bạn ngã vào hầm rượu nhà Sir, thì ba năm sau bạn mới có thể ra được nhé J. Rượu ngon, lại nhiều, chuyện hay cũng chẳng bao giờ hết được…

( Xin lỗi nếu vì chuyện này mà mỗi năm nhà Sir tốn thêm rượu, bánh thì… tôi xin chịu trách nhiệm… tự nguyện không ăn phần của mình nữa L , chứ không chịu trách nhiệm quảng cáo sản phẩm đâu nhé ).

Cứ thế rồi năm tháng trôi, chuyện mà ai cũng biết là cả cái đoàn tàu anh em ấy bao nhiêu năm qua vẫn cứ ở bên Sir, có người đã từng nghỉ một thời gian ngắn rồi lại quay trở lại. Sir có nam châm thì phải, không ai thoát ra được, tôi nghi lắm. (Tôi thì là chuyện ngoại lệ ạ, vì nhà tôi có một ‘tiền đạo cắm’  ở khung thành rồi,  không nhổ rễ lên được đâu nhé ). Nam châm là cái gì vậy nhỉ, nếu chỉ là biện pháp kỹ thuật thì chắc nhiều người làm được chứ. Nó phải là một trái tim biết thu phục lòng người, mới đủ sức hút lâu bền được.

Nhân chuyện nam châm, tôi lại nhớ ra những người bạn của Sir. Sir có những người bạn xuyên biên giới, những người mà tình cờ tôi biết được và chỉ có thể nói là tình bạn đẹp, vì họ gắn kết với nhau giữa các gia đình. Năm 1992, tôi dự một đám cưới mà số khách người nước ngoài nhiều gần như bằng hoặc hơn người Việt. Choáng. Sau này tôi mới biết Sir đã có thời ở nước ngoài, đã từng có thâm niên hoạt động kết giao với người nước ngoài. Thời gian đầu Công ty mới thành lập mọi người hay hát tếu táo ‘ thằng tây nó tiến thì mình giật lùi, thằng tây nó lúi thì mình …giật tiền’. Quan hệ, ứng xử với người nước ngoài thời đó dường như là ghê gớm lắm. Vậy mà ngay trong câu hát đùa vui, cũng thể hiện rất rõ quan điểm ‘ không có gì phải sợ cả “. Càng về sau, tôi càng thấy rõ hơn uy tín của Sir trong con mắt người nước ngoài, từ các đối tác tầm cỡ thế giới, khu vực, thậm chi cả giới chức của một số nước trong khu vực.

Bây giờ, chỉ cần gõ vào Google vài chữ ‘ nghệ thuật lãnh đạo ‘, bạn có thể tìm thấy hàng trăm trang các thể loại kinh nghiệm cần thiết. Nhưng ở thời kỳ thập niên 90 và cuối thế kỷ 20 đó, làm gì có lãnh đạo nào được học các kỹ năng lãnh đạo. Chỉ có học từ Trường Đời thôi. Có lẽ, Sir đã tiếp cận được những người xuất thân từ thế giới văn minh bằng khả năng giao tiếp ứng xử thông minh và chân tình của mình, tìm ra chìa khóa lãnh đạo đúng đắn. Chẳng thế mà thời hoàng kim Công ty đã từng có hơn 10 đối tác nước ngoài danh tiếng lớn nhỏ cùng thời điểm. Một thực tế hết sức ấn tượng và đầy thuyết phục cho những ai còn hoài nghi về tài lãnh đạo của Sir, nếu có.

Sir cũng là người có những câu nói nổi tiếng, rất đáng sưu tập làm ‘cẩm nang‘ về phương châm sống và làm việc:

  • “Cái gì người ta làm được thì mình không những phải làm được mà còn làm tốt hơn.“
  • “Không cần phải học ở đâu xa, học ngay từ đối tác, khách hàng của mình.“
  • “Mỗi người đều có thời gian làm việc như nhau, phải tự sắp xếp để hoàn thành nhiệm vụ của mình thôi. Lãnh đạo còn khó hơn nhân viên vì bị gián đoạn bởi tiếp khách ra vào…“
  • “Làm gì thì làm, phải tự tin dám nhìn thẳng vào mắt của tất cả cbcnv không cảm thấy hổ thẹn.“

…….

Thực tế, những gì Sir làm cho hơn 1000 cbcnv, và cũng gần con số như vậy các gia đình, những thành quả của Công ty đã đạt được dưới sự dẫn dắt của Sir…tôi không thể kể hết và cũng không đủ sức thống kê. Vì nếu ai muốn biết, tìm hiểu tại các nguồn thông tin chính thống của Công ty chắc chắn sẽ có số liệu và thông tin đầy đủ, chính xác. (Mà hình như công ty, à, Tập đoàn, vẫn chưa có Phòng Truyền thống thì phải, cái này nếu chưa có là thiếu sót của công đoàn đó).

Tôi chỉ muốn viết đôi dòng kể chuyện về Sir, dưới một góc nhìn hẹp từ những trải nghiệm thực tế, để chia sẻ với mọi người những câu chuyện đời thường có thể mọi người chưa biết về Sir, là một người Lãnh đạo rất bình dị, thâm trầm và trọng tình nghĩa, thay vì chỉ biết dưới góc độ một Lãnh đạo tài ba, nghiêm nghị, oai phong.

Có thể ở Sir có những điều tôi còn chưa biết. Nhưng là người phàm, ai lại không có sai lầm, có ai là người hoàn hảo  ? Sir cũng không là ngoại lệ, chắc chắn Sir cũng có những chuyện này chuyện khác không hoàn hảo. Nói thẳng thắn, ai cũng có những góc tối của riêng mình. Nhưng thực tế những người đang sống và làm việc quanh Sir nói gì, nghĩ gì về Sir là minh chứng thuyết phục nhất. Điều này thì hơn ai hết, những anh chị em key staff, đối tác, khách hàng, những người đã đồng hành với Sir gần 20 năm qua, là những người đã có câu trả lời.

Tôi viết tất cả những điều này, chỉ với một suy nghĩ gửi tới Sir một món quà Sinh nhật đầu tiên sau khi không còn là nhân viên của Sir. Điều này bao nhiêu năm qua tôi từng nghĩ tới nhưng không làm được. Bây giờ thì nó được viết ra rất nhanh, câu chữ cứ việc tuôn trào theo nhịp gõ phím, tôi chẳng cần nghĩ, cũng chẳng cần sắp xếp. Các câu chuyện có thực tự chúng bật ra, đòi được kể lại, chỉ vậy thôi.

Và một điều là tôi chỉ có thể ‘public’ nó khi tôi không còn đứng trong hàng ngũ nhân viên của Sir nữa, nó mới thực sự khách quan và trung thực, đúng với tâm nguyện của tôi.

Cuối cùng, khi đọc được những dòng chữ này, tôi mong rằng điệu nhạc “Happy Birthday“ sẽ được ngân vang ở đâu đó giúp tôi nói lời chúc mừng Sir.

Chúc Mừng Sinh nhật Sir!

Tôi đã rất biết ơn, tự hào vì đã từng được làm việc với Sir. Một người Lãnh đạo rất phong cách, rất hiện đại và lại rất đời thường. Nhờ có những năm tháng may mắn đó, tôi đã trưởng thành như ngày hôm nay.

Happy Birthday to ChairMan!

 

Julia Le

Bóng của một cái bóng

Featured Image: Art Quirk

 

Thời còn sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa hiện thực, có lúc Milan Kundera chỉ viết cho một độc giả duy nhất, dịch giả của mình. Lúc đó, tác phẩm của ông tới độc giả nhờ bản dịch. Nay Kundera đã thành danh quốc tế. Ông vừa cho xuất bản tập tiểu luận Les testaments trahis[57]. Có đoạn ông lên án mãnh liệt khuynh hướng thiếu thủy chung trong thuật dịch văn chương. Một nhà văn có khả năng và điều kiện làm chủ tác phẩm của mình và những bản dịch là chuyện đáng mừng. Mừng cho nhà văn, mừng cho độc giả. Có nhiều nhà văn lớn rất sành ngoại ngữ, có thể viết thẳng tác phẩm của mình bằng ngoại ngữ. Chẳng mấy khi họ tự dịch. Cũng lạ. Và đáng tiếc. Có lẽ đó là cách duy nhất để có bản dịch “thủy chung”, có khi một cách bất ngờ. Như Marx viết lại bản dịch Tư bản luận của Roy, và thản nhiên tuyên bố: bản tiếng Pháp, do ông viết lại, có giá trị khoa học ngang với bản gốc tiếng Ðức. Tới nay, đụng vấn đề, nhiều độc giả điên đầu, không khẳng định nổi bản nào “gốc” hơn bản nào. Cứ như truyện Cửu Âm chân kinh của Kim Dung ấy. Dù sao, thế giới văn chương đã co lại. Chẳng ai sành nhiều ngoại ngữ. Giao lưu văn hoá vẫn cần người dịch văn. Nghệ thuật dịch còn là đề tài đáng suy nghĩ.

