Trang chủ Blog Trang 216

Cơn mớ di căn

Featured Image: Rudolf Vlček

 

Có nỗi nhớ đứng bên bờ diệp lục
hàng cây xa như thể cũng đã gần
anh chớp mắt nhặt nụ cười khất thực
bóng đêm chìm là ngày mới sang sông

Có nỗi nhớ xanh xao từng tiếng thở
rồi di căn giữa khánh kiệt vô cùng
em cứ mớ giữa bao điều im lặng
tiếng mùa hè chảy máu giữa không trung

Em cứ viết bài thơ tình mệt lả
khi nỗi buồn chết đuối giữa mê man
khúc trí nhớ mục nát chiều thập giá
giữa bộn bề trôi dạt một niềm an.

 

Phương Uy

3 loại động lực làm việc

Featured Image: Learning Fundamentals

 

Duy trì động lực làm việc sẽ nhanh chóng tiến đến sự nghiệp thành công. Vậy để luôn duy trì động lực làm việc chúng ta phải làm gì?

Trong cuốn sách Động Lực Chèo Lái Hành Vi, Daniel H. Pink đã chia các loại động lực thành 3 loại: Động lực dựa trên đáp ứng các nhu cầu căn bản, động lực dựa trên đ/k “nếu – thì” (củ cà rốt & cây gậy), động lực tự thân.

1. Động lực dựa trên đáp ứng các nhu cầu căn bản

Các nhu cầu căn bản đó là ăn uống, sinh lý… Nhu cầu căn bản này khi chưa được đáp ứng sẽ thúc đẩy hành vi của con người: Không đủ ăn thì kiếm ăn, làm việc để có ăn, nhu cầu sinh lý không được đáp ứng thì tìm bạn tình, bạn khác giới để đáp ứng…

2. Động lực dựa trên điều kiện “nếu – thì”

Trong thời kỳ các nhu cầu căn bản chưa được đáp ứng thì người ta đã bắt đầu áp dụng “Cây gậy & củ cà rốt”. Nếu làm/làm đúng thì cho ăn – củ cà rốt. Nếu không làm/làm ít/làm sai thì phạt – cây gậy. Thậm chí người ta có xu hướng không đáp ứng đầy đủ nhu cầu căn bản để dễ điều khiển.

Khi xã hội đã sản xuất được nhiều hàng hóa hơn, các nhu cầu căn bản, tối thiểu đã được đáp ứng thì người ta vẫn tiếp tục áp dụng phương pháp “nếu – thì”. Sự lạm dụng phương pháp “nếu – thì” đã tạo ra thói quen từ 2 phía:

– Từ phía quản lý: Luôn nghĩ ra các phần thưởng khác nhau để khích lệ người làm, ngoài lương đã trả.

– Từ phía người làm: Ngoài lương được nhận vẫn mong muốn được thưởng, yêu cầu phải có thưởng để khuyến khích

Và người ta đã tổng kết thành sách, chỉ dẫn ra đủ các loại thưởng khuyến khích khác nhau được áp dụng:

– Cha mẹ áp dụng với con cái và con cái áp dụng ngược lại với cha mẹ

– Thầy cô áp dụng với học sinh từ lớp mẫu giáo (phiếu bé ngoan, thưởng kẹo…) và trong suốt quá trình học sau này …

– Và được áp dụng cả trong các cuộc thi không liên quan đến nhu cầu kiếm sống như bóng đá, thi hoa hậu, các games shows. Các phần thưởng này ngày càng một lớn, thậm chí ngoài sức tưởng tượng.

Phương pháp “nếu – thì” có những tác dụng ngắn hạn, nhưng về dài hạn thì có những hậu quả không tốt.

3. Động lực tự thân

Nếu chúng ta để ý thì trong khi đang làm việc thì niềm vui, đam mê của chúng ta là từ bản thân công việc. Chứ trong đầu không có suy nghĩ hay thúc giục làm vì phần thưởng.

Đó là động lực tự thân, khi làm việc đúng việc mình yêu thích, đúng khả năng, sở trường của mình. Khi này sự đam mê xuất hiện và con người sẽ tìm mọi cách để làm tốt nhất, tốt hơn mà không có đòi hỏi “nếu – thì”.

Suy nghĩ làm vì phần thưởng chỉ xảy ra trước khi làm người quản lý hay người làm đưa ra điều kiện “nếu – thì”. Trong trường hợp đưa ra điều kiện trước thì sẽ xuất hiện những trường hợp không thích làm cũng sẽ tham gia làm, thậm chí sẽ sử dụng các biện pháp, mánh khóe không tốt để đạt mục đích – phần thưởng. Thường thì chất lượng sản phẩm của những người tham gia như vậy sẽ không cao và không có những cải tiến tiếp theo. Người ta chỉ cải tiến khi có phần thưởng được đưa ra.

Để cho động lực tự thân hoạt động tốt thì chế độ lương hàng tháng và thưởng cuối năm phải tương xứng với năng lực và kết quả làm việc, tương xứng với thị trường lao động. Đồng thời hạn chế các loại phần thưởng khuyến khích. Đặc biệt hạn chế các phần thưởng được đưa ra trước khi làm. Các thành tích chỉ nên dừng ở mức khen kịp thời, tức thì. Và như theo lời khuyên trong sách thì việc khen này chỉ nên dừng ở mức private giữa người khen và người có thành tích, hoặc trong 1 nhóm/team nhỏ cùng làm việc, chứ không phải là public dưới dạng vinh danh tại các buổi tổng kết cuối năm hay định kỳ.

Ba yếu tố tạo ra động lực tự thân thực sự:

  • Tự chủ: Khao khát được làm chủ cuộc sống của chính mình.
  • Thành thạo: Niềm thôi thúc không ngừng hoàn thiện và bổ sung kiến thức về các vấn đề bất kỳ.
  • Lý tưởng: Khao khát được cống hiến không vì bản thân mình.

Động lực làm việc của các bạn là gì? Hãy phân tích dựa trên 3 loại động lực trên để có những thay đổi cần thiết phù hợp với bản thân mình.

 

Lê Thanh Trông

Đừng chết âm thầm

Featured Image: sundeepsu1988

Vụ tai nạn máy bay MH-17 vừa xảy ra có thể sẽ thay đổi tình hình chiến sự tại Ukraine cũng như vận mệnh quốc gia đang hỗn loạn này. 298 sinh mạng có thể ảnh hưởng đến, thậm chí tạo ra bước ngoặt, cho vận mệnh của một đất nước.

Tất nhiên, không ai muốn bi kịch trên xảy ra, cho dù với bất cứ lý do nào. Vả lại, ảnh hưởng này chỉ là giả thuyết (dù nó có thể xảy ra và chúng ta cũng nên suy nghĩ về nó). Nhưng rõ ràng, có những cái chết nổi bật hơn những cái chết còn lại.

Chẳng hạn số người tử vong trong cuộc xung đột đang bị gián đoạn tại Ukraine. Nếu máy bay không rơi, số người chết tại đây sẽ tiếp tục gia tăng, có thể hơn con số 298 rất nhiều. Song đó không phải một cú shock. Cái chết giữa hai phe phái trong chiến tranh vốn là điều bình thường.

Ngay tại Việt Nam, trong một năm, có khoảng gần 10.000 người chết vì tai nạn giao thông. Một con số khủng khiếp. Nhưng nó chỉ làm người ta giật mình khi đọc những báo cáo. Sau đó người ta lại trở về với tâm trạng thân quen của mình: Sự hờ hững. Người dân vẫn tiếp tục vi phạm luật, tiếp tục tử vong. Và con số khủng khiếp trên sẽ lặp lại hàng năm.

Bởi vì, những cái chết do tai nạn giao thông ở Việt Nam diễn ra quá quen thuộc, bình thường, “thầm lặng” và đều đều. Con số gây shock, nhưng những cái chết thực tế lại không. Nếu như tai nạn giao thông làm chết ngay lập tức 10.000 người, đột ngột trong 1 vụ, biết đâu chất lượng giao thông tại Việt Nam sẽ khác hiện nay rất nhiều?

Hay trường hợp của những trẻ em chết vì dịch sởi đầu năm nay. Các ca tử vong xảy ra dồn dập trong một thời gian ngắn, khiến dư luận bàng hoàng, phẫn nộ. Tuy nhiên, nếu đem số lượng trẻ chết vì sởi rải đều ra từng từng ngày, từng tuần, từng tháng trong năm, chắc chắn phản ứng của dư luận sẽ nhạt nhòa hơn. Mặc dù tổng số trẻ chết trong năm không đổi.

Sinh mạng nào cũng quý giá, nhưng có những sinh mạng quý giá hơn các sinh mạng còn lại, đặc biệt là khi họ chết tập thể, chết đột ngột, bất ngờ, chết liền một lúc. Chết một cách ấn tượng. Cùng là thảm họa gây ra cái chết của hàng nghìn người, nhưng nếu nó diễn ra ấn tượng, người ta sẽ quan tâm hơn, và sai lầm sẽ được sửa chữa tốt hơn. Còn nếu nó diễn ra không ấn tượng, thì cũng ngần ấy người chết, ngần ấy bi kịch, người ta chẳng thật sự quan tâm cho lắm.

Bởi vì vấn đề không phải là những người đã chết. Những người đã chết đơn giản là những người đã chết. Chúng ta buồn cho họ, thương cảm họ. Nhưng, vấn đề lớn nhất chính là người sống, là quan niệm của họ về cái chết, là sự ngơ ngác của họ. Tôi nói ngơ ngác vì người ta chỉ giật mình với những con số, còn bình thường họ… ngơ ngác hoàn toàn.

Vì thế, người Việt ơi, chết đông chưa đủ. Chúng ta phải chết thật ngoạn mục thì mới đánh động được giá trị và sức mạnh của những người còn sống. Đừng chết một cách rời rạc và âm thầm.

 

Vũ Kenzo

Về niềm đam mê và con đường phát triển cá nhân

Featured Image: Elizabeth

 

Hơn 70.000 cử nhân kỹ sư ra trường thất nghiệp hằng năm và một ẩn số còn lớn hơn nữa là số lượng những người trẻ ra trường đang làm việc không đúng với chuyên ngành được đào tạo là những con số thật sự gây sốc với những người đang quan tâm tới sự phát triển của giáo dục Việt Nam. Trong khi hằng ngày, chúng ta phải đọc những bài báo ra rả nói về chuyện cải cách chất lượng giáo dục, trong thi cử, áp lực giảm tải và rất nhiều những lời chửi bới tới những nhà làm giáo dục ở Việt Nam.

Có một câu nói của người xưa rằng: “Tiên trách kỷ hậu trách nhân.” Nếu được đặt ra một câu hỏi với 70.000 con người kia thì tôi muốn được hỏi liệu các bạn có đam mê với ngành nghề các bạn đã chọn chưa?

