Trang chủ Blog Trang 214

Đam mê, ước mơ và hip hop

 

[youtube=://www.youtube.com/watch?v=blUd80ZuLCU&w=640&h=360]
 

 

Lãnh đạo Ngân Hàng Trung Ương Ireland không đùa với Bitcoin

1
Featured image: George Frey

 

Trong 2 năm vừa qua, các bankers trung niên và các nhà phê bình đã liên tục ném phi tiêu vào bitcoin. Tiền ảo, chúng ta thường được cảnh báo, đã “chết” và “bất khả thi”. Nó chỉ hơn “cái trào lưu được sinh ra từ bọn geeks đang nghịch nước trong chuyện mua bán drug” một chút.

Rõ ràng là không phải vậy. Vào tuần trước, một nhân vật có thẩm quyền không thấp hơn vị trí director of markets (tạm dịch: Bộ trưởng bộ kinh tế) tại Ngân Hàng Trung Ương Ireland đã đưa ra một bài phát biểu về tiền ảo. Gareth Murphy nói rằng các giới chức thẩm quyền tài chính và kiểm định đang bắt đầu chú ý đến các loại “tiền mã” (crypto-currencies) như bitcoin một cách nghiêm túc.

“Các ngân hàng trung ương, các nhà kiểm chế tài chính, các ban ngành tài chính, các giới chức thẩm quyền và thống kê nên chú ý đến các loại tiền ảo.” Ông nói.

Nó đang dần trở nên một thực tế bởi vì “sự dễ dàng trong các giao dịch có thể xảy ra giữa đôi bên tại hai địa điểm bất kì nào trên thế giới, cùng với chi phí thanh toán thấp và sự kiện là đã có nhiều công ty công nghệ lớn tên tuổi đã chấp nhận cho phép mua hàng bằng bitcoin.”

Nói cách khác, bitcoin không phải là một trào lưu. Nó, hay các loại tiền ảo giống nó, có lẽ đã trở thành một phần của nền kinh tế luôn tiến hóa và cơ cấu hạ tầng thanh toán của nó.

“Khi tiền ảo bắt đầu xuyên thấu qua các hoạt động kinh tế, các nhà cung cấp dịch vụ tài chính được kiểm định chẳng hạn như ngân hàng, các công ty bảo hiểm và các nhà quản lý tài sản có lẽ phải làm cho mình thích nghi với môi trường mới này để giữ được thị phần của mình.” Murphy nói.

Quả nhiên đây là một nhận định táo bạo từ một nhân vật cấp cao của ngân hàng trung ương. Đồng thời nó cũng biến các tiên đoán hàng tuần đầy tiêu cực của các nhà bình luận về tương lai của bitcoin thành một góc nhìn sáng sủa hơn.

Đơn giản mà nói, tiền ảo đang tăng trưởng, chứ không phải đang lụi tàn. Hiện tại có khoảng từ một đến ba triệu ví bitcoin trên thế giới. Nhưng con số đó có thể gia tăng đột biến trong năm tới. Tiền đầu tư cũng đang được đổ vào.

Tuần trước, một công ty bitcoin start-up, Xapo, đã gây được 20 triệu đô la tài trợ từ các công ty đầu tư vốn mạo hiểm blue-chip*, bao gồm Greylock Partners và Index Ventures. Một công ty bitcoin khác, Circle Internet Financial, đã gây được 17 triệu đô la hồi tháng 3 và đang sử sụng số tiền đó để thành lập doanh trại tại Ireland. Công ty này còn đã thuê luôn một giám đốc điều hành, Garrett Cassidy. Anh có nhiệm vụ biến công ty trở thành một điểm đến của những ngân hàng nào muốn khám phá các khả năng liên quan đến việc chấp nhận tiền ảo.