Ngày nay, khốn nạn hơn “nghề” dịch văn, hiếm

Ai thích làm giàu, nên tránh xa. Ở Pháp, đó là một nghề khốn khổ. Người được Giải dịch thuật quốc gia năm 1992 ở Pháp, vì đã dịch toàn bộ tác phẩm của một nhà văn lớn của Bồ Ðào Nha, đã thổ lộ trong báo Le Monde: tính theo giờ, lương không bằng lương người quét dọn thuê (femme de ménage). Ðúng thế. Giá công đoàn (tarif syndical) hiện nay ở Pháp là 87 FF một trang 1500 ký hiệu. Người dịch giỏi, dịch cho nhà xuất bản lớn, dịch sách ăn khách, có thể hy vọng 130 FF một trang. Dịch cho “ra hồn” văn một tác phẩm hai, ba trăm trang có thể mất hơn cả năm. Dịch xong, có khi nhà xuất bản không thích bản dịch, hoặc không còn khả năng xuất bản văn chương ngoại quốc. Lúc đó, có thể toi công, ít nhất một phần lớn. Muốn thu hoạch khá, đều đặn, và đảm bảo hơn, nên quét dọn thuê. Chí ít cũng lợi cho mình, cho người.

Ai thích danh vọng, không nên mất thời giờ dịch văn. Nghề này chưa mấy khi mang danh vọng đến ai cả. Có lẽ chỉ ở Việt Nam mới có chuyện Ðoàn Thị Ðiểm nổi tiếng hơn Ðặng Trần Côn. Nhưng Ðoàn Thị Ðiểm đã thành danh trước Ðặng Trần Côn. Ngày nay, khi một tác phẩm được chú ý, người ta nhớ tới tác giả, chẳng mấy ai nhớ tên dịch giả. Bạn đọc đoán thử tên một dịch giả của Nadine Gordimer hay Umberto Eco xem sao.

Ai thích an phận, càng nên xa chuyện dịch văn. Trớ trêu như “nghề” này, hiếm. Thành tâm đến mấy, cẩn trọng đến mấy, cũng trở thành kẻ phản bội, đối với một số độc giả, có khi đối với chính nhà văn. Xưa, khi Baudelaire công bố tác phẩm của Edgar Poe, thiên hạ liền nhao nhao lên án. Ngày nay, có nhiều bản dịch Edgar Poe khác, không mấy ai lẫn lộn Baudelaire với Edgar Poe. Tuy vậy độc giả Pháp vẫn thích đọc Edgar Poe qua bản dịch của Baudelaire.

Ai thích làm chính trị Việt Nam, và làm một cách ngu ngốc, có thể đầu tư vào chuyện dịch văn Việt Nam. Trên thế giới hôm nay, Việt Nam là một xó hiếm hoi mà dịch một tác phẩm văn chương có giá trị chính trị. Nhưng phải chấp nhận một tỷ lệ lời lỗ hạng bét: nó chỉ có giá trị ấy đối với vài ngài quan văn hủ lậu, ngày càng bất lực, và trong đà tiêu vong.

Thế mà còn khối người tứ xứ ham dịch văn, Trần mỗ đã có dịp gặp vài người, xin tặng họ bài này.

Theo báo Le Monde, Borges có lời tuyên bố thú vị về tác phẩm tiếng Pháp của ông: “Borges est une invention du traducteur[58]”. Ông cũng có quan điểm sâu sắc về tác phẩm văn chương: “Il est absurde de supposer qu’un livre est beaucoup plus qu’un livre. Il commence à exister quand un lecteur l’ouvre[59]”. J.P. Sartre đã phân tích tỉ mỉ vấn đề này trong tiểu luận Qu’est-ce la littérature[60]? Borges còn đi xa hơn khi nói tư duy chỉ là “le rêve d’une ombre[61]”.

Umberto Eco, đối với bản Le nom de la rose[62], đã tuyên bố đại khái: tôi thích thú khám phá, tìm hiểu một bộ mặt của tác phẩm của tôi mà chính tôi cũng không ngờ đến.

Hai nhà văn không nhỏ này coi bộ không hằn học như Kundera đối với những dịch giả của họ. Phải chăng vì họ không có nhu cầu khẳng định mình qua tác phẩm? Ðối với họ, điều ấy thừa? Hoặc vì họ có quan điểm cao cả hơn về văn chương?

Hiện nay, ở Pháp, có hơn 50 bản dịch tác phẩm của Homère. Ai vô phúc đọc hơn một bản dịch, sẽ sửng sốt. Và có thể chết điếng. Bản nào chân chính, thủy chung? Truyện Kiều đã có ít nhất 2 bản tiếng Pháp. Thế mà cách đây mấy tháng, một vị giám đốc UNESCO còn nỗ lực ủng hộ đăng một bản dịch Kiều qua thể alexandrin. Biến lục bát thành alexandrins! Một chuyện “tếu” hiếm hoi. Nhưng, xét cho cùng, không tếu hơn chuyện biến Chinh Phụ Ngâm thành song thất lục bát. Ai có thời giờ đọc những bản dịch Kinh thánh của người Ky tô giáo sẽ hết sức ngạc nhiên. Và có thể hết phân vân về vấn đề dịch thuật. Kinh thánh mà con chiên dám dịch dường như tùy ý, nói chi đến văn người phàm mắt thịt. Bi hài kịch bé tí của người dịch văn ở đó. Không ai phí thời giờ dịch văn nếu không thiết tha tác phẩm mình dịch. Nhưng đã dịch, ắt biến thành kẻ phản bội. Hiện tượng khôi hài này có thể hiểu được. Sự phát triển không đồng đều dường như là quy luật của cuộc sống. Trong văn chương, sự phát triển không đồng đều của tư duy có thể là nguồn gốc của những mâu thuẫn giữa nhà văn, độc giả, dịch giả. Nhưng có lý do cơ bản hơn.

Hiện nay, đã có khá nhiều người hiểu, trong văn chương, ngôn ngữ vừa có nghĩa vừa có tình, và đôi khi tình với nghĩa rắc rối không thua tình nghĩa… vợ chồng. Trong văn các nhà văn lớn, có khi nghĩa chửi tình, tình xuyên tạc nghĩa, và do đó nghĩa đậm tình, tình thấm nghĩa. Ðó là nhận xét nổi tiếng của Paul Valéry: Il y a littérature lorsque le langage est en question[63]. Tra hỏi ngôn ngữ là tra hỏi một nền văn hoá, tra hỏi chính mình. Có lẽ, đối với người dịch văn, không có giây phút nào hào hứng hơn giây phút ấy. Người đầu tiên dịch câu kinh thánh Au commencement était le Verbe thành Thoạt tiên có Ngôn ngữ hẳn đã sống cả một thời đại qua một giây phút hiếm hoi trong đời người. Không hiểu đã có ai dịch câu Je est un Autre của Rimbaud cho ra hồn chưa ? Nếu chỉ biết Ta là Tha nhân, không nên dịch.

Tiếc thay, trong văn chương, tác phẩm có ý độc đáo, hiếm. Không phải ai cũng là Nitzche, Dostoievsky, Kafka, Borges, Bierce, Sartre, Nguyễn Huy Thiệp… Bình thường, nhà văn có bản lĩnh chia xẻ một số giá trị tiến bộ của nhân loại đương thời và có khả năng tra hỏi ngôn ngữ của mình, bắt nó lột xác, biến những giá trị ấy thành ngôn ngữ chung của một cộng đồng. Trong hoàn cảnh ấy, dịch giả không được thú vị thể hiện một tư tưởng mới, chỉ được cái thú thể hiện tấm lòng của một người. Ðiều ấy thực tế chăng? Với giá nào?