Có một sự thật đáng buồn là từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi biết nhiều bạn bè của mình đã sai lầm trong việc định hướng nghề nghiệp của riêng mình. Họ không hề xác định được việc họ đam mê cái gì, muốn làm cái gì, và họ, những người sinh viên học Quản trị kinh doanh không thể định nghĩa được Quản trị kinh doanh là gì, học ra để làm gì, họ chỉ biết học và ra trường rồi xin việc, giống như những bộ não được lập trình sẵn bởi các lập trình viên là gia đình, bạn bè và xã hội. Chưa một lần họ dừng lại và tự ngẫm xem mình có đam mê thứ mình đang học không hay mình muốn trở thành cái gì sau khi ra trường.

Có một câu chuyện như thế này:

Người bạn của tôi thời phổ thông là một học sinh với kết quả rất xuất sắc, đến nỗi trong giấc mơ thì tôi cũng chẳng dám nghĩ tới chuyện điểm tổng kết Toán Lý Hóa của tôi sẽ bằng cậu ấy. Cậu ta là người hoàn hảo trong mắt thầy cô, gia đình, bạn bè, vì học tốt khối A nên cậu ấy quyết định sẽ thi một trường đại học hàng đầu Việt Nam trong một khoa chuyên ngành về kinh tế có điểm sàn cao nhất trường vì đơn giản bạn ý nghĩ đó là khoa tốt nhất của một trường tốt nhất, nó xứng đáng với học lực của cậu ấy và giúp cậu ấy cùng gia đình tự hào với tất cả mọi người mà chưa một lần tự hỏi xem bản thân mình muốn trở thành gì trong tương lai, mình đam mê cái gì và muốn theo đuổi công việc gì. Kết thúc kỳ thi, cậu bạn tôi đã đỗ trong niềm hân hoan của gia đình và bạn bè và bắt đầu cuộc đời sinh viên của mình. Hai năm sau trong một lần gặp lại người bạn cũ, cậu ấy chia sẻ với tôi rằng học đại học thật sự nhàm chán và khó khăn, không còn những con số toán học, công thức vật lý, phải làm quen với những khái niệm về kinh tế học mà còn chẳng biết nó là cái gì trong một chương trình đào tạo lạc hậu và những thầy cô nhàm chán. Điều mong muốn duy nhất của cậu ấy là ra được trường với tấm bằng và xin được một công việc sau này.

Câu chuyện trên chắc hẳn là không xa lạ với nhiều bạn trẻ hiện nay, rất nhiều câu hỏi ngô nghê từ các bạn trẻ hiện này là học nghề hay học đại học, chọn trường dựa trên danh tiếng hay học lực, thi khối này dễ xin việc hay khối kia … Với tôi đó là những câu hỏi hết sức sai lầm từ trong bản chất nhận thức của người học trong việc định hướng bản thân trên con đường phát triển sau này.

“Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”, trước khi đổ lỗi các nhà hoạch định giáo dục, hãy dành lại một khoảnh khắc để nhìn lại bản thân xem bản thân mình đã thật sự cố gắng với những gì mình đang theo đuổi chưa hay vẫn là những suy nghĩ đơn giản trong việc định hướng nghề nghiệp.

Với quan điểm cá nhân, việc đầu tiên với mọi bạn trẻ là các bạn cần phải chủ động tìm hiểu xem mình mạnh điểm gì, muốn làm cái gì trong tương lai, bạn muốn trở thành một người trong lĩnh vực nhân sự, tài chính, công nghệ thông tin hay đơn giản chỉ là một anh thợ cơ khí. Bạn cần phải đứng lên chính kiến của mình rằng đó làm đam mê của tôi, tôi không thể hạnh phúc nếu không được khám phá nó và dù cả thế giới có quay mặt đi thì tôi vẫn kiên cường nghiên cứu thứ mà tôi đam mê vì tôi hạnh phúc với nó, đó là cuộc sống của tôi.

Thời còn phổ thông, tôi là một cậu học trò cá biệt với học lực trung bình khá, khả năng của tôi khó có thể học những trường danh tiếng tại Việt Nam nên tôi luôn xác định chỉ cần học ở một nơi, bất kể công lập hay tư thục, danh tiếng hay bình thường, miễn là tôi có thể theo đuổi niềm đam mê về kinh tế học của mình. Tôi đã lặn lội viết thư tay tới trưởng khoa từng trường đại học để xin danh sách các môn học, họ đều gửi thư lại cho tôi kèm theo nhiều tài liệu đào tạo bổ ích mà giúp tôi biết được tôi sẽ phải chuẩn bị những gì trong tương lai khi tôi bắt đầu làm sinh viên. Tất cả những điều đó đã giúp tôi có được sự chuẩn bị vững chắc nhất cho con đường đi đầy khó khăn của mình sau này. Tôi là vậy, tôi không mong sẽ được học ở những giảng đường danh giá, tôi chỉ quan tâm và hứng thú với những gì mình thích mà thôi.

Biết được điểm mạnh và ngành mình đam mê, các bạn cần lên danh sách tất cả những cơ sở giáo dục có đào tạo ngành nghề đó, rồi sắp xếp theo thứ tự ưu tiên những trường đại học bạn đủ khả năng học lực để thi vào đó và chuẩn bị các kiến thức để đi thi thôi. Một khi bạn đã xác định được đâu là niềm hạnh phúc của mình, bạn sẽ không còn bị thụ động bởi những yếu tố như giáo trình, môi trường giáo dục hay thầy cô bởi xung quanh còn internet, còn hàng tá các câu lạc bộ trong từng lĩnh vực, báo chí, truyền thông là một thư viện cực lớn để bạn thỏa chí đam mê của mình. Không quan trọng bạn học ở đâu, chỉ cần học đúng ngành bạn thích và trở thành người giỏi nhất, thành công trong sự nghiệp sẽ đến với bạn. Còn đến đây tôi nghĩ rằng bạn cũng chẳng cần quan tâm thành công lắm đâu, vì bạn đang rất hạnh phúc, hạnh phúc với thứ mình đam mê theo đuổi.

Chúc cho trái tim của những con người trẻ sẽ luôn nhiệt huyết với đam mê của mình để không còn những con số buồn cho cộng đồng giới trẻ Việt.

 

Patrick

Cuộc chiến Facebook

 Ảnh minh họa chụp từ trang Facebook được cho là của một dư luận viên.

 

Gần đây nhiều trang Facebook có tiếng bị khóa lại không thể truy cập được. Chủ nhân của nó đã phải vất vả để lấy lại được, hoặc bỏ hẳn. Liệu có phải đang diễn ra một cuộc chiến facebook? Sau đây là ý kiến của một số nhà hoạt động truyền thông có sử dụng phương tiện mạng xã hội này.

Cuối tháng sáu 2014 trang Facebook của tổ chức Việt Tân bị chặn, không hoạt động được. Trong cùng thời gian của mùa hè 2014 các trang Facebook nổi tiếng như Mẹ Nấm, Cô gái Đồ Long, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Lân Thắng cũng không hoạt động được trong một thời gian. Trang Facebook Nhật Ký Yêu Nước cũng bị tấn công khi các độc giả của trang này bị giảm lượng thông tin tiếp nhận được.

Ai đã “báo cáo”?

Những chuyện này xảy ra vì Facebook có một chức năng tự động gọi là “báo cáo.” Khi một trang bị một số lượng lớn người dùng Facebook báo cáo rằng nó có sai phạm thì nó sẽ bị tự động dừng lại.

Ai đã “báo cáo” cho những trang này bị ngưng hoạt động?

Những người trong cuộc cũng không có câu trả lời rõ ràng. Các trang này vốn thường xuyên chia sẻ những thông tin mà người đọc trong nước không thể tìm được trên báo chí chính thống của nhà nước Việt Nam. Và các dư luận viên được cho là đã sử dụng ồ ạt một số lớn tài khoản Facebook để báo cáo, làm cho các trang này bị ngưng hoạt động. Dư luận viên là những người được trả tiền để viết những điều có lợi cho đảng cộng sản độc quyền chính trị tại Việt Nam.

Blogger Mẹ Nấm nói với chúng tôi về lý do mà những nhà hoạt động truyền thông không chính thống sử dụng Facebook để truyền tải thông tin.

“Facebook có một tính năng là tương tác với cộng đồng rất lớn và truyền tin đi rất là nhanh. Bên cạnh đó Facebook cũng là một mặt trận mới với nhiều người trẻ, nhiều người bàng quan, những người thờ ơ, nhưng mà nếu người ta đọc thấy những điều gì mà người ta thấy thích hợp hay là người ta đã có sẳn, điều đó làm cho người ta đi tìm thông tin. Đó là điều mà tôi nghĩ rằng các nhà hoạt động đang triệt để sử dụng Facebook.”

Một quản trị viên của trang Facebook Nhật Ký nổi tiếng nêu thêm những lợi điểm mà Facebook có được trong tình hình chưa có tự do báo chí, và thông tin bị kiểm duyệt gắt gao như ở Việt Nam.

“Nó đảm bảo cho mình việc ẩn danh. Chúng mình không có phương tiện nào vừa nhanh chóng, vừa hiệu quả mà lại không bị kiểm duyệt như Facebook.”

Đảng cộng sản Việt Nam ý thức được sự đe dọa cho độc quyền truyền thông của mình, mạng Facebook thường xuyên bị chặn ở Việt Nam, mặc dầu cơ quan chức năng Việt Nam chưa bao giờ công nhận là họ chặn. Năm 2013 một nhân viên của công ty Viettel, một nhà cung cấp dịch vụ internet tại Việt Nam có nói với chúng tôi rằng vì mạng Facebook là phản động nên phải chặn.

Nhưng có vẻ như sự ngăn chặn này không được hữu hiệu vì các phần mềm dùng để vượt tường lửa được cải tiến liên tục. Và vì Việt Nam đã để cho mạng xã hội Facebook này hoạt động lúc khởi đầu chứ không hoàn toàn ngăn chặn như Trung Quốc, với một phiên bản mạng xã hội nội địa được kiểm soát hoàn toàn bởi nhà cầm quyền, nên nhiều người nói rằng việc ngăn chặn mạng xã hội ở Việt Nam là không thể được.

Nay một hình thức khác có vẻ được sử dụng để chống lại Facebook là dùng chính chức năng của Facebook. Đó là việc sử dụng rất nhiều tài khoản cùng một lúc “báo cáo” để cho Facebook tự động khóa các trang được nhắm tới. Một nhà báo Việt Nam cung cấp cho chúng tôi một ảnh chụp Faecbook của một người có thể là dư luận viên, trên bức ảnh này người ta đọc được nội dung sau đây:

“Sau trận đánh bằng 5.000 tài khoản một lúc một lần, fanpage chính của Việt Tân đã bị cộng đồng anh em iSocial đánh sập. Ngay hôm sau mọc lên trang fanpage mới của Việt Tân. Và chỉ trong chiều ngày 20/6 với 5 tiếng đồng hồ ít ỏi nhưng với sức mạnh của cộng đồng và gần 200 ngàn tài khoản tấn công báo cáo liên tục, fanpage này đã ra đảo chơi với chú… Chiến tích này của các đồng chí xứng đáng được đảng và nhà nước trao huân chương chiến sĩ thời kỳ bàn phím.”