*blue-chip: các công ty cổ phần danh tiếng và uy tín

Một số công ty bán lẻ đã đi trước đối thủ của họ khi chấp nhận thanh toán với bitcoin, không cần biết là ngân hàng có chấp nhận hay không. Tại Mỹ, những công ty online lớn như Expedia, Overstock.com và TigerDirect đã nhận bitcoin. Rapper 50 Cent gần đây cũng bắt đầu nhận tiền ảo cho những album mới của anh.

Ảnh minh họa chỉ mang tính hài hước
Ảnh minh họa chỉ mang tính hài hước

Bản thân tôi không có bitcoins, vì tôi vẫn còn thấy nó hơi lạ lẫm so với mình. Và tôi rõ ràng là cũng không có hứng thú “đào” bitcoin. Một quá trình cần đầu tư vào các thiết bị công nghệ và tiền điện để đổi lấy một mức lợi nhuận rất không chắc chắn. Nhưng không có nghĩa là tôi không thể thấy được một xu hướng đang hình thành.

Bất chấp những vụ hacking diện rộng nhắm vào bitcoin, những trộm bitcoin, và những rào cản pháp lý, giá của bitcoin vẫn giữ mức ổn định trong hơn 6 tháng vừa qua. Nó có lẽ là một bước đi thông minh cho các ngân hàng tại thời điểm này nếu họ bắt đầu tìm hiểu bitcoin một cách nghiêm túc.

 

Tác giả: Adrian Weckler
Dịch: Nguyễn Hoàng Huy

Càng sống lâu trong xã hội chủ nghĩa, con người càng thiếu đạo đức

Featured Image: Pavel Horák

 

Người Việt Nam sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ngày nay đạo đức ngày càng suy đồi, từ chuyện lừa đảo, đến chuyện ăn cắp ở khắp mọi nơi. Nguyên nhân chính là bản chất Xã Hội Chủ Nghĩa không coi trọng tinh thần đạo đức, thái độ cư xử gian trá. Con người XHCN sẵn sàng làm bất cứ điều gì để đem lại một chút lợi nhỏ cho bản thân.

Tuần báo The Economist vừa đăng một bài nghiên cứu về người Đức sống trong vùng Đông Đức trước đây, theo Xã Hội Chủ Nghĩa có thái độ chua cay, gian trá hơn người Đức sống bên Tây Đức theo Chủ Nghĩa Tư Bản.

Thời chủ nghĩa Xô Viết ở Nga, người ta có một câu nói mai mỉa: “Dưới chế độ Tư Bản Chủ Nghĩa, người bóc lột người. Dưới chế độ cộng sản thì ngược lại.” Tức là cũng bóc lột vậy thôi, chẳng khác gì, có khi còn tệ hơn. Thực tế cho thấy hệ thống xã hội chủ nghĩa theo kiểu Xô Viết xúi giục con người không những có tâm địa xấu mà còn ưa làm chuyện gian trá nữa. Cụ thể nhất là trường hợp người dân sống ở Đông Đức, chế độ cộng sản để lại dấu ấn sâu đậm trong cách xử thế của con người: Coi nhẹ vấn đề đạo đức, sự lương thiện.

Hồi năm ngoái, ông Lars Hornuf ở trường đại học University of Munich cùng với ba chuyên viên trường Duke University: Dan Ariely, Ximena Garcia-Rada và Heather Mann thực hiện một cuộc nghiên cứu xem coi người Đức sẵn sàng nói láo đến mức nào để thủ lợi cho cá nhân. Có khoảng 250 người dân Bá Linh được chọn một cách hú hoạ, để tham dự trò chơi, ai thắng được thưởng 6 đồng Euro, tức khoảng 8 đô la Mỹ.

Trò chơi rất đơn giản, mỗi người chơi được cầm con súc xắc thẩy lên 40 lần, và ghi xuống mảnh giấy mỗi lần ra con số nào thì ghi xuống. Ai có tổng số nút cao sẽ được giải nhiều. Trước mỗi lần thẩy con súc xắc lên, người chơi phải hứa tự mình ghi