Nhà văn thể hiện mình qua phong cách viết của mình. Người cầm bút trở thành nhà văn khi tạo phong cách viết riêng. Ðã là phong cách riêng, không ai bắt chước được. Ðã không ai bắt chước được, ngay trong ngôn ngữ gốc, làm sao dịch được? Thế mà thế. Không ai có thể bắt chước cách viết của một nhà văn, nhưng chuyện dịch tác phẩm văn chương vẫn có ý nghĩa, có giá trị, vẫn nên làm. Không ai, kể cả Picasso, có thể vẽ lại Guernica. Không ai, kể cả Nguyễn Huy Thiệp, có thể viết lại Tướng về hưu. Tại sao vậy? Không phải vì ngày nay không ai có khả năng vận dụng những kỹ thuật tạo tranh của Picasso, hành văn của Nguyễn Huy Thiệp. Chỉ vì Guernica đã được một người vẽ đúng lúc đó, trong hoàn cảnh đó, cách đó.Chỉ vì Tướng về hưu đã được viết lúc đó, trong hoàn cảnh đó, với giọng văn đó. Và lúc đó, trong hoàn cảnh đó, vẽ cách đó, viết cách đó, thể hiện được đòi hỏi nhân cách của con người. Sự trùng hợp ấy chỉ có thể xảy ra một lần, ở một nơi, trong một nền văn minh. Nó đi vào di sản văn hoá của con người. Do đó, như nhiều người đã từng nhận xét, tác phẩm có đời sống riêng, độc lập với tác giả.

Vì thế, ngày nay, dù Nguyễn Huy Thiệp nhại văn của chính mình, cũng không viết lại được Tướng về hưu. Cũng vì thế, Tướng về hưu có thể dịch được. Nó không đòi hỏi dịch giả nhại văn phong của Nguyễn Huy Thiệp trong tiếng Việt. Làm sao làm được ? Nó “chỉ” đòi hỏi dịch giả thể hiện, trong một ngôn ngữ khác, thái độ của một người trước thời đại của mình xuyên qua cách sử dụng ngôn ngữ của mình. Khốn nạn thay, và may thay, nếu thái độ của một người trước thời đại của mình có nhiều điều người khác có khả năng hiểu, khả năng thông cảm, thì thời đại của Nguyễn Huy Thiệp, ngôn ngữ của Nguyễn Huy Thiệp không phải là thời đại của người Pháp, không phải ngôn ngữ của người Pháp.

Người dịch văn Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Pháp không thể chỉ nhại cốt truyện, ý tưởng, cấu trúc, âm nhạc, nhịp điệu trong văn Việt Nam của Nguyễn Huy Thiệp. Nếu chỉ có vậy, chán ngắt, không mấy nhà xuất bản văn chương dám đăng, không mấy độc giả cảm nhận được văn của Nguyễn Huy Thiệp. Phải khơi được trong độc giả Pháp một thái độ tương đương đối với thời đại của chính người Pháp (điều này có thể, vì thời đại của riêng từng người có một mẫu số chung, thời đại này, con người hôm nay), qua chính ngôn ngữ Pháp (điều này chỉ có thể thực hiện được từ đáy lòng tiếng Pháp). Phải tra hỏi được chính tiếng Pháp, như Nguyễn Huy Thiệp đã tra hỏi tiếng Việt. Tóm lại, phải thực sự dịch văn.

Thái độ của một nhà văn trước thời đại của mình, đối với thân phận của mình và của đồng loại, làm sao xác định được, khi nó chỉ thể hiện qua văn phong ? Thường thường, chính nhà văn cũng rất lờ mờ, thậm chí hời hợt ở điểm này. Mấy ai tin rằng La Comédie Humaine[64] của Balzac vĩ đại vì nó thể hiện tư tưởng quân chủ của ông? Những nhà văn vừa làm chủ tư tưởng của mình, vừa làm chủ ngòi bút của mình, như J.P. Sartre, rất hiếm. Ðể hiểu câu “L’enfer, c’est les autres[65]” trong Huis-clos, ta có thể dựa vào khái niệm l’Être-pour-Autrui[66]trong l’Être et le Néant[67]. Ta dựa vào đâu để xác định nội dung tư tưởng của một hình thức hành văn? Vào cách cảm nhận của ta. Nhà văn thể hiện mình trong thời đại của mình xuyên qua một phong cách cá biệt sử dụng ngôn ngữ của thời đại ấy. Ta cảm nhận điều ấy qua cách (cũng cá biệt) ta tiếp xúc giọng văn ấy. Người viết chỉ có thể viết chính mình. Người đọc có thể hiểu ý của người viết một cách “khách quan”, khi ý đó được thể hiện một cách “khách quan”, bằng ngôn ngữ trong dạng “khách quan” của nó, tóm lại, khi một ý tầm thường được diễn tả qua ngôn ngữ tầm thường (lieu commun).

Khi tình ý của tác giả chỉ thể hiện qua phong cách viết, độc giả không thể hiểu, trong nghĩa bình thường, chỉ có thể cảm. Không có cảm giác khách quan. Con người chỉ có thể cảm chính mình. Nghệ thuật dịch đẹp, và khốn nạn, ở đó. Người dịch trước nhất là độc giả, sau là người viết lại, trong một ngôn ngữ khác, những gì mình hiểu và cảm nhận được từ tác phẩm. Do đó, ngoài ngữ nghĩa thông thường, người dịch chỉ có thể viết chính mình. Nhưng dịch giả “là” dịch giả, không thể “là” tác giả. Dịch giả có thể có nhiều suy nghĩ, cách phản ứng, cư xử và viết rất khác tác giả, không thể dùng tác phẩm của bất cứ ai để thể hiện chính mình. Vậy, trong bản dịch một tác phẩm, cái mình ấy là cái mình nào?

Có nhiều người không ngờ đến, mỗi người có hằng hà sa số cái mình. Mỗi người có một cái mình cá biệt. Khi có nhu cầu viết “chính mình”, nên viết thẳng những gì mình muốn viết, không nên đi tìm tình ý ở đâu khác ngoài cái đầu của mình, không nên dịch văn của người khác. Chỉ thế mới có khả năng tạo một lối viết riêng, khả năng hành văn. Nhưng rõ ràng, lúc dịch văn, ngay trong khi ta viết lại tác phẩm của người khác, ta chỉ có thể viết chính mình. Thế thì cái mình ấy là ai ? Nó không là cái “mình cá biệt” kia nữa. Nó là cái “ta” hình thành trong giây phút ta tiếp cận tác phẩm của người khác. Do đó nó vừa là ta, vừa không hẳn là ta, và cũng do đó, bản dịch vừa là tác giả, vừa không hẳn là tác giả. Nó là tác giả qua sự cảm nhận của độc giả. Nó là:

Mình với ta tuy hai mà một,
Ta với mình tuy một mà hai
bởi vì ta với mình chung một ngôn ngữ. Có thể trớ trêu không thua tình yêu.

Vì dịch giả có thể xúc động mãnh liệt trong lúc cảm nhận tác phẩm của người khác, nó có thể tái tạo sự xúc động ấy trong một ngôn ngữ khác. Vì, qua tác phẩm, ta may mắn gặp một người, ta kêu gọi loài người tìm nhau. Tính chất văn hoá, nghệ thuật của dịch thuật ở đó.

Theo luật pháp nước Pháp, dịch giả được coi như một tác giả, ít nhất ở điều này: có quyền cấm nhà xuất bản in tên mình trên tác phẩm. Ngược lại, dịch giả thực sự là lính đánh thuê. Nhà xuất bản luôn luôn giành quyền sửa chữa bản dịch. Khi dịch giả không chấp nhận sửa chữa theo ý nhà xuất bản, dịch giả chỉ còn quyền rút tên. Bản dịch của mình sẽ bị người khác sửa và đứng tên. Ðiều này đúng không chỉ trong dịch thuật. Trong nhiều lãnh vực khác, thí dụ nghệ thuật viết kịch bản, cũng vậy. Ai cũng biết kịch bản phim Freud của John Huston, cơ bản do Sartre sáng tác, nhưng lại do người khác đứng tên. Ngược lại, Sartre có quyền cấm dựng vở kịch Les mains sales[68]trong các nước tư bản vì ông cho rằng, trong tình hình nào đó, thời chiến tranh lạnh, dựng vở kích ấy ở các nước ấy là khoác cho nó một ý nghĩa chính trị ngược với ý nghĩa của nó. Qua đó, ta thấy luật pháp và thực tế có thể chửi nhau. Dù sao, không nên lẫn lộn nhà văn với dịch giả. Một người sáng tạo một phong cách viết mới trong một nền văn hoá. Một người mang một nhân cách, có thể mới, có thể không mới nhưng vẫn giàu nhân cách, của một nền văn hoá chia xẻ với một nền văn hoá khác. Do đó, cả hai đều tạo giá trị. Trong nghĩa đó, coi dịch giả như một loại tác giả, không hoàn toàn vô lý.