Bà Angelina Trang Huỳnh, một thành viên quản trị trang Facebook Việt Tân cho biết là tổ chức của bà đã làm việc với Facebook cùng với sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ để giành lại quyền kiểm soát trang Facebook của mình.

Một quản trị viên khác của Nhật Ký Yêu Nước nói với chúng tôi:

“Những người không thích những luồng quan điểm nhiều chiều đã cố gắng làm cho trang của chúng tôi bị đánh sập. Ngay từ khi mới thành lập, những người không thích sự đa nguyên, muốn áp đặt quan điểm của chính quyền hiện tại đã kêu gọi báo cáo trang của chúng tôi.”

Các quản trị viên của trang Nhật Ký Yêu Nước, ý thức được điều này nên họ đã bỏ nhiều công sức để tránh cho trang của mình bị sơ suất, ví dụ như việc những người không thích trang này vào đưa ra những lời bình luận bất nhã, rồi sau đó chính họ lại báo cáo về những lời bất nhã đó. Các quản trị viên Nhật ký Yêu Nước cũng cho rằng có thể là trang Facebook Việt Tân không đủ người để làm việc này.

Facebook có khuyết điểm?

Sự tồn tại của những dư luận viên đã được chính một giới chức Việt Nam là ông Hồ Quang Lợi công khai thừa nhận hồi đầu năm 2013. Theo ông này thì riêng trên địa bàn Hà nội đã có đến 900 người. Chính phủ Việt Nam thì chưa bao giờ thừa nhận là mình ngăn chặn truyền thông Internet cả. Nhưng vào năm 2010, một viên tướng công an là ông Vũ Hải Triều có nói trên báo chí rằng ngành công an của ông đã đánh sập hơn 300 trang mạng mà ông gọi là “phản động.”

Ở phía ngược lại, trên mạng xã hội Facebook đôi khi cũng thấy những lời kêu gọi “báo cáo” các trang Facebook của những cá nhân ủng hộ đảng cộng sản hay tranh luận. Nhưng chưa thấy có những cuộc tấn công có tổ chức như được mô tả trong bức ảnh mà chúng tôi có được.

Khi được hỏi về khả năng trả đũa của những người khác chính kiến với đảng cộng sản Việt Nam nhằm vào các trang Facebook của các cơ quan Việt Nam cũng như các cá nhân ủng hộ đảng, bà Angelina Trang Huỳnh nói rằng:

“Chúng ta bỏ thời gian trên Facebook là để nhắm vào việc cổ võ tự do mạng và tự do ngôn luận, đưa những thông tin trung thực đến với cư dân mạng. Chúng tôi không có chủ trương ồ ạt báo cáo những trang của họ. Đó là việc của họ, bên nào có những thông tin trung thực đi đúng với lòng dân, đúng với những gì cư dân mạng quan tâm thì sẽ được nhiều người hưởng ứng thôi.”

Các nhà hoạt động truyền thông bằng facebook đồng ý với nhau là trong sự tự động của Facebook có một khuyết điểm khi khóa các trang bị ồ ạt báo cáo dù rằng nội dung các trang này không có gì sai phạm. Bà Angelina Trang Huỳnh nói thêm là kiểu hoạt động tự động đó chỉ thích hợp với người sử dụng phương Tây, nơi không có sự độc tài truyền thông cũng như là đội ngũ dư luận viên đông đảo như Việt Nam.

Để kết thúc xin mượn câu chuyện của Blogger Mẹ Nấm để thấy sự sôi động và thú vị của cuộc chiến tranh trên mạng xã hội Facebook hiện nay. Khi trang Facebook của chị bị khóa thì chị đã gửi các căn cước chứng minh nhân thân của mình đến facebook thì được biết là những thông tin này đã được ai đó gửi đến trước. Theo chị thì chỉ có cơ quan an ninh Việt Nam là nắm vững chi tiết nhân thân của chị.

Đồng thời, những nhân viên an ninh thường theo dõi chị bằng phương tiện Facebook của chính họ, đã hốt hoảng vì thấy trang Facebook của chị biến mất.

 

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-07-15

A, B, C về tự do trí tuệ và kiểm duyệt

Featured Image: “Ngày trưởng thành” – Nguyễn Đình Đăng

 

“Ở nơi nào người ta đã đốt sách, người ta sẽ kết thúc bằng đốt sinh mạng con người.” Almansor (1821) – Heinrich Heine

A. Tự do trí tuệ là gì và tại sao nó quan trọng?

Tự do trí tuệ có nghĩa là bất kỳ một cá nhân nào sống trong xã hội loài người đều có quyền tìm kiếm và tiếp nhận thông tin thuộc mọi quan điểm mà không hề bị bất cứ một trở ngại nào. Tự do trí tuệ vì vậy bảo đảm cho con người quyền tự do bộc lộ ý tưởng bằng nhiều cách khác nhau qua đó có thể làm sáng tỏ mọi khía cạnh của một vấn đề, một nguyên nhân, hay một trào lưu. Như vậy tự do trí tuệ có quan hệ mật thiết với tự do ngôn luận và tự do biểu hiện. Thiếu tự do trí tuệ xã hội sẽ dễ dàng bị một thiểu số nhân danh dư luận, nhân danh nhà cầm quyền, nhân danh các nhà tài phiệt, hay nhân danh một giai cấp, tầng lớp nào đó trong xã hội v.v. lừa dối. Của cải vật chất, tinh thần, tài nguyên, lãnh thố của quốc gia và cả sinh mạng con người dễ bị lợi dụng nhằm đạt mục đích ích kỷ của một số người hoặc các tập đoàn.

Tự do trí tuệ là một trong những hòn đá tảng xây nên nền móng của một xã hội dân chủ. Trong một xã hội dân chủ, mỗi người dân là người chủ của chính mình, là người điều khiển chính bản thân mình, chứ không phải ai khác. Nhưng để mỗi người dân có thể chịu trách nhiệm về việc đó, mọi công dân của xã hội phải được nhận đầy đủ thông tin. Tự do trí tuệ như vậy bao gồm tự do tàng trữ, tiếp nhận và phát tán thông tin.
Đối kháng với tự do trí tuệ là kiểm duyệt.

B. Kiểm duyệt là gì, nó xảy ra như thế nào và ai là người muốn kiểm duyệt?

Kiểm duyệt là sự ngăn cấm, loại bỏ, hay đàn áp những ý tưởng hoặc thông tin mà một số người thấy không chấp nhận được hoặc cho là nguy hiểm. Những người này có thể là một số cá nhân, nhóm người, hoặc một số người nhân danh nhà cầm quyền. Kiểm duyệt bắt đầu khi có một người nói: “Chớ có cho ai đọc quyển sách đó (hoặc mua số báo đó, hoặc coi bộ phim hoặc vở kịch đó, hoặc nghe bài hát hoặc bản nhạc đó, hoặc xem bức tranh đó) vì tôi không đồng ý.”

Các nhà kiểm duyệt ép các cơ quan, trường học, nhà xuất bản, báo chí, tổ chức, công ty, viện nghiên cứu, v.v. loại bỏ các thông tin mà họ cho là không thích hợp hoặc nguy hiểm, không cho phép công chúng tiếp xúc với các thông tin đó. Kết quả là không ai có thể có cơ hội đọc hoặc xem các thông tin này để có thể tự suy nghĩ và phán xét đúng, sai, hay, dở về chúng. Các nhà kiểm duyệt muốn tự đánh giá, xếp loại, phân “luồng” thông tin cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, đã là công dân một xã hội dân chủ, pháp quyền, thì bất kỳ người nào cũng có quyền đọc, nhìn, nghe, và tuyên truyền các ý tưởng không vi phạm hiến pháp, cho dù nhà kiểm duyệt không muốn chấp nhận những ý tưởng đó đi chăng nữa.

Kiểm duyệt xảy ra khi các tài liệu bày tỏ ý tưởng như sách, báo, phim, ảnh, các tác phẩm nghệ thuật, v.v. (gọi chung là “tài liệu”) bị loại bỏ hoặc cất đi không cho công chúng xem. Một số cá nhân hoặc nhóm người “điểm mặt chỉ tên” những “tài liệu” mà họ phản đối. Trong một số trường hợp, các nhà kiểm duyệt cấm các trường học không được sử dụng các “tài liệu” này, cấm các hiệu sách, hiệu đĩa, hiệu băng video không được lưu giữ chúng, cấm các nhà xuất bản không được ấn hành chúng, cấm các galleries, các phòng triển lãm không được trưng bày chúng. Kiểm duyệt cũng xảy ra khi một số “tài liệu” bị hạn chế phạm vi sử dụng, chỉ được sử dụng đối với một loại công chúng dựa trên một số tiêu chuẩn về tuổi tác, hoặc các tiêu chuẩn khác (ví dụ sách báo, phim ảnh dành cho người lớn, v.v.).

Trong đại đa số trường hợp, nhà kiểm duyệt (hoặc người có tư tưởng kiểm duyệt) thường chân thành tin rằng kiểm duyệt có thể làm xã hội tốt đẹp hơn, lành mạnh hơn, có thể bảo vệ trẻ em, thanh thiếu niên, và giữ gìn hoặc khôi phục cái mà nhà kiểm duyệt cho là “giá trị tinh thần” “bản sắc dân tộc” hay “thuần phong mỹ tục”, v.v. Các nhà kiểm duyệt có thể thật sự tin rằng một số “tài liệu” có chứa nội dung quá khích, chống lại, thậm chí phá hoại trật tự xã hội hiện hành tới mức không còn cách nào khác để ngăn chặn “tác hại” của chúng, ngoài việc “khai tử” cho các “tài liệu” này, tức là loại bỏ chúng, không bao giờ công bố chúng.

Một số nhà kiểm duyệt khác thì lo ngại rằng những người trẻ tuổi hoặc yếu đuối hơn sẽ có thể làm điều xấu do bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng xấu. Thậm chí, vẫn còn không ít người tin rằng có một ranh giới hết sức rõ ràng giữa những tư tưởng “đúng đắn”, phù hợp với “đạo đức” và những tư tưởng “sai trái” “đồi bại”. Những người này muốn đảm bảo rằng xã hội sẽ chỉ có lợi nếu tuân theo quan điểm của họ. Họ tin tưởng rằng một số cá nhân nào đó, hoặc một số tổ chức, cơ quan, đoàn thể nào đó, thậm chí toàn xã hội sẽ lâm nguy nếu một số tư tưởng riêng rẽ nào đó được lan truyền rộng rãi mà không bị ngăn cản.