Dù sao, tác phẩm trở thành văn chương do kích thước lịch sử độc nhất vô nhị nói trên. Do đó, tác phẩm văn chương luôn luôn gắn với tác giả sáng tác nó. Bản dịch hay mấy cũng chỉ là bản dịch: nó không thể có kích thước lịch sử kia. Có thể vì vậy nhiều người coi dịch giả như cái bóng của nhà văn. Ðiều ấy đúng chăng, có thể thực hiện được chăng? Ðiều đó đúng trong nghĩa: dịch giả, cũng như bản thân tác giả, không thể tái tạo tác phẩm trong kích thước lịch sử của nó. Ðiều đó sai trong nghĩa: bản dịch là một bản sao mờ nhạt hay lệch lạc của nguyên tác.

Dịch giả không thể là bóng của nhà văn. Bóng của nhà văn lẽo đẽo theo nhà văn khi nắng trời. Còn bóng của tác phẩm, khi có, là cái bóng ngủ trên quầy sách khi tác phẩm được chưng dưới ánh đèn, trong tiệm sách. Dịch giả chỉ có thể “là” bóng của một cái bóng! Chính vì, qua tác phẩm của mình, nhà văn chỉ là một cái bóng nên có thể “nhập” vào hồn người khác. Nhưng cũng vì vậy, nó chỉ có thể nhập hồn người với tư cách lờ mờ của một cái bóng. Tác phẩm nghệ thuật chỉ hình thành qua quá trình đó, và chỉ có thể tồn tại nhờ hiện tượng đó. Ðó là ý nghĩa của hai nhận xét trên của Borges. Nhà văn lớn không chỉ “có” một vài cái bóng lẽo đẽo theo mình, mà có hàng triệu cái bóng quây quần trong thế giới ngôn ngữ mình khởi tạo, trong đó có bóng của những dịch giả. Trên đời này chỉ có một loại sách luôn luôn thủy chung với tác giả viết ra nó. Loại sách đó không cần dịch giả để tới người khác. Ðó là sách toán. Trên đời này cũng chỉ có một loại ngôn ngữ thủy chung với nội dung người sử dụng nó đã trút vào nó, đó là ngôn ngữ lập trình trong máy tính. Loại ngôn ngữ này được nhận diện bởi một định trình gọi là định trình biên dịch. Ðịnh trình ấy, ngày nay, không ai bỏ công viết, chỉ cần kê văn phạm và ngữ vựng, rồi dùng máy, sẽ tự động tạo ra một ông thầy chấm điểm tuyệt vời, không bao giờ nhầm lẫn. Nhưng xưa nay, chỉ người mới có khả năng dịch văn thành văn.

Ðiều ấy có nghĩa: ngôn ngữ vừa là cá nhân từng người, vừa là cộng đồng những người chung ngôn ngữ. Rộng hơn, nó có nghĩa: văn hoá vừa là cá nhân từng người, vừa là cả nhân loại. Ngoài mâu thuẫn ấy, nghệ thuật hành văn, nghệ thuật dịch, vô nghĩa, vô tình. Hoài bão “mình là chính mình” qua tác phẩm của mình của nhiều nhà văn, là một ảo vọng, ảo vọng của các nhà văn hồi thế kỷ thứ 19. Nay, ngày càng ít người đeo đuổi ảo vọng ấy. Từ đó tới nay người ta đã hiểu được đôi điều: một quyển sách, tự nó, chỉ là một tập giấy lem nhem mực, chẳng “có” tình ý gì hết, càng chẳng có khả năng lưu trữ một con người. Tác phẩm hình thành khi có người đọc, tái tạo nó trong thế giới tinh thần của loài người, xuyên qua một con người. Do đó, có hai người đọc một tiểu thuyết là đã hình thành hai tác phẩm khác nhau, có khi một cách khủng khiếp. Tác phẩm hay, khác best-seller tầm thường ở đó, chính là tác phẩm càng nhiều người đọc càng khơi nhiều cách cảm nhận, suy luận, càng nới rộng chân trời sáng tạo của con người. Nhà văn đích thực, nhà văn lớn ở chỗ ấy.

Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

Phải là đại văn hào mới biết thốt câu hỏi ấy, ngay từ thời xa xưa ấy. Ta có thể khẳng định: ngày nào nỗi đau nhân tình của Tố Như còn là một trong những nỗi đau của nhân loại, ngày ấy Tố Như còn “là” Tố Như, trong mắt người khác, vì còn người có lý do khóc Tố Như. Vì vậy ngày nay còn người cặm cụi dịch lại Homère, Shakespeare, Kafka, Kiều… Vì trước khi biết dịch văn phải biết đọc văn, biết làm người.

Có lẽ ngày nay hiếm có nơi nào còn lắm người đeo đuổi hoài bão trên một cách thiết tha như ở Việt Nam. Ðiều ấy có ý nghĩa của nó. Xưa nay người Việt trọng văn hơn võ, hơn tiền. Suốt cả thế kỷ này, ở Việt Nam, viết văn không phải chuyện đùa, có khi đi tù, có khi mất mạng. Trong hoàn cảnh ấy, nhu cầu khẳng định mình một cách tuyệt đối, quyết liệt, qua văn chương, biểu hiện sự tự trọng của con người. Nó đáng quý, đáng trọng. Nó là một giá trị nhân bản trong hoàn cảnh ấy.Trong hoàn cảnh khác, nhu cầu đó thường khiến con người mở toang của đi vào thế giới mênh mông, lạ lùng này, xem xét, tìm hiểu đời và người. Qua đó, hiểu thêm chính mình, hiểu được tính chất mở, năng động, tổng hợp, của giá trị, của nhân cách, của văn chương.

Chuyện ấy không thể thực hiện được ở Việt Nam. Trong hoàn cảnh Việt Nam, hình ảnh nhà văn mê man từng câu, từng chữ, từng dấu chấm, dấu phẩy thoát thai từ ngòi bút của mình, thiêng liêng hoá tác phẩm của mình, và do đó tê liệt hoá nó, là một hình ảnh đẹp. Ðẹp trong buổi bừng tỉnh của ý thức, với những khát khao làm người của nó. Nhưng nếu ngừng ở đấy, nếu chỉ có bấy nhiêu, làng văn Việt Nam chưa thể hoà nhập vào thế giới, vì ngày nay, kích thước của con người, và do đó kích thước của văn chương không thể thu hẹp trong phạm vi một cái làng. Dù làng ấy ở Hà Nội hay Paris. Ðối với dịch giả cũng vậy. Người ngoại quốc muốn dịch văn Việt Nam thành văn, phải hiểu, hoặc cảm rằng người Việt là một bộ phận cấu tạo nhân cách của thời đại này. Người Việt muốn dịch văn Việt Nam phải muốn làm người Việt ngang tầm thời đại. Ðương nhiên, đó là điều kiện cần thiết, chưa đầy đủ…

 

Phan Huy Đường

11-1993

Sự cáo chung của chân lý

Featured Image: Photomaginarium

 

(Chương XI tác phẩm Đường Về Nô Lệ do Phạm Nguyên Trường dịch,
Nhà xuất bản Tri thức ấn hành, năm 2009)

“Điều đặc biệt là bất cứ ở đâu quốc hữu hóa tư tưởng cũng đồng nghĩa (pari passu) với quốc hữu hóa công nghiệp.” – E. H. Carr

Muốn cho mọi người cùng phục vụ một hệ thống các mục tiêu duy nhất, được kế hoạch của xã hội trù liệu, thì cách tốt nhất là buộc tất cả cùng phải tin tưởng vào các mục tiêu đó. Chỉ dùng các biện pháp cưỡng bách thì bộ máy toàn trị chưa thể hoạt động hữu hiệu được. Điều quan trọng là làm sao mọi người cùng coi các mục tiêu đó là của chính mình. Mặc dù những quan điểm như thế được lựa chọn và áp đặt từ bên ngoài, nhưng chúng phải trở thành niềm tin của quần chúng, phải trở thành tín điều của tất cả mọi người, sao cho các cá nhân có thể hành động một cách tự phát mà vẫn theo đúng ý của người lập kế hoạch. Và nếu trong các nước toàn trị người dân không cảm thấy họ bị áp bức như là những người sống trong các nước tự do tưởng tượng thì chủ yếu là vì chính phủ các nước này đã khá thành công trong việc buộc người dân suy nghĩ theo hướng chính quyền muốn.

Có thể làm được điều đó bằng những hình thức tuyên truyền khác nhau, kỹ thuật này đã phổ biến rộng rãi, chẳng cần nói thêm ở đây làm gì. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng công tác tuyên truyền cũng như kỹ thuật tuyên truyền không phải là những đặc điểm riêng biệt của chủ nghĩa toàn trị. Điều duy nhất, đặc trưng cho chính sách tuyên truyền trong chế độ toàn trị là tất cả bộ máy tuyên truyền đếu hướng đến cùng một mục tiêu và tất cả các công cụ đều được phối hợp nhằm tạo ảnh hưởng đối với các cá nhân theo cùng một hướng và tạo ra một Gleichschaltung[1] đặc thù trong đầu óc mọi thần dân. Kết quả là, hiệu ứng mà nó tạo ra khác hẳn không chỉ về lượng mà còn khác về chất so với hiệu ứng tuyên truyền cho những mục tiêu khác nhau do nhiều chủ thể độc lập và cạnh tranh với nhau tiến hành. Khi tất cả các phương tiện thông tin đều bị một bộ máy duy nhất kiềm soát thì vấn đề không còn là reo rắc quan điểm này hay quan điểm kia nữa. Khi đó một tuyên truyền viên khéo léo có thể nhào nặn tâm trí quần chúng theo bất kỳ hướng nào mà anh ta chọn, ngay cả những người thông minh và có tư duy độc lập cũng không thể hoàn toàn tránh được ảnh hưởng của bộ máy tuyên truyền, nhất là nếu họ lại bị cách ly với các nguồn thông tin khác trong một thời gian dài.

Nhưng trong khi tại các quốc gia toàn trị bộ máy tuyên truyền chi phối hoàn toàn tâm trí của dân chúng, thì hiệu quả đạo đức đặc biệt nảy sinh không phải từ kỹ thuật tuyên truyền mà lại từ mục tiêu và nội dung tuyên truyền toàn trị. Nhưng nếu hoạt động của nó chỉ giới hạn ở việc áp đặt một hệ thống các giá trị mà xã hội đang cố gắng hướng tới thì bộ máy tuyên truyền chỉ là biểu hiện cụ thể của những đặc điểm của đạo đức tập thể chủ nghĩa mà chúng ta đã bàn tới bên trên. Nếu mục tiêu của nó chỉ là dạy cho dân chúng một tập hợp các chuẩn mực đạo đức xác định thì vấn đề sẽ chỉ còn là cái chuẩn mực đạo đức đó là tốt hay xấu mà thôi.

Như chúng ta đã thấy, các chuẩn mực đạo đức của chủ nghĩa toàn trị khó mà được chúng ta chấp nhận. Ngay việc phấn đấu cho sự bình đẳng bằng cách quản lý tập trung nền kinh tế chắc chắn sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng theo thang bậc của nhà nước, nghĩa là chắc chắn sẽ dẫn đến việc quyết định bằng những biện pháp cưỡng bức độc đoán địa vị của từng cá nhân trong trật tự thứ bậc mới, còn phần lớn các yếu tố đạo đức nhân bản như sự tôn trọng đời sống con người, tôn trọng kẻ yếu và tôn trọng cá nhân sẽ đơn giản là biến mất. Nhưng dù nó có bị đa số coi kinh đến đâu, dù chuẩn mực này có làm thay đổi các tiêu chuẩn đạo đức, không phải lúc nào cũng có thể nói rằng nó là phi đạo đức. Đối với những nhà đạo đức học theo trường phái bảo thủ, chuẩn mực này còn có một số nét hấp dẫn hơn là các tiêu chuẩn nhẹ nhàng và khoan dung của xã hội tự do.

Nhưng bộ máy tuyên truyền toàn trị còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng hơn, có tính phá hoại hơn rất nhiều đối với tất cả các hệ thống đạo đức nói chung vì nó động chạm đến một trong những nền tảng của đức hạnh: ý thức và sự tôn trọng chân lý. Do bản chất các nhiệm vụ mà nó theo đuổi, bộ máy tuyên truyền toàn trị không thể tự giới hạn mình vào việc tuyên truyền các giá trị, vào những tranh cãi về quan điểm và niềm tin đạo đức được người ta tuân thủ, dù ít dù nhiều, theo các quan điểm thịnh hành trong xã hội, mà còn lan sang cả lĩnh vực nhận thức sự thật, một địa hạt khác hẳn của trí tuệ con người. Điều này xảy ra là bởi vì, thứ nhất, muốn buộc người ta chấp nhận các giá trị chính thống thì phải biện minh chúng, nghĩa là phải chỉ ra mối liên hệ của chúng với các giá trị mà người dân vẫn coi trọng, mà muốn làm như thế thì phải khẳng định được mối liên hệ nhân quả giữa mục đích và phương tiện. Và thứ hai, vì sự phân biệt giữa mục đích và phương tiện trên thực thế không phải lúc nào cũng dứt khoát và rõ ràng như lý thuyết cho nên phải làm cho quần chúng đồng ý không chỉ với mục tiêu cuối cùng mà còn chấp nhận các quan điểm về các sự kiện, vì đó là cơ sở để đề ra các biện pháp cụ thể.

*

Chúng ta đã thấy rõ rằng bất kỳ kế hoạch kinh tế nào bao giờ cũng ngầm định một sự nhất trí của toàn dân về một bộ chuẩn mực đạo đức kiện toàn, một hệ thống giá trị bao trùm lên tất cả; đây là điều không thể nào tồn tại được trong xã hội tự do; người ta phải tạo dựng ra nó. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng nhà lập kế hoạch không nhận thức được như thế ngay từ đầu và ngay cả nếu như nhận thức được thì cũng khó mà tạo được chuẩn mực đạo đức bao trùm như thế trước khi bắt đầu soạn thảo kế hoạch. Xung đột giữa các nhu cầu khác nhau sẽ dần xuất hiện và khi chúng lộ rõ thì phải có quyết định. Như thế nghĩa là chuẩn mực giá trị làm kim chỉ nam cho quyết định không phải là in abstracto[2] khi phải quyết định mà phải được tạo ra cùng với chính các quyết định đó. Chúng ta cũng thấy rõ rằng việc không thể tách vấn đề giá trị khỏi các quyết định cụ thể làm cho chính phủ dân chủ, trong khi không có khả năng soạn thảo tất cả các chi tiết kỹ thuật cụ thể, càng không có khả năng quyết định các giá trị làm kim chỉ nam cho hoạt động của nó.

Vì cơ quan lập kế hoạch buộc phải thường xuyên giải quyết các vấn đề công lao mà không có bất kỳ quy tắc đạo đức rõ ràng nào cho nên nó phải thường xuyên biện minh hay ít nhất là thuyết phục dân chúng tin rằng đấy là các quyết định đúng đắn. Và mặc dù kẻ đưa ra quyết định có thể chỉ dựa vào định kiến của mình, người ta vẫn buộc phải tuyên bố công khai một nguyên lý chung nào đó vì các thần dân không chỉ phải tuân thủ một cách thụ động mà phải ủng hộ đường lối một cách tích cực nữa. Nhu cầu hợp lý hóa thái độ yêu ghét chủ quan, tức là những thứ đóng vai trò dẫn đạo người làm kế hoạch trong nhiều quyết định của mình, và nhu cầu dẫn giải các lý lẽ của mình với hình thức phù hợp nhằm lôi kéo được càng nhiều người càng tốt sẽ buộc người ta phải nghĩ ra đủ thứ lý luận, tức là những nhận định về các mối liên kết giữa các sự kiện với nhau, các lý luận này sẽ trở thành một phần của hệ tư tưởng chính thống.