Trớ trêu thay, điều mà các nhà kiểm duyệt thường không để tâm đến là kiểm duyệt không khác gì con dao hai lưỡi đối với chính các nhà kiểm duyệt. Cụ thể là, nếu như ngày hôm nay các nhà kiểm duyệt thành công trong việc loại trừ hay đàn áp các tư tưởng mà họ không thích, ngày mai những người khác có thể sẽ dùng chính cái tiền lệ đó để loại trừ hay đàn áp những tư tưởng mà các nhà kiểm duyệt hôm nay đang ưng ý. Cách đây 150 năm, trong tác phẩm Bàn Về Tự Do (1859), John Stuart Mill [1] đã viết:

“Nếu như toàn nhân loại, ngoại trừ một người, có chung một quan điểm, và chỉ có một người duy nhất có quan điểm trái ngược, thì bằng cách bịt miệng người đó, toàn nhân loại cũng chẳng có lý gì hơn là chính người đó, nếu y có quyền, sẽ dùng quyền lực của mình để bịt miệng toàn nhân loại.”

Ông còn viết:

“Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn rằng quan điểm mà chúng ta đang gắng sức bóp chết là một quan điểm sai; và nếu chúng ta có chắc chắn đi chăng nữa thì việc bóp chết nó vẫn cứ là một điều quái gở.”

C. Mối quan hệ giữa kiểm duyệt và tự do trí tuệ

Những quyền mà các nhà kiểm duyệt thực hiện khi họ phát biểu quan điểm hoặc mối lo ngại của họ về các tác phẩm của đương sự (nhà xuất bản hay tác giả) cũng chính là những quyền mà đương sự đó cần được bảo vệ khi đối mặt với nhà khiểm duyệt. Điều đó có nghĩa là khi các nhà kiểm duyệt công bố cho công chúng biết sự phê phán của họ chống lại một số ý tưởng nào đó, họ đã thực hiện những quyền đúng như những quyền của người sáng tạo ra hoặc truyền bá các “tài liệu” mà các nhà kiểm duyệt phản đối. Điều đó cũng có nghĩa là, trong một xã hội dân chủ, quyền của các nhà kiểm duyệt trong việc phát biểu và thuyết phục người khác chấp nhận quan điểm của mình sẽ được luật pháp bảo vệ chừng nào quyền của những người phát biểu quan điểm đối nghịch cũng được luật pháp bảo vệ. Quyền của cả hai phía đều phải được luật pháp bảo vệ như nhau. Nếu không, không phía nào có thể tồn tại lâu dài được.

Lịch sử nhân loại đã làm chứng cho vô vàn các cuộc kiểm duyệt. Sách vở thường xuyên bị kiểm duyệt vì nội dung chính trị, tình dục, hoặc ngôn ngữ xúc phạm tới chủng tộc, dân tộc, văn hóa, giới tính, lập trường chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo của các nhóm người khác nhau. Các tài liệu bị coi là nhảm nhí, tục tĩu, khiêu dâm, hoặc không thích hợp cho thiếu nhi cũng thường bị kiểm duyệt. Từ khi nhân loại bắt đầu lưu giữ được các biểu hiện của mình bằng văn bản, nhiều người đã bị thiêu sống trên giàn lửa, bị ép uống thuốc độc tự tử, bị đóng đinh câu rút, bị giam cầm, đày ải, hành hạ, sỉ nhục chỉ vì những gì họ đã viết ra và tin theo.

Sau đây chỉ là một vài ví dụ điển hình. Đầu năm 213 trước công nguyên, Tần Thủy Hoàng định “xóa sổ” lịch sử bằng cách ra lệnh đốt tất cả sách sử trừ những sách sử của nhà Tần. Những ai tàng trữ hai bộ Kinh Thi và Kinh Thư hoặc sách vở của trăm nhà đều phải đem trình quan để đốt đi. Hai người dám bàn nhau về Kinh Thư, Kinh Thi thì chém giữa chợ, lấy đời xưa mà chê đời nay thì giết cả họ. Một năm sau Tần Thủy Hoàng ra lệnh bắt 460 Nho sĩ đem chôn sống.

Heinrich Heine từng viết trong vở kịch Almansor (1821) của mình: “Ở nơi nào người ta đã đốt sách, người ta sẽ kết thúc bằng đốt sinh mạng con người.” Một thế kỷ sau, lời tiên tri của Heine đã thành sự thật ngay tại quê hương ông. Năm 1933 những người Đức Quốc xã bắt đầu bằng việc đốt sách tại Berlin. Trong số sách báo bị đốt đó có cả các tác phẩm của chính Heinrich Heine. Tám năm sau, Đức Quốc xã dựng nên các trại tập trung và lò thiêu người, mà điển hình là trại Auschwitz, nơi một triệu một trăm ngàn con người đã bị thiêu chết, trong đó 90% là người Do Thái. Tại Liên Xô trong những năm 1940 – 1950 Stalin đã ra lệnh đốt toàn bộ sưu tập sách của người Do Thái thuộc thư viện ở Birobidzhan – thủ phủ của khu vực tự trị của người Do Thái lúc bấy giờ, nằm ở Viễn Đông, giáp vùng Khabarovsk, Amur của Nga, và biên giới giữa Nga và Trung Quốc. Trong cuốn Khủng Bố Vĩ Đại tác giả Robert Conquest cho biết khoảng 10 triệu người đã bị hành quyết hoặc chết trong các nhà tù dưới chế độ Stalin. Khi Stalin chết vào năm 1953, Liên Xô có 12 triệu người bị giam trong các trại tập trung.

Trong số những lời phản đối kiểm duyệt của các trí thức và nhân vật lừng danh trên thế giới trong lịch sử cận đại, hùng hồn nhất có lẽ là phát biểu của thủ tướng Anh Winston Churchill. Ông nói:

“Các bạn hãy nhìn các nhà độc tài đang ngự trên bệ, bao bọc bởi những hàng lưỡi lê của quân lính và dùi cui của đội cảnh sát của họ. Thế nhưng con tim của họ đang bị bao trùm bởi một nỗi sợ hãi không nói được và không thể nói được nên lời! Họ sợ các lời nói và ý nghĩ. Những lời nói được phát ra bên ngoài, những ý nghĩ sôi sục bên trong, tất cả bỗng chốc trở nên mạnh mẽ hơn, chính bởi vì chúng bị cấm đoán. Những cái đó làm họ hoảng sợ. Chỉ một con chuột nhắt, một tư tưởng nhỏ xíu như con chuột nhắt, xuất hiện trong phòng đã khiến cả những thống lãnh quyền lực nhất rơi vào trạng thái hoảng loạn.”

D. Sự vô nghĩa của kiểm duyệt tự do trí tuệ trong thời đại internet

Trong bức thư ngày 7 tháng 1 năm 1794 gửi nhà độc tài Robespierre [2] vì đã đốt tờ báo Vieux Cordelier, nhà cách mạng và nhà báo Pháp Camille Desmoulins [3] đã trích dẫn lời của Jean-Jacques Rousseau: “Đốt không phải là câu trả lời.” Desmoulins đã phải trả giá cho câu nói của mình bằng chính mạng sống của ông: Ngày 31 tháng 3 năm 1794 ông bị bắt và bị đem ra xử tại “tòa án cách mạng”. Tại đây ông bị buộc tội “gián điệp”, bị từ chối quyền tự bào chữa, rồi bị kết án tử hình ngày 5/4/1794 lúc ông mới 34 tuổi [4]. Mặc dù cái kết cục bi thảm ấy thường được lặp đi lặp lại nhiều lần trong lịch sử, câu trích dẫn lời Jean-Jacques Rousseau đã vạch rõ một chân lý hiển nhiên: “Không thể thuyết phục được một con người bằng cách bịt miệng anh ta.“

Lịch sử đã sang trang trong hai thập kỷ cuối và nền văn minh nhân loại đã bước sang một thời đại mới: Thời đại của internet. Hơn cả máy in, điện thoại, radio, rồi vô tuyến truyền hình, internet là phương tiện lan truyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng mạnh mẽ nhất và dân chủ nhất mà con người từng được biết đến. Khi mà bất cứ người nào ở bất cứ nơi đâu (được nối mạng) trên thế giới cũng có thể gửi mọi thông tin, ảnh, phim video, âm thanh lên internet để toàn thế giới có thể đọc, xem, nghe được ngay tức khắc, kiểm duyệt dần dần trở nên bất lực, trơ trẽn, lố bịch, và vô nghĩa. Tự do ngôn luận dần dần trở thành cái gì đó không ai có thể hạn chế được.

Trong phần kết của bài báo “Những chiến sĩ của mặt trận tàng hình” [5] đăng tại Tạp chí Nga ngày 8/6/2006, tác giả Alexander Kolesnichenko đã kết luận: “Internet là phương tiện thông tin đại chúng tự do nhất trong các phương tiện từng tồn tại từ trước tới giờ. Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ được lựa chọn trên internet không chỉ những gì để đọc, mà còn để nghe và nhìn nữa. Cứ mặc kệ cho nhà nước tiếp tục kiểm soát vô tuyến truyền hình và những tập đoàn đặc quyền đặc lợi tiếp tục chiếm hữu các tờ báo của họ. Như người đời thường nói, cứ kệ cho họ chiếu và viết những nhăng nhít mà chỉ có chính họ sẽ xem và đọc mà thôi.”