Quá trình sáng tạo “huyền thoại” nhằm biện hộ cho các hành động của chính quyền không phải lúc nào cũng là việc làm có ý thức. Lãnh tụ của xã hội toàn trị có thể hành động trên cơ sở lòng thù hận bẩm sinh của ông ta đối với trật tự hiện hành và ước mơ thiết lập một trật tự thứ bậc mới, phù hợp với quan niệm về công bằng của chính ông ta mà thôi; có thể đơn giản là ông ta không thích người Do Thái, những người thành đạt trong cái trật tự mà ông ta không thể chen chân vào và mặt khác, ông ta lại thán phục những người cao to, tóc vàng, tức là trông giống như các nhân vật anh hùng trong những cuốn sách mà ông ta đã đọc thời niên thiếu. Vậy là ông ta vồ vập ngay những lý thuyết cung cấp cơ sở hợp lẽ cho chính các định kiến mà ông ta chia sẻ với các đồng đảng của mình. Các lý thuyết giả khoa học trở thành một phần của hệ tư tưởng chính thống, là kim chỉ nam cho hành động của nhiều người, xuất hiện như thế đấy. Hay là thái độ căm ghét nền công nghiệp và thi vị hóa đời sống thôn dã khá thịnh hành, lại được củng cố thêm bằng lý luận (có lẽ là sai) rằng thôn quê sinh ra các chiến binh quả cảm, lại tạo ra dưỡng chất cho một huyền thoại khác – huyền thoại “blut und Boden”[3], chứa đựng không chỉ các giá trị cao cả mà cả một loạt các khẳng định nhân quả, những khẳng định một khi đã trở thành lý tưởng dẫn đạo cho hoạt động của toàn xã hội rồi thì không ai được phép nghi ngờ nữa.

Nhu cầu thiết lập các giáo điều chính thống như là công cụ định hướng và tập hợp các cố gắng của tất cả mọi người đã được nhiều lý thuyết gia của hệ thống toàn trị đặt ra. “Lời nói dối hữu ích” của Platon cũng như “các huyền thoại” của Sorel phục vụ cho cùng mục đích như lý thuyết chủng tộc của quốc xã hay thuyết nhà nước phường hội của Mussolini. Chúng chỉ là những quan niệm cá biệt dựa trên các sự kiện mà sau đó được trau truốt thành các lý thuyết khoa học nhằm biện minh cho các định kiến có sẵn mà thôi.

*
Cách tốt nhất để người dân chấp nhận các giá trị mà họ phải phục vụ là thuyết phục họ rằng đấy là các giá trị mà họ hay ít nhất là những người ưu tú nhất trong số họ vẫn luôn luôn tin tưởng, chỉ có điều trước đây họ đã hiểu chưa thật đúng. Lúc đó nhân dân sẽ chuyển lòng trung thành từ các chúa trời cũ sang các chúa trời mới với kỳ vọng rằng các chúa trời mới đúng là điều mà họ cần nhưng từ trước đến nay họ chỉ mới lờ mờ cảm thấy như thế. Và biện pháp tốt nhất là gán cho các ngôn từ cũ những ý nghĩa hoàn toàn mới. Ít có đặc điểm nào của chế độ toàn trị vừa làm cho những người quan sát hời hợt phải lúng túng lại vừa đặc trưng cho bầu không khí trí tuệ của nó bằng việc xuyên tạc toàn diện ngôn ngữ, bằng thay đổi ý nghĩa của ngôn từ để thể hiện lý tưởng của chế độ mới.

Bị xuyên tạc nhiều nhất chính là từ “tự do”. Như ở bất kỳ nơi nào khác, từ này cũng được sử dụng một cách tự do ngay trong các nhà nước toàn trị. Trên thực tế, có thể nói – và đây phải là lời cảnh báo để chúng ta luôn phải thận trọng trước những kẻ hứa hẹn New Liberties for Old[4] (Tự do mới thay cho tự do cũ) – rằng bất cứ khi nào tự do, theo nghĩa chúng ta hiểu, bị phá hoại thì bao giờ người ta cũng hứa hẹn cho nhân dân một nền tự do mới. Ngay trong chúng ta cũng có “những người ủng hộ kế hoạch hóa nhân danh tự do”, những người này còn hứa cho chúng ta nền “tự do tập thể cho cả nhóm”, mà ý nghĩa của nó sẽ trở nên rõ ràng nếu ta chú ý đến điều họ nói sau đây: “dĩ nhiên là đạt được tự do theo kế hoạch không có nghĩa là thủ tiêu ngay lập tức tất cả <sic!> mọi hình thức của tự do đã từng tồn tại trước đây”. Tiến sĩ Karl Mannheim, người có tác phẩm chứa câu dẫn bên trên[5], chí ít đã cảnh báo chúng ta rằng “khái niệm tự do hình thành trong thời đại trước là cản ngại cho cách hiểu đúng đắn vấn đề này”. Nhưng chính từ “tự do” trong lập luận của ông ta cũng đáng ngờ như khi nó nằm trên đầu lưỡi của các chính khách toàn trị mà thôi. Giống như họ, cái “tự do tập thể” mà ông ta đề nghị không phải là tự do của từng thành viên trong xã hội mà là quyền tự do vô hạn của người lập kế hoạch, được phép làm với xã hội tất cả những gì hắn muốn[6]. Đây là sự lẫn lộn của tự do với quyền lực tuyệt đối.

Trong trường hợp này, không nghi ngờ gì rằng chính các nhà triết học Đức, trong đó có các lý thuyết gia xã hội chủ nghĩa, đã đóng vai trò quan trọng trong việc xuyên tạc ý nghĩa của từ “tự do”. Nhưng “tự do” không phải là từ duy nhất mà ý nghĩa đã bị đánh tráo theo hướng ngược lại để trở thành công cụ của bộ máy tuyên truyền toàn trị. Chúng ta đã chứng kiến chuyện tương tự với các khái niệm như “luật pháp” và “công lý”, “quyền” và “bình đẳng”. Cái danh sách này có thể còn kéo dài, có thể đưa vào đây hầu như tất cả các thuật ngữ chính trị và đạo đức thường dùng hằng ngày.

Một người chưa tự mình trải nghiệm thì không thể đánh giá được mức độ xuyên tạc ý nghĩa của các từ và sự rối rắm mà nó gây ra cũng như những rào cản mà nó tạo ra cho bất kỳ cuộc thảo luận duy lý nào. Phải tận mắt chứng kiến thì mới hiểu được làm sao mà hai anh em ruột không thể giao thiệp được với nhau, sau khi một người cải đạo và bắt đầu nói bằng một ngôn ngữ hoàn toàn khác. Còn rắc rối hơn vì sự thay đổi ý nghĩa của các từ thể hiện lý tưởng chính trị diễn ra không chỉ một lần mà là một quá trình liên tục, đã trở thành kỹ thuật tuyên truyền, cố ý hoặc vô tình nhằm định hướng tư duy của con người. Dần dà, khi quá trình này đã đạt đến một mức độ nhất định thì ngôn ngữ trở thành bất lực, từ ngữ trở thành vỏ bọc trống rỗng chẳng còn ý nghĩa xác định nào, có thể biểu hiện cả nghĩa hoàn toàn trái ngược với nghĩa ban đầu của chúng, và chỉ được dùng để tạo ra những liên tưởng cảm xúc còn gắn bó với chúng mà thôi.

*
Tuyệt đại đa số mọi người rất dễ bị tước đoạt khả năng suy nghĩ độc lập. Nhưng thiểu số những người còn giữ được khả năng phê bình cũng phải nín thinh. Như chúng ta đã thấy, vấn đề không chỉ là ép buộc nhân dân chấp nhận một bộ chuẩn mực đạo đức dùng làm cơ sở cho kế hoạch hoạt động của toàn bộ xã hội. Vì nhiều điều khoản trong cái bộ chuẩn mực đó không thể phát biểu một cách tường minh được, vì nhiều điều khoản trong thang giá trị làm kim chỉ nam cho hoạt động chỉ tồn tại một cách ngầm định trong bản kế hoạch, còn các chi tiết của bản kế hoạch và mỗi hành động của chính phủ đều phải trở thành thiêng liêng và không thể bị phê bình. Muốn cho dân chúng ủng hộ sự nghiệp chung một cách vô điều kiện thì phải thuyết phục họ rằng cả mục đích cũng như phương tiện đều đã được lựa chọn một cách đúng đắn. Vì vậy giáo điều chính thống phải bao trùm tất cả các sự kiện có liên quan đến kế hoạch và phải nhồi vào óc mọi công dân.

Mọi lời phê phán công khai hay thậm chí ngay cả những biểu hiện của sự nghi ngờ cũng bị đàn áp vì chúng có thể làm suy giảm sự ủng hộ của công chúng. Như Sidney và Beatrice Webb viết về tình hình trong các xí nghiệp ở Nga: “Khi công việc đang được xúc tiến thì bất kỳ biểu hiện công khai nào về sự ngờ vực, thậm chí lo lắng về khả năng thành công của kế hoạch đều bị coi là sự bất trung, thậm chí phản bội, vì nó có thể ảnh hưởng đến ý chí và nỗ lực của những người khác[7]”. Còn nếu nghi ngờ và lo lắng không phải là về sự thành công của một xí nghiệp cụ thể mà liên quan đến kế hoạch của toàn thể xã hội thì bị coi là hành động phá hoại.