 

Nguyễn Đình Đăng
Tokyo 22/6/2006
Hiệu đính ngày 24/5/2009


Chú giải:

*) Phần A, B và C của bài viết này chủ yếu dựa trên trang “Intellectual freedom and censorship Q & A” tại website của American Library Association: http://www.ala.org/ala/aboutala/offices/oif/basics/ifcensorshipqanda.cfm.
[1] John Stuart Mill (1806 – 1873) – triết gia theo tư tưởng tự do người Anh.
[2] Maximilien Robespierre (1758 – 1794) – một trong các lãnh tụ khét tiếng nhất trong thời kỳ Khủng bố (1793 – 1794) của Cách mạng Pháp (1789 – 1799). Bắt đầu như một người theo phái tư tưởng tự do, lấy tác phẩm của Jean-Jacques Rousseau làm sách gối đầu giường, Robespierre có niềm tin ngây thơ đến mù quáng vào cuộc cách mạng Pháp. Trong giai đoạn gay cấn nhất của cuộc cách mạng, Robespierre được bầu làm người đứng đầu Ủy ban An toàn Công cộng (một dạng Ủy ban An ninh Quốc gia (KGB) của thời Cách mạng Pháp) gồm 12 ủy viên. Đây là ủy ban thừa hành thực chất có quyền lực nhất. Để chống lại các lực lượng “phản cách mạng” trong nước, Ủy ban này ban hành chính sách của thời kỳ Khủng bố. Trong diễn văn ngày 5 tháng 2 năm 1794 Robespierre biện hộ cho Khủng bố như một biện pháp của lòng yêu nước và công lý để bảo vệ “thành quả cách mạng” là “tự do” và “bình đẳng”. Ông tuyên bố xã hội chỉ bảo hộ các công dân hòa bình, mà theo định nghĩa của ông đó là những người Cộng hòa. Những người bảo hoàng và những người âm mưu chống đối bị ông xếp vào hàng kẻ thù của tự do, phải bị Khủng bố trừng trị. Chỉ trong trong vòng 5 tháng từ tháng 9/1793 đến tháng 2/1794 chỉ riêng Tòa án Cách mạng ở Paris đã kết án và chặt đầu gần 300 người. Riêng trong ngày Robespierre đọc diễn văn nói trên, có hơn 5000 người bị giam trong các nhà ngục ở Paris chờ xử án. Chính bản thân Robespierre cũng trở thành nạn nhân của bộ máy mà ông là người tham gia sáng lập: Sốt ruột vì tiến trình chậm chạp của cách mạng, Robespierre đưa ra lời đe dọa Quốc hội. Chỉ 5 tháng sau bài diễn văn, Robespierre bị bắt và bị kết án tử hình.
[3] Camille Desmoulins (1760 – 1794) – nhà cách mạng và nhà báo Pháp, nổi tiếng bởi bài diễn thuyết mở màn cho cuộc tấn công nhà ngục Bastille. Ngày 12/7/1789, nghe tin vua Louis XVI cách chức tổng trưởng tài chính Necker – một người theo phe cải cách, Desmoulins đã nhảy lên bàn tại một quán café cạnh Hoàng cung (Palais Royal) và loan tin cho đám đông khoảng một vạn dân chúng về vụ bãi nhiệm nhà cải cách và nguy cơ bị các đạo quân người Thụy Sĩ và Đức của nhà vua thảm sát. Trong lúc cao hứng, ông kêu gọi dân chúng cướp vũ khí xuống đường. Cuối cùng ông rút trong túi ra hai khẩu súng lục và tuyên bố với đám cảnh sát đang theo dõi nhất cử nhất động của ông rằng ông thà chết chứ không chịu rơi vào tay họ. Ông nhảy từ trên bàn xuống trong vòng tay nồng nhiệt của đám đông. Hành động của Desmoulins đã châm ngòi cho hàng loạt cuộc nổi dậy của dân chúng và quốc dân quân tại Paris trong 2 ngày tiếp theo. Ngày 14/7/1789 đám đông khoảng một ngàn người tấn công nhà ngục Bastille để cướp vũ khí. Sau 4 tiếng đồng hồ cầm cự, thống chế de Launey đầu hàng, bị đám đông bắt, bị đâm nhiều nhát dao cho đến chết, rồi bị chặt đầu đem diễu phố.
[4] Gieo gió thì gặt bão, chỉ bốn tháng sau đó, chính bản thân Robespierre cũng bị bắt và bị đưa lên máy chém ngày 28/7/1794.
[5] Александр Колесниченко “Бойцы невидимого фронта”, Русский Журнал, 8/6/2006.

Tin tức rất có hại – Từ bỏ thói quen đọc tin tức bạn sẽ hạnh phúc hơn

Featured Image: Walter Watzpatzkowski

 

Trong vài thập kỷ qua, những người có cuộc sống khá giả trong xã hội phương Tây đã bắt đầu nhận ra sự nguy hại của việc tiêu thụ thực phẩm bừa bãi: Chúng gây ra các bệnh béo phì, tiểu đường… Riêng ở Mỹ, hơn 1/3 dân số mắc bệnh béo phì. Nó đã trở thành vấn nạn nhức nhối với những người dân không chỉ ở Mỹ mà còn ở các nước phát triển nói chung. Họ đã bắt đầu khắt khe hơn với vấn đề thực phẩm và cố gắng thay đổi chế độ ăn uống của mình: Quan tâm xem hàng ngày mình ăn gì, loại thức ăn đó chứa nhiều đường không, chứa bao nhiêu kcal…

Ở một khía cạnh khác, chúng ta cũng đang sống ở trong thời kỳ quá dư thừa về thông tin, nhưng hầu hết chúng ta chưa hiểu về hệ quả của việc dư thừa đó với tâm trí của mình. Thực sự thì ảnh hưởng của tin tức đối với tư duy cũng tương đồng với ảnh hưởng của chất đường đối với cơ thể. Chúng đều dễ “tiêu hóa”. Truyền thông cho chúng ta ăn từng mẩu “tin tức bọc đường” nho nhỏ, chẳng gây ra ảnh hưởng nguy hại gì nhãn tiền để ta có thể ngay lập tức nhận ra, và ta dễ dàng phớt lờ và tiếp tục nuốt chúng. Tiêu hóa từng mẩu nhỏ một, ta sẽ chẳng có cảm giác chán ăn hay bội thực. Điều đó khác xa với việc đọc những cuốn sách hoặc các bài viết dài trên tạp chí, nơi hàm lượng thông tin đậm đặc. Chúng ta có thể tiêu thụ một số lượng vô hạn của các mẩu tin vắn, và đó giống như là những viên kẹo dành cho trí não. Hôm nay, chúng ta đã đạt đến kết quả tương đồng với cái chúng ta đã đến cách đây 20 năm trong lĩnh vực thực phẩm. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng tiêu thụ thông tin không đúng cách có thể độc hại thế nào.

Tin tức gây lệch lạc

Lấy ví dụ sự kiện sau đây (mượn từ Nassim Taleb). Một chiếc xe lái qua một cây cầu, và cây cầu sập. Giới truyền thông tập trung vào điều gì? Xe. Người trong xe. Nơi ông ta đến. Nơi ông dự định đi . Trải nghiệm ông đã phải trải qua trong vụ tai nạn (nếu còn sống). Nhưng tất cả chúng chẳng đáng để chúng ta phải bận tâm nhiều. Thế thì cái gì đáng để bận tâm? Đó là tại sao câu cầy sập, đó mới chính là mối nguy hiểm tiềm tàng, có thể đang ẩn nấp trong các cây cầu khác nữa. Chiếc xe ấy hào nhoáng, nó gây ấn tượng cảm xúc mạnh, và nhân vật chính là một con người chứ không phải một vật vô tri khác. Thế nhưng điều quan trọng nhất đó chính là việc khai thác khía cạnh đó để đưa tin nhàn và tốn ít chi phí hơn nhiều so với việc đi phân tích các cây cầu.

Tin tức làm chúng ta bị lệch lạc hoàn toàn trong việc đánh giá cái gì là nguy hại và cái gì thì không. Chủ nghĩa khủng bố bị phóng đại thái quá. Stress do làm việc quá sức thì bị xem nhẹ. Ảnh hưởng của sự sụp đổ của các ngân hàng lớn thì bị thổi phồng. Trách nhiệm của những nhà dự báo kinh tế thì bị chẳng được nhắc đến. Người ta xem trọng phi hành gia quá mức. Còn y tá thì bị đánh giá thấp. Danh sách cứ tiếp diễn mãi như vậy. Bạn có nghĩ ra trong những tin tức mà giới truyền thông Việt Nam khai thác và mổ xẻ thời gian gần đây, cái gì bị thổi phồng quá mức mà những thông tin quan trọng khác bị phớt lờ không? Cứu nạn máy bay Malaysia gặp nạn? Vụ Huyền Chip? Hôi của?

Chúng ta thường thiếu lý trí, sự bình tâm và dễ dàng bị truyền thông dắt mũi. Chứng kiến trực tiếp một vụ tai nạn máy bay trên truyền hình sẽ thay đổi thái độ của bạn đối với chính rủi ro đó, bất kể một thực tế đã được chứng mình rằng xác suất thực sự của việc rơi máy bay là cực nhỏ, và nó là phương tiện giao thông an toàn hơn ô tô, tàu hỏa rất nhiều. Nếu bạn đang nghĩ rằng ý tưởng tin tức có thể ảnh hưởng đến tư duy và thái độ của mình thật buồn cười, rằng mình hoàn toàn có thể đọc nó mà không bị nó tác động hay làm cho mình bị lệch lạc đi thì bạn đã lầm to. Những ông chủ ngân hàng và các nhà kinh tế học, những người mà đáng lý quyết định của mình phải dựa trên lý trí và các bằng chứng thực tế thay vì xu hướng của đám đông hay sự nhảy nhót nhất thời của giá cả đã cho thấy rằng con người hành động dựa trên cảm tính nhiều thế nào và ít dùng lý trí ra sao.

Aristoteles từng nói rằng: “Để một tâm trí có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn một ý kiến, một quan điểm mà không phải chấp nhận, không phải tin vào nó đòi hỏi một sự giáo dục rất lớn.” Vậy nếu bạn không có khả năng nhìn được tổng thể, đa chiều ở một sự kiện mình chưa hiểu thực sự rõ và không muốn để truyền thông dắt mũi, bạn phải làm gì?

Giải pháp đơn giản nhất đó chính là cắt bỏ hoàn toàn khỏi việc tiêu thụ tin tức.

Tin tức ít có giá trị

Trong số 10 nghìn tin tức bạn đã đọc trong vòng 12 tháng trở lại đây, hãy thử kể tên điều gì đã thực sự giúp bạn tư duy tốt hơn, ra quyết định khiến cho cuộc sống của bạn tốt hơn, sự nghiệp của bạn tốt hơn? “Có đọc có hơn” là một sự lừa mị to lớn. Nếu bạn là một người thực tế, hãy để kết quả ngoài cuộc sống là câu trả lời chính xác nhất, chứ đừng là một tư duy đầy cảm tính và phổ biến sau đây: “Đọc báo không có lợi ở mặt này thì có lợi ở mặt khác, chưa phải bây giờ thì là sau này.” Như đã nói, con người không lý trí như mình nghĩ, và thực sự ít người có thể giỏi trong kiểu tư duy được-mất đó. Phần lớn bạn sẽ rơi vào nhóm những người bị mất hơn là được.

Mọi người càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm ra cái gì thực sự phù hợp cho bản thân mình, hay lớn hơn là kiểu tư duy của mình có còn phù hợp với xã hội ngày nay, với thời đại hiện giờ nữa hay không? Các tập đoàn truyền thông đưa cho bạn một giải pháp giản đơn cho câu hỏi đó : càng cập nhật những thông tin mới nhất, hiểu biết mới nhất về thế giới sẽ tạo cho bạn một lợi thế cạnh tranh to lớn so với người khác. Thế nhưng thực sự thì điều gì phù hợp với con người bạn mới giúp bạn đi đúng hướng, những điều mới nhất nhưng khiến cho bạn đi lệch khỏi bản chất của bạn chỉ tổ khiến cho bạn tốn thời gian vô ích. Tin tức không phù hợp chỉ tăng thêm tính bất lợi cho bạn mà thôi. Càng ít tiêu thụ chúng càng tốt cho bạn hơn.

Tin tức không cho bạn biết được điều gì đang thực sự diễn ra

Các mẩu tin là những cái bong bóng nhỏ nổ trên bề mặt chứ không cho bạn biết được điều gì đang tạo ra những bong bóng kia ở sâu bên dưới những gì bạn có thể nhìn thấy. Thu thập những mẩu dữ kiện đó có thể giúp bạn hiểu cách thế giới vận hành? Đáng buồn là không phải vậy. Những điều đang vận hành thế giới hay thay đổi thế giới này là những trào lưu, là những vận động ở dạng ngầm ẩn mà các nhà báo khó mà có thể phát hiện ra được.

Hãy nghĩ về những phát minh đã làm thay đổi thế giới. Trước khi chúng trở thành sự thật, trở thành một thế lực khiến giới truyền thông quan tâm đến là cả một thời kỳ dài tích lũy, nghiên cứu và phát triển trong âm thầm. Bill Gates bắt đầu được báo chí để mắt khi ông ở tầm tuổi 30, nhưng thực sự ông đã bắt đầu lập trình từ khi ông 13 tuổi. Nói cách khác một tài năng được thành hình trong lặng lẽ trong hai chục năm. Sẽ phải đòi hỏi một năng lực siêu phàm thì các nhà báo mới có thể phát hiện ra được những tài năng, những trào lưu đột phá đang âm thầm phát triển xung quanh họ. Thêm nữa, đó cũng chẳng phải việc nhà báo được trả lương phải làm. Báo chí và tin tức sẽ chỉ cho bạn biết thêm thông tin về những ai đã nổi tiếng, đã thành công mà thôi.

“Không có tiềng kèn nào được cất lên khi những quyết định quan trọng được tạo ra. Định mệnh được tạo nên trong âm thầm.” – Agnes de Mille

Bạn càng tiêu hóa nhiều mẩu tin tức vụn vặt kiểu đó, bạn càng có ít hiểu biết về bức tranh toàn cảnh của vấn đề. Nếu như nhiều thông tin hơn sẽ dẫn đến thành công cao hơn trong cuộc sống thì chắc hẳn những nhà báo, những học giả hay những người giao dịch chứng khoán hay những người đọc tin tức nhiều nói chung sẽ là những người giàu có và quyền lực nhất trong xã hội. Thực tế thì khác xa như vậy.

Tin tức độc hại đối với cơ thể của bạn

Nó liên tục kích hoạt hệ viền (limbic system) thuộc não bộ . Những câu chuyện đáng sợ thúc đẩy việc phát tán của các dòng của glucocorticoid (cortisol). Điều này làm nhiễu loạn hệ thống miễn dịch của bạn và ức chế sự phát tán của các hormone tăng trưởng. Nói cách khác, cơ thể sẽ gặp phải tình trạng căng thẳng mãn tính (chronic stress). Các mức độ glucocorticoid cao khiến cho tiêu hóa trục trặc, xương và tóc gặp trục trặc trong khả năng phát triển và tình trạng mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm. Các tác dụng phụ có thể bao gồm sợ hãi, hung hăng, và thiếu nhạy cảm.

Tin tức làm tăng nhận thức lỗi

Tin tức nuôi dưỡng mầm mống của một loại lỗi nhận thức phổ biến: Sự củng cố thành kiến (confirmation bias). Nói như Warren Buffett: “Những gì con người làm tốt nhất là giải thích tất cả các thông tin mới làm sao cho các kết luận trước đó của họ vẫn chính xác.” Tin tức chỉ liên tục khiến bạn tin thêm vào những gì bạn đã biết trước đó. Điều đó khiến cho bạn trở nên tự tin thái quá, chấp nhận những rủi ro ngu ngốc và đánh giá sai lệch các cơ hội.

Hiện nay trên báo chí đầy rẫy những suy luận, gán ghép hết sức chủ quan và sai lệch. Nó đôi khi còn được ngụy trang bằng những gợi ý nho nhỏ, bạn nên suy nghĩ thế này, nên suy luận thế kia. Các bạn có quen thuộc với những câu chữ suy luận dạng: “Công ty phá sản vì X…” “Thế giới được thay đổi bởi Y…” Trong khi hoàn toàn thiếu những chứng cứ thuyết phục. Tôi đã thực sự chán ngấy khi đọc những bài báo đưa tin về một sự kiện diễn ra ngắn ngủn đi kèm với một nhận định đầy chủ quan và nguy hiểm ở cuối bài rồi. Các bạn chắc hẳn cũng chẳng xa lạ gì với điều kể trên, vậy tại sao vẫn tiếp tay cho chúng bằng việc tiếp tục đọc những tin tức kiểu đó, những tờ báo kiểu đó?

Tin tức ức chế suy nghĩ

Suy nghĩ đòi hỏi sự tập trung. Muốn tập trung được bạn cần thời gian không bị gián đoạn. Tin tức được thiết kế đặc biệt để gây sao nhãng, cản trở việc tư duy của bạn. Tin tức làm cho tư tưởng của chúng ta trở nên nông cạn.

Nhưng tin tức còn tồi tệ hơn cho khả năng ghi nhớ của bạn. Có hai loại bộ nhớ: Ngắn hạn và dài hạn. Khả năng của bộ nhớ dài hạn (long-range memory) là gần như vô hạn, nhưng bộ nhớ ngắn hạn (working memory) có giới hạn rất nhỏ. Đường đi từ trí nhớ ngắn hạn đến trí nhớ dài hạn là một nút thắt cổ chai của quá trình tư duy, nhưng bất cứ điều gì bạn muốn hiểu và ghi nhớ đều phải đi qua. Bởi vì tin tức nhồi vào trí nhớ ngắn hạn quá nhiều thông tin, khiến nó trở nên quá tải, ta sẽ chẳng nhớ và hiểu nổi thông tin nào một cách đầy đủ và tường tận.

Tin tức trực tuyến thậm chí còn tệ hơn. Trong một nghiên cứu năm 2001, hai học giả Canada cho thấy khả năng hiểu giảm khi số lượng các siêu liên kết (hyperlink) trong một tài liệu tăng lên. Tại sao vậy? Bởi vì bất cứ khi nào một liên kết xuất hiện, bộ não của bạn phải chia sẻ một ít trí năng của mình để phán đoán xem có click hay không. Nói cách khác báo chí và tin tức là một hệ thống được tạo nên với mục đích làm phân mảnh và rời rạc sự tập trung cũng như tư duy của bạn: Đọc mỗi thứ một tí, chỗ này một ít, chỗ kia một tẹo.

Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về cách trí nhớ ngắn hạn và dài hạn hoạt động, có thể tham khảo bài viết này, ở chương 7,8,9 : Review sách “Trí tuệ giả tạo – Internet đã làm gì chúng ta

Tin tức thay đổi cấu trúc bộ não

Khi đã theo dõi một chủ đề nào đó, ta sẽ có xu hướng tìm đọc và cập nhật những diễn biến mới của câu chuyện đó. Hình ảnh một người đăng một post lên Facebook và refresh liên tục để xem có ai like hay bình luận gì không có quen thuộc với bạn không? Cảm giác chờ đợi thứ đó gì đó mới kiểu vậy không khác mấy cảm giác khi chúng ta nghiện thứ gì đó : thuốc lá, rượu, cờ bạc, ma túy…

Trước kia các nhà khoa học nghĩ rằng cấu trúc vật lý của bộ não từ lúc trưởng thành cho tới lúc chết là không thay đổi , tuy nhiên điều này đã được khẳng định là không đúng. Bộ não người, kể cả những người trưởng thành đều rất mềm dẻo và dễ thay đổi. Nơron liên tục cắt đứt các kết nối cũ để hình thành nên các kết nối với nơron mới và cấu trúc vật lý của bộ não cũng như thói quen tư duy của chúng ta sẽ thay đổi theo. Càng nghiện thứ gì, thứ đó lại càng trở thành thói quen ưa thích, cách tư duy ưa thích của chúng ta. Ngày nay một vấn nạn dễ thấy đó là khả năng mất tập trung và khó tiêu hóa nổi những bài viết dài. Chỉ sau 5-10 phút đọc là chúng ta không thể tập trung để đọc tiếp được nữa, trong số đó có cả những người trước kia đã từng là độc giả trung thành của những quyển sách dày. Cấu trúc bộ não của họ đơn giản là đã bị thay đổi vì thói quen đọc báo.

Tin tức làm tốn thời gian vô ích

Nếu bạn đọc báo 15 phút mỗi buổi sáng, bạn sẽ lại tiếp tục tìm kiếm những tờ báo trong 15 phút buổi trưa, và chốc chốc mỗi 5 phút bạn lại thấy mình lên các tờ báo để tìm kiếm những thông tin mới. Cuối cùng bạn mất cả đống thời gian để tìm xem có gì mới hơn trên các tờ báo nữa hay không.

Thời đại ngày nay, thông tin không còn là một thứ thiếu thốn nữa, nhưng sự tập trung thì có. Thông tin là vô hạn, nhưng thời gian của bạn thì luôn luôn là hữu hạn. Bạn sẽ chẳng bao giờ tiêu tốn một cách vô trách nhiệm với những thứ quan trọng khác như tiền bạc, sức khỏe hay danh tiếng của mình. Vậy tại sao lại hành xử thiếu trách nhiệm như vậy với thời gian và tâm trí đến vậy?

Tin tức giết chết sự sáng tạo

Cuối cùng, những điều chúng ta đã biết hạn chế sự sáng tạo của chúng ta. Đây là một lý do khiến các nhà toán học, nhà văn, nhà soạn nhạc và doanh nhân thường tạo ra các tác phẩm sáng tạo nhất của họ khi còn trẻ. Bộ não của họ được hưởng một không gian rộng rãi và không bị chiếm chật ních bởi những thứ vô bổ, điều chẳng giúp ích gì trong việc kích thích họ sản xuất những ý tưởng mới lạ. Tôi không biết một tâm trí thật sự sáng tạo nào như nhà văn, nhà soạn nhạc, nhà toán học, bác sĩ, nhà khoa học, nhạc sĩ, nhà thiết kế, kiến trúc sư hoặc họa sĩ mà lại là một người nghiện tin tức. Mặt khác, tôi biết một loạt các tâm trí độc ác không sáng tạo, những người tiêu thụ tin tức như thuốc phiện. Nếu bạn muốn đưa ra các giải pháp cũ, hãy đọc tin tức. Nếu bạn đang tìm kiếm những giải pháp mới, đừng đọc.