Như vậy là sự kiện và lý thuyết cũng như các quan điểm về giá trị đều trở thành những thành tố không thể tách rời của hệ tư tưởng. Tất cả các kênh truyền bá kiến thức – trường học và in ấn, đài phát thanh và phim ảnh – tất cả đều được sử dụng để truyền bá các quan điểm, bất luận là đúng hay sai, nhằm củng cố niềm tin vào sự đúng đắn của chính quyền; trong khi đó mọi thông tin có thể gây nghi ngờ hay tạo ra dao động đều bị cấm. Tiêu chuẩn để cho hoặc không cho công bố một thông tin là ảnh hưởng của nó đối với lòng trung thành của nhân dân. Nói tóm lại, chính thể toàn trị luôn luôn nằm trong tình trạng mà ở các nước khác chỉ có thể xảy ra trong thời chiến. Người ta giấu tất cả những gì có thể làm cho nhân dân nghi ngờ sự sáng suốt hay làm mất niềm tin vào chính phủ. Thông tin về điều kiện sống của người dân ở các nước khác có thể tạo cơ sở cho những so sánh bất lợi, kiến thức về những đường lối khả dĩ có thể lựa chọn, thông tin cho phép người ta nghĩ rằng chính phủ đã mắc sai lầm, đã bỏ qua cơ hội cải thiện đời sống của người dân v.v… đều bị cấm hết. Kết quả là thông tin trong tất cả mọi lĩnh vực đều bị kiểm soát, đấy là nhằm tạo ra một sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng.

Việc kiểm soát được thực hiện với cả những lĩnh vực có vẻ như chẳng liên quan gì đến chính trị, thí dụ như với cả các ngành khoa học trừu tượng nhất. Dưới chính thể toàn trị các ngành khoa học nhân văn như lịch sử, luật học hay kinh tế học không thể nào tiến hành được các nghiên cứu mang tính khách quan, nhiệm vụ duy nhất của các ngành này là chứng minh tính đúng đắn của các quan điểm chính thống, đây là sự kiện ai cũng biết và đã được thực tế xác nhận. Trong tất cả các nước toàn trị các ngành khoa học này đã trở thành những nguồn cung cấp huyền thoại hiệu quả nhất, chính quyền đã dùng chính những huyền thoại này để tác động lên lý trí và ý chí của dân chúng. Điều đặc biệt là các nhà khoa học trong những lĩnh vực nói trên chẳng cần phải giả vờ rằng họ đang tìm tòi chân lý, chính nhà chức trách quyết định phải tìm hiểu và công bố những luận thuyết nào.

Việc kiểm soát toàn diện lan sang cả những lĩnh vực mà mới nhìn thì có vẻ như chẳng có một tí ý nghĩa chính trị nào. Đôi khi thật khó mà giải thích vì sao lý thuyết này được ủng hộ mà lý thuyết kia thì bị phê phán, nhưng điều kỳ lạ là trong các nước toàn trị khác nhau sự yêu ghét, trong nhiều trường hợp, lại có vẻ như giống nhau. Cụ thể là trong các nước này người ta bao giờ cũng có phản ứng tiêu cực đối với những hình thức tư duy trừu tượng, đây là phản ứng đặc trưng ngay cả trong số các nhà khoa học ủng hộ chủ nghĩa tập thể của chúng ta. Thuyết tương đối bị bác bỏ hoặc vì nó là “âm mưu của bọn Do Thái nhằm phá hoại nền tảng Vật lý học Thiên Chúa giáo và Bắc Âu” hay là vì nó “mâu thuẫn với chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa duy vật biện chứng” không còn là điều quan trọng nữa. Cũng chẳng có gì khác nhau trong những cuộc tấn công vào một số định lí toán thống kê, bất kể vì chúng “là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng và là sản phẩm phục vụ giai cấp tư sản” hay lĩnh vực này bị phủ nhận sạch trơn vì “không có gì bảo đảm rằng nó sẽ phục vụ quyền lợi của nhân dân”.

Có vẻ như không chỉ môn toán ứng dụng mà cả môn toán lí thuyết cũng được xem xét trên những quan điểm như thế, bất luận thế nào thì một vài quan điểm về các hàm liên tục đã bị coi là “định kiến tư sản”. Theo tường trình của ông bà Webb thì tạp chí Journal for Marxist-Leninist Natural Sciences (Tạp chí khoa học tự nhiên Marxist-Leninist) đầy rẫy các khẩu hiệu tỉ như “Bảo vệ tính đảng trong toán học” hay “Bảo vệ sự trong sáng của học thuyết Marx-Lenin trong phẫu thuật học”. Ở Đức tình hình cũng tương tự như thế. Tờ Journal of the National-Socialist Association of Mathematicans (Tạp chí của Hiệp hội các nhà toán học Xã hội chủ nghĩa quốc gia) cũng đầy rẫy “tính đảng trong toán học”, thậm chí Lenard, nhà vật lý Đức nổi tiếng nhất, người nhận giải thưởng Nobel còn tổng kết sự nghiệp của đời mình trong bộ toàn tập với tên gọi: German Physics in Four Volumes! (Vật lý Đức trong bốn tập!)

Việc lên án tất cả mọi hoạt động không có mục đích thực tiễn trước mắt là hoàn toàn phù hợp với tinh thần của chủ nghĩa toàn trị. Khoa học vị khoa học hay nghệ thuật vị nghệ thuật đều bị những người quốc xã, những trí thức theo đường lối xã hội chủ nghĩa và cộng sản của chúng ta căm ghét như nhau. Mọi hoạt động đều phải có mục đích xã hội rõ ràng. Mọi hoạt động tự phát hay nhiệm vụ không rõ ràng đều không được khuyến khích vì có thể dẫn đến những kết quả không lường trước được, những kết quả mâu thuẫn với kế hoạch, tức là những kết quả không thể tưởng tượng nối đối với triết lý làm kim chỉ nam cho kế hoạch hóa. Nguyên tắc này còn lan sang cả lĩnh vực trò chơi và giải trí nữa. Tôi xin mời bạn đọc thưởng lãm lời kêu gọi những người chơi cờ ở Nga hay là ở Đức: “Chúng ta phải chấm dứt một lần và vĩnh viễn thái độ trung lập của môn cờ vua. Chúng ta phải lên án một lần và vĩnh viễn công thức ‘cờ vị cờ’ cũng như ‘khoa học vị khoa học’”.

Dù sự xuyên tạc như thế có là chuyện khó tin đến đâu, chúng ta cũng phải nhận thức rõ rằng đấy không phải là những lệch lạc vô tình, không có liên quan gì với bản chất của hệ thống toàn trị. Không phải như thế. Chúng là kết quả của chính cái mưu toan buộc tất cả phải quy phục “quan điểm duy nhất về cái toàn thể”, của những nỗ lực nhằm giữ vững quan điểm bằng mọi giá, bắt nhân dân phải liên tục hy sinh nhân danh các quan điểm đó và nói chung tư tưởng cho rằng kiến thức và niềm tin của con người chỉ là công cụ cho những mục tiêu đã được lựa chọn từ trước nhất định sẽ dẫn đến những sự xuyên tạc kiểu như thế. Khi khoa học không còn phụng sự chân lý mà là phụng sự quyền lợi giai cấp, xã hội hay nhà nước thì nhiệm vụ của tranh luận và thảo luận chỉ còn là chứng minh và truyền bá những quan điểm vốn là kim chỉ nam cho toàn bộ xã hội mà thôi. Như Bộ trưởng Bộ Tư pháp quốc xã đã giải thích, tất cả mọi lý thuyết khoa học mới đều phải tự hỏi: “Ta có phụng sự chủ nghĩa quốc xã vì lợi ích cao cả của toàn dân hay không?”

Chính từ “chân lý” đã đánh mất ý nghĩa ban đầu của nó rồi. Nếu trước đây từ này dùng để mô tả cái cần tìm, mà lương tâm cá nhân là người quyết định duy nhất rằng bằng chứng hay cơ sở để đưa ra bằng chứng ấy có bảo đảm độ tin cậy hay không thì nay chân lý là do người có quyền lực đặt ra, là cái mà mọi người phải tin nhân danh sự thống nhất vì sự nghiệp chung và chân lý có thể thay đổi một khi nhu cầu của sự nghiệp chung đòi hỏi[8].