Xã hội cần báo chí – nhưng theo một cách khác. Báo chí điều tra luôn luôn là cần thiết, để phơi bày những sự thật được che dấu mà chúng ta chưa được biết. Nó cũng đưa cho chúng ta biết về các chính sách mà các tổ chức, định chế quan trọng của xã hội đang thực thi. Nhưng các mẩu tin ngắn sẽ chẳng có giá trị gì. Các bài phân tích dài và các cuốn sách chi tiết là đủ cho chúng ta và một xã hội dân chủ có thể vận hành tốt.

Tôi (tác giả) đã trải qua bốn năm mà không có tin tức, vì vậy tôi có thể nhìn thấy, cảm nhận và tường thuật những tác động của nó một cách trực tiếp và chân thực. Tâm trí cũng như cuộc sống của tôi ít gián đoạn hơn, ít lo lắng hơn, suy nghĩ sâu sắc hơn, nhiều thời gian hơn, nhiều hiểu biết thực tế hơn. Từ bỏ việc đọc tin tức không phải dễ dàng, nhưng nó đáng giá.

 

NguồnNews is bad for you – and giving up reading it will make you happier
Bản dịch của Elnino tại Book Hunter

Edit: THĐP
Chia sẻ bởi bạn Phi Tuyết

Trong bể có một con cá vàng

Featured Image: Noura Abdulrahman

 

Các bạn có đồng ý không, dù là ai, làm nghề gì, sống ở đâu thì trong mỗi con người đều có thứ gọi là cái đẹp và ai cũng yêu cái đẹp. Nó thể hiện bằng những cách khác nhau, muôn hình muôn vẻ. Có người thích âm nhạc, người thích viết văn, làm thơ, người vẽ tranh, chụp hình. Còn tôi, tôi chọn cho mình một bể cá, tôi thích ngắm những con cá bơi lượn trong bể, lúc thư thái thả mình trong làn nước, lúc tinh nghịch quẫy trên mặt nước sóng lăn tăn. Các bạn có tin không, đôi khi ta học được nhiều điều từ những chú cá bé nhỏ đó.

Lúc đầu bể của tôi có 5 chú cá nhỏ. Vì mới nuôi lần đầu nên cứ thấy đẹp là mua về, mỗi màu một con. Cái bể cá trông thật lộn xộn mà cũng khá vui mắt. Sinh viên mà, không cần quá cầu kỳ, quy tắc, những chú cá tôi gọi là “cái đẹp” đó vẫn tung tăng mỗi ngày, khi được cho ăn hay thay nước.

Thế rồi hè về, tôi cũng khăn gói về quê, cách trường vài trăm km, gửi cá cho ông bạn cùng lớp. Thế nào mà vài ngày nó lại gửi cho cái tin nhắn: “Chia buồn với mày nhé, cá của mày chết rồi.” Cả bể cá chỉ còn con cá vàng. Thấy chú ta có vẻ buồn, tôi tính xe duyên cho chú với một em cá vàng khác, giống như thằng bạn thân làm mối cho tôi ngày trước.

Hai con cá có vẻ vui lắm, cả ngày đuổi nhau tung tăng trong bể. Tôi thấy cá quấn quýt, hay chúng cũng giống người?

Mới vài ngày thôi, một trong hai con yếu dần rồi chết. Bể cá lại chỉ còn một con cá vàng. Dù cái bể nhỏ, nhưng sao vẫn mênh mông. Con cá cô độc, bơi qua bơi lại như tìm kiếm cái gì, không thấy. Nó thả mình trong làn nước, không phải thư thái, mà bất lực. “Hay mình mua thêm một con cá nữa nhỉ.” Tôi bắt đầu nghĩ. Nhưng thôi. Người cũng từng yêu, từng quấn quýt bên nhau, rồi cũng không lý do mà xa, cũng không gặp nhau nữa. Người cũng tìm kiếm, cũng bất lực. Thế rồi, cũng có những người khác đến với người, cũng làm quen cũng quấn quýt, nhưng không thể thay thế được cái gì đó quý lắm, đã mất.

Tôi nghĩ: “Lỡ như con cá vẫn nhớ những thứ nhỏ nhất của bạn nó, những cái vẩy nhỏ xinh màu vàng, hay cả cái đuôi bị rách ngày ngày tung tăng với nó. Dù không hoàn hảo, thì liệu có thứ gì thay thế được chứ.

Tôi quyết định để con cá một mình, bầu bạn với người. Ngày ngày cho ăn, con cá bơi lên đớp mồi rồi lại lặn xuống, lơ lửng giữa cái bể dường như quá to với nó. Cá có buồn không? Nhưng sao cá không cần bơi lượn, cá như không cần làm gì để xua đi cái cảm giác đó. Người thì học, làm, chơi đủ các môn, mà sao vẫn thấy thời gian trống trải vậy. Tôi nghĩ mà khen cho con cá vàng, nó giỏi hơn tôi.

Ngắm bể cá, tôi vẫn tự nhủ rằng phải mạnh mẽ như chú cá kia. Mình cũng là một song ngư, hơn nữa còn là người, chả lẽ lại kém chú cá vàng bé nhỏ kia. Nhưng chắc cái bể của người to hơn bể cá đó!

 

Duy Tùng

Một lần làm lãnh đạo

Featured Image: SID-Washington

 

Nhân tiện đọc qua cuốn sách bàn về phương cách làm việc nhóm của tác giả John C. Maxwell, trong chương về nguyên tắc “quả táo hỏng”, tôi chợt nhớ về kinh nghiệm mình có khi bất đắc dĩ phải nắm vai trò trưởng nhóm làm luận văn tốt nghiệp khóa Event Manager cách đây mấy năm.

Thực tế thì kết quả của nhóm không lấy gì làm tự hào cho lắm khi chúng tôi chỉ vừa đủ điểm đậu và ngay trong buổi thuyết trình đã nhận không ít gạch đá từ ban giám khảo. Kết quả đó càng bị hạ thấp thảm hại khi so sánh với nhóm thuyết trình cùng khóa với chúng tôi, họ được gọi là “nhóm thuyết trình xuất sắc nhất trong tất cả các khóa từ trước tới nay”. Đơn giản mà nói thì họ nhận bao nhiêu vinh quang thì chúng tôi có bấy nhiêu tủi nhục.

Nhưng khoan hãy nói về những cảm giác của chúng tôi lúc đó, hãy để tôi kể cho bạn câu chuyện về con đường mà nhóm tôi đã trải qua.

Lớp event chúng tôi được chia làm 2 nhóm, thứ nhất, để tập cách làm việc chung với nhau, thứ hai, để chuẩn bị cho bài luận văn tốt nghiệp vào cuối khóa. Mỗi nhóm khoảng 12 thành viên, với nhiều cấp độ: sinh viên muốn học hỏi thêm, người đi làm cần một bằng cấp chuyên môn hoặc một người trong ngành đầy kinh nghiệm muốn tích lũy thêm kiến thức và kết nối với những người cùng lĩnh vực. Tôi thì đơn giản chỉ đi học vì thấy thích chứ vẫn chưa biết mình sẽ làm gì cụ thể với nó. Tôi cũng chả có mấy hiểu biết về lĩnh vực này ngoài một ít kinh nghiệm tổ chức vài chương trình nho nhỏ ở cấp độ sinh viên với khoảng trên dưới 50 người.

Cá nhân tôi không mặn mà lắm với mấy chuyện làm trưởng, phó này nọ bởi vì tôi ít nói và cũng ít quan tâm tới với việc “lĩnh xướng” cho bất cứ chuyện gì. Việc tôi tôi làm, việc người khác, người khác làm. Nhưng, có một điều tôi quan tâm, đó là làm gì thì làm, hiệu quả cuối cùng là quan trọng nhất. Ai làm gì thì làm, miễn rằng, kết quả chung của cả nhóm đạt được, có thể gọi đó là thành công.

Chính vì suy nghĩ đó, tôi đã buộc phải đảm đương cái vai trò “đầu tàu” không ai muốn lúc đó. Có thể bạn hơi lạ, nhưng để tôi giải thích. Khi nhóm hình thành, đã bầu ra một trưởng nhóm, bạn đó cũng khá tích cực và chăm chỉ trong việc điều hành nhóm. Ở giai đoạn đầu, khi chưa bắt tay vào việc làm luận văn, bạn khá chăm chỉ đảm đương các công việc chung của cả nhóm. Chuyện bình thường, khi có ai đó làm thay, tội gì mà mình phải mó tay vào, rất nhiều thành viên trong nhóm đều bàng quan như vậy. Đó là nguyên nhân chủ yếu của việc trưởng nhóm đầu tiên này từ chức và bảo lưu lại khóa học, có lẽ để tìm được một nhóm tốt hơn vào khóa sau.

Trưởng nhóm thứ hai lên thay, cũng là một bạn nữ, nhận thấy được vấn đề thờ ơ của hầu hết thành viên nên yêu cầu cả nhóm phải làm việc chung. Mọi việc diễn ra cũng tương đối suôn sẻ cho đến khi cả nhóm thực sự bắt tay vào luận văn. Chúng tôi nhận ra rằng, so với nhóm bên kia, nhóm tôi hầu hết đều biết rất ít về lĩnh vực “tổ chức sự kiện” này. Toàn là dân amateur, hoặc là học cho biết, hoặc là học để lấy bằng. Chúng tôi thắc mắc là nhà trường có cố ý chia như vậy hay là do duyên số nào mà chúng tôi lại nằm chung một “rọ” thế này.

Trong khi nhóm bên kia tổ chức các buổi họp rất chuyên nghiệp, lên những ý tưởng rất độc đáo và có một dàn chuyên gia “đầy kinh nghiệm” (hầu hết đều có vai trò quan trọng trong các công ty event) thì chúng tôi vẫn loay hoay trong mấy tuần lễ liền mà chưa biết cần phải làm gì. Nhận thấy thực trạng đó, trưởng nhóm của chúng tôi đưa ra một quyết định “sáng suốt” là xin được “đổi nhóm”. Và dù nhà trường không đồng ý, bạn đó vẫn dành thời gian tham dự tất cả các buổi họp của nhóm kia để “học hỏi kinh nghiệm”.

Tôi tạm chấp nhận việc đứng vào vai trò làm lãnh đạo của nhóm chỉ với suy nghĩ đơn giản rằng “làm sao cho nhóm lấy được bằng tốt nghiệp”. Nhưng coi vậy mà không dễ dàng chút nào vì tinh thần của nhóm lúc đó đã sa sút trầm trọng, thậm chí có một số buổi họp, chúng tôi đã đưa ra vấn đề bảo lưu khóa học để hoàn thành luận văn vào khóa sau. Hầu hết trong chúng tôi đều nghĩ rằng, nhóm mình sẽ khó mà hoàn thành được một luận văn xuất sắc như là nhóm bên kia.

Thực sự lúc đó, tôi cũng không mấy lạc quan hơn những người bạn của mình. Tôi có rất ít kinh nghiệm chuyên môn thật sự mà cũng không phải là người “siêng năng” gì để có thể “bao tiêu” cả nhóm. Tôi chỉ có một suy nghĩ, làm thế nào để nhóm có thể tốt nghiệp được, vậy là đủ. Không thể đòi hỏi hơn khi mà nhóm còn đang có nguy cơ “rã đám” ngay lập tức.

Sau khi cố gắng tiếp tục các buổi họp tìm ý tưởng, dù cũng chưa đâu vào đâu, tôi nhận thấy trong nhóm tồn tại một số “quả táo hỏng”, hoặc phải loại bỏ, hoặc phải chỉnh đốn ngay lập tức, nếu không, cả rổ táo sẽ bị thối rữa theo.

Thành viên thứ nhất, một bạn nam mà tôi chả thấy mặt bao giờ kể từ buổi khai giảng lớp học. Những buổi họp nhóm lại càng không thấy bóng, lý do là bạn đang đi công tác ở tận đâu đó. Tôi quyết định làm căng, email rằng nếu bạn không tham dự buổi họp, tôi sẽ cắt bạn khỏi danh sách nhóm. Tôi cũng đề xuất thẳng việc này với nhà trường. Cuối cùng thì bạn đó cũng không đến họp, và dù cả bạn có năn nỉ và nhà trường có nói đỡ cho, tôi cũng quyết định bạn sẽ phải làm luận văn với một nhóm khác.

Thành viên thứ hai, đúng ra là 2 thành viên, cũng thường xuyên vắng họp và hầu như không tham gia đóng góp gì vào công việc chung. Cả hai bạn đều là diễn viên múa, thường xuyên đi tập hoặc đi diễn show nên lúc nào cũng cáo bận. Sau nhiều lần yêu cầu mà không được, tôi quyết định ra tối hậu thư với nội dung: nếu trong buổi họp ngày …, bạn nào vắng mặt coi như tự ý bỏ nhóm và sẽ bị cắt danh sách. Cuối cùng, buổi họp hôm đó, cả hai đều có mặt và trái với suy nghĩ của tôi, hai bạn có lời xin lỗi nhóm và hứa từ nay sẽ đi họp đều đặn. Và tôi tự nhủ là mình may mắn để không chuốc thêm “thù oán” với ai nữa.

Thành viên thứ ba, hơi khó nhằn vì đó lại chính là trưởng nhóm vừa từ chức xong. Vấn đề là bạn đó dường như không coi trọng nhóm của mình khi luôn tham dự đầy đủ các buổi họp với nhóm kia mà lại thờ ơ với các buổi họp của nhóm mình. Sau khi đã thống nhất quan điểm với các thành viên khác, tôi buộc bạn phải “rõ ràng” trong hành động của mình. Hoặc là tham gia nhóm tới cùng (dù lúc đó chúng tôi chưa biết mình có tốt nghiệp được hay không) hoặc là bạn có thể bảo lưu lại và chờ đến khóa sau. Dù có vẻ khá miễn cưỡng, nhưng cuối cùng bạn đó cũng chấp nhận yêu cầu chung của cả nhóm. Tôi tạm giải quyết thêm một mối lo có thể gây ảnh hưởng đến tinh thần làm việc của cả nhóm.

Thành viên cuối cùng, mà thực ra là rất nhiều thành viên, trải qua rất nhiều khó khăn lớn như vậy, tinh thần bắt đầu dao động. Họ e ngại nhóm sẽ không thể nào hoàn thành được luận văn và phung phí 6 tháng chuẩn bị mà không được gì. Đây chính là nhóm chủ trương việc bảo lưu khóa học và chờ cùng làm luận văn với khóa sau. Cũng chính vì lối suy nghĩ “sợ khó, sợ thất bại” này mà nhóm chúng tôi đối diện với một nan đề khác mà tôi sẽ trình bày sau. Vấn đề bây giờ là làm sao thuyết phục họ tiếp tục.

Nắm được nhu cầu của họ (chỉ cần lấy bằng), tôi chia sẻ với cả nhóm rằng chúng ta không cần một kết quả xuất sắc hay những ý tưởng đột phá, chúng ta chỉ cần đơn giản là hoàn thành cái luận văn “chết tiệt” này, vừa đủ để đậu, và lấy bằng. Chỉ vậy thôi, đừng quan tâm đến việc làm sao cho nó thật hay, thật độc đáo hay thật sáng tạo. Chỉ cần “ráng” mà hoàn thành nó cho xong là được. Và thật may là ý tưởng này đã hữu dụng, không một thành viên nào bỏ nhóm hay bảo lưu kết quả. Chúng tôi quyết định sẽ “lết” đến buổi thuyết trình cùng nhau và chỉ mong một kết quả đậu.

Theo như những kịch bản phim ảnh, có lẽ các bạn sẽ mong chờ một kết quả mỹ mãn khi tất cả các thành viên, sau một thời gian xung đột và xáo trộn, đã đặt tay lên nhau và hô vang “yeah, yeah”. Thực tế thì không phải như vậy, nhóm chúng tôi vẫn tiếp tục khủng hoảng và bế tắc trong việc tìm ý tưởng. Thực ra thì ý tưởng không phải là không có nhưng chúng tôi lại không biết phải tổ chức nó ra như thế nào vì ai cũng thiếu kinh nghiệm.

Và đây là thời điểm để nan đề tiếp theo của nhóm xuất hiện như tôi đã đề cập ở trên. Một số bạn đề xuất một lối thoát “dễ thở” cho cả nhóm bằng việc sử dụng một event đã được lên kế hoạch sẵn của công ty một bạn trong nhóm. Nhóm sẽ sử dụng bản kế hoạch đó và xào nấu lại một ít, tất nhiên làm sao để nhà trường không biết, vậy là đảm bảo tiết kiệm rất nhiều thời gian và công sức của mọi người mà lại “an toàn”.

Thực sự thì ban đầu tôi đã không tán thành với đề xuất này vì đó rõ ràng là một hành động gian lận nhưng tình thế của nhóm lúc đó khá căng thẳng nên tôi không dễ gì thuyết phục mọi người giữ sự trung thực như mình. Vì vậy, tôi đề nghị bạn đó gởi bản kế hoạch cho mọi người xem xét trước khi quyết định.

Buổi họp kế tiếp đó, sau khi mọi người đã xem qua bảng kế hoạch, hầu hết đều có cảm nhận là không thấy ấn tượng gì. Tôi tiếp tục bồi thêm là bản kế hoạch này quá nhàm chán, chúng ta sẽ không biết phải thuyết trình cái gì và thuyết trình ra sao khi chả hiểu gì về nó, bên cạnh đó, tôi xác định thêm quan điểm cá nhân của mình rằng “điều này là không đúng” và “các bạn đều biết điều đó phải không?”

Nhưng tất nhiên như vậy là chưa đủ, vấn đề của nhóm vẫn chưa được giải quyết, và chừng nào mà nó còn tồn tại, đại đa số vẫn muốn “đi tắt”. Có lẽ, đó là lúc tôi phải động não hết cỡ để tìm ra một phương án thay thế. Tôi chợt nhớ hồi làm ở công ty cũ, một resort ở Mũi Né, sếp tôi từng chia sẻ là muốn tổ chức một sự kiện hoành tráng để quảng bá cho công ty. Nếu lên ý tưởng về sự kiện này, chắc chắn là nhóm tôi sẽ được rất nhiều sự hỗ trợ. Đó chính là lý do chính mà sau rất nhiều tranh cãi, cuối cùng, ý tưởng sự kiện này đã được cả nhóm thông qua và quyết định thực hiện.

Tuy nhiên, đó chưa phải là xong, vì sau đó chúng tôi còn phải nhờ cậy rất nhiều nguồn trợ giúp, từ thầy cô trên trường đến các nhân sự ở công ty cũ của tôi, rồi bỏ tiền thuê người thiết đồ họa (trong khi nhóm kia chỉ cần “nhờ” người trong công ty họ làm dùm) … và hàng tá thứ linh tinh khác.

Đến sát ngày thuyết trình mà nhóm tôi vẫn chưa xong, thế là lại phải lên trường năn nỉ xin thêm thời hạn và cũng nhờ sự tích cực của một số thành viên trong nhóm, xin nghỉ làm ở công ty 1 ngày để ngồi lại với nhau hoàn thành những công đoạn cuối, chúng tôi mới có một tập tài liệu gần hai trăm trang và file power point hoàn chỉnh để thuyết trình.

Ngày thuyết trình, được một thành viên trong nhóm tài trợ, chúng tôi có được một bộ đồng phục màu da cam rực rỡ nhưng phần thuyết trình thì ngược lại, “xám ngắt” một màu. Ngoài ra, cũng phải kể đến phần đứng lỳ “chịu trận” của chúng tôi khi ban giam khảo ở dưới liên tiếp đưa ra những bình luận “chê thậm tệ”. Không biết nói gì thêm, tôi chỉ vắn tắt thêm vài điều về nhóm và mục tiêu mà chúng tôi đề ra. Xong xuôi, chúng tôi ngồi xuống và bấm bụng nghe nhóm kia được ban giám khảo ca tụng đến tận mây xanh.

Phần kết quả sau cùng thì tôi đã nói từ đầu, nhóm tôi vừa đủ điểm đậu, và ngày tốt nghiệp, nhóm tôi cũng được mặc lễ phục đầy đủ, cũng lên nhận bằng như ai và nghe vài lời chúc mừng này nọ. Có lẽ, tôi và cả nhóm không mong chờ gì hơn, như vậy là quá đủ. Chúng tôi đã hoàn thành được mục tiêu của mình và so với nhóm còn lại, chắc chắn là chúng tôi còn học thêm được rất nhiều điều khác mà khóa học không dạy.

Điều cuối cùng tôi muốn chia sẻ với các bạn qua kinh nghiệm cá nhân của mình là 3 bài học mà tôi học được, nếu bạn là trưởng nhóm và đang gặp nan đề với nhóm, bạn có thể thử áp dụng những nguyên tắc này (kèm theo sự linh động cần thiết): Thứ nhất, hãy loại bỏ những “quả táo hỏng” (trước khi nó làm hỏng cả giỏ táo ngon), thứ hai, hãy đơn giản hóa mục tiêu chung (dễ hiểu và khả thi), thứ ba, hãy giữ sự “chính trực” (đừng vì sợ thất bại mà chọn con “đường tắt”). Và tất nhiên, tôi sẽ chẳng làm được gì nếu không có những thành viên khác đồng hành cùng mình.

 

AVKH