Điều đó đã tạo ra một bầu không khí trí tuệ đặc thù với thái độ vô liêm sỉ đối với cái mà chính nó đã gây ra, thái độ coi thường chân lý, đánh mất tinh thần tìm tòi độc lập và đánh mất niềm tin vào lý trí, biến tất cả các cuộc tranh luận khoa học thành các vấn đề chính trị mà nhà chức trách chính là người có tiếng nói cuối cùng – phải trải nghiệm thì mới hiểu được, đấy là những điều không thể diễn tả nổi trên một vài trang giấy. Nhưng đáng ngại nhất là thái độ coi thường tự do trí tuệ, không phải chỉ xuất hiện sau khi chế độ toàn trị đã được thiết lập mà là thái độ của nhiều nhà trí thức, những người ôm ấp tư tưởng tập thể chủ nghĩa cũng như những người tự coi mình là đầu lĩnh trí tuệ ngay trong các nước có chế độ tự do. Nhưng người đang làm như thay mặt các nhà khoa học trong các nước tự do công khai biện hộ không chỉ cho những vụ đàn áp tồi tệ nhất nhân danh chủ nghĩa xã hội và thiết lập hệ thống toàn trị mà còn công khai kêu gọi thái độ bất dung nữa. Chẳng phải là gần đây chúng ta đã thấy một nhà khoa học Anh bảo vệ Tòa án dị giáo (Inquisition) vì theo ông ta “nó có lợi cho khoa học khi bảo vệ giai cấp đang lên[9]” hay sao? Thái độ như thế thật chẳng khác gì thái độ của bọn quốc xã, những kẻ đã từng bức hại các nhà khoa học, đốt sách và đào tận gốc một cách có hệ thống tầng lớp trí thức trên bình diện quốc gia.

*
Ước muốn áp đặt lên dân chúng một tín điều được coi là bổ ích đối với họ dĩ nhiên không phải là điều mới lạ hay đặc biệt mà chỉ thời chúng ta mới có. Cái mới là lý lẽ mà các nhà trí thức của chúng ta dùng để biện hộ cho nó. Họ bảo rằng không làm gì có tự do tư tưởng trong xã hội hiện nay, vì rằng ý kiến và thị hiếu của dân chúng được định hình bởi tuyên truyền, quảng cáo và cách sống của tầng lớp trên cũng như bởi những yếu tố môi trường sống khác, những thứ nhất định sẽ định hướng tư duy của dân chúng vào những lối mòn có sẵn. Từ đó họ rút ra kết luận rằng nếu ý kiến và thị hiếu của đa phần dân chúng được nhào nặn bởi hoàn cảnh mà ta có thể kiểm soát được thì ta phải sử dụng cái quyền lực này một cách chủ động để lái tư duy của dân chúng vào hướng có lợi nhất.

Có lẽ đúng là phần lớn dân chúng không có khả năng tư duy độc lập, đúng là người ta sẵn sàng chấp nhận các quan điểm có sẵn về hàng loạt vấn đề và người ta cảm thấy hài lòng với những đức tin hình thành từ thời thơ ấu hay được lôi kéo vào. Trong mọi xã hội, tự do tư tưởng chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với một thiểu số không đáng kể. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng một người nào đó có quyền quyết định rằng ai mới là người được phép tự do tư tưởng. Cũng không có nghĩa là một nhóm người nào đó được quyền tuyên bố rằng người dân phải nghĩ thế này hay phải tin thế kia. Sẽ là sai lầm khi cho rằng hệ thống nào thì đa số dân chúng cũng đi theo sự lãnh đạo của một người nào đó, cho nên nếu tất cả mọi người cùng đi theo sự lãnh đạo của một người thì cũng thế mà thôi. Phủ nhận quyền tự do tư tưởng vì không phải ai cũng có khả năng tư duy độc lập như nhau là hoàn toàn bỏ qua những lý lẽ biện minh cho tự do tư tưởng. Tự do tư tưởng là động cơ chủ yếu thúc đẩy sự tiến bộ về mặt tri thức không phải là vì ai cũng có thể nói hay viết bất kỳ cái gì mà là bất cứ lý do hay tư tưởng nào cũng có thể được đem ra thảo luận. Khi bất đồng quan điểm không bị đàn áp thì bao giờ cũng có người tỏ ra nghi ngờ những tư tưởng dẫn đạo đương thời và đưa ra những tư tưởng mới cho mọi người thảo luận và tuyên truyền.

Quá trình tương tác giữa các cá nhân có những hiểu biết và đứng trên các quan điểm khác nhau tạo ra đời sống tinh thần. Sự phát triển của lý tính là tiến trình xã hội đặt căn bản trên sự khác biệt như thế. Bản chất của vấn đề là ta không thể tiên đoán được kết quả, ta không thể biết quan điểm nào sẽ thúc đẩy sự phát triển còn quan điểm nào thì không, nói tóm lại, không có quan điểm nào hiện nay lại có thể định hướng được sự phát triển mà đồng thời lại không ngăn chặn chính sự phát triển đó. “Lập kế hoạch” hay “tổ chức” sự phát triển của tâm trí cũng như sự phát triển nói chung là vô nghĩa, là mâu thuẫn ngay trong thuật ngữ. Ý tưởng cho rằng tâm trí của con người phải “tự giác” kiểm soát sự phát triển của chính nó xuất phát từ nhận thức sai lầm về lý tính của con người; sự thực là, chỉ có lý tính mới có thể “chủ động kiểm soát” được cái gì đó khác và sự phát triển của lý tính là kết quả của quá trình tương tác giữa các cá nhân với nhau. Cố tình kiểm soát nó là chúng ta đã đặt giới hạn cho sự phát triển của nó và không chóng thì chày sẽ dẫn đến sự trì trệ về tư tưởng và sự suy thoái của lý trí.

Bi kịch của tư tưởng tập thể là ở chỗ nó bắt đầu bằng việc coi lý tính là tối thượng nhưng lại kết thúc bằng việc tiêu diệt lý tính vì đã hiểu sai tiến trình đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển của lý trí. Có thể nói rằng đấy chính là nghịch lý của tất cả các học thuyết theo đường lối tập thể và yêu cầu kiểm soát một cách “tự giác” hay “chủ động” lập kế hoạch nhất định sẽ dẫn đến nhu cầu phải có một trí tuệ tối cao điều khiển tất cả, trong khi cách tiếp cận của chủ nghĩa cá nhân cho phép chúng ta nhận chân rằng các lực lượng siêu-cá-nhân mới là lực lượng dẫn dắt sự phát triển của lý tính. Chủ nghĩa cá nhân chính là thái độ nhún nhường trước các tiến trình xã hội và thái độ khoan dung đối với những ý kiến khác biệt, trái ngược hẳn với thói tự phụ nằm sẵn trong cội nguồn của yêu cầu lãnh đạo toàn diện đời sống xã hội..

 

Tác giả: Phạm Nguyên Trường
Đinh Tuấn Minh hiệu đính
Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội, 2009
Edit: THĐP


[1] Gleichschaltung là một quan điểm chính trị của Đức nhằm buộc tất cả các lĩnh vực của đời sống phải phục vụ cho quyền lợi của chế độ xã hội chủ nghĩa quốc gia, ở ta thường gọi là sự thống nhất về tư tưởng – ND.
[2] Cái có trước- La Tinh – ND.
[3] Máu và đất – tiếng Đức – ND.
[4] Nhan đề một tác phẩm mới của nhà sử học Carl Becker (ND).
[5] Man and Society in an Age of Reconstruction (Con người và xã hội trong thời đại tái thiết). trang. 377.
[6] Peter Drucker đã nhận xét rất đúng rằng “trên thực tế, càng có ít tự do thì càng có nhiều lời nói suông về “tự do mới”. Nhưng đây chỉ là ngôn từ che đậy cách hiểu trái ngược hoàn toàn với cách hiểu về tự do từng thịnh hành ở châu Âu… Tự do mới mà người ta đang tuyên truyền ở châu Âu chính là đa số có quyền áp đặt ý chí của mình lên cá nhân con người” (The End of Economic Man -Sự cáo chung của con người kinh tế). trang. 74).
[7] Sidney và Beatrice Webb, Soviet Communism (Chủ nghĩa cộng sản Xô Viết), trang. 1038.
[8] Ở Việt Nam người ta từng nói “Chân lý là cái lý có chân” – ND.
[9] Crowther J.G., The Social Relations of Science (Quan hệ xã hội của khoa học), 1941, trang. 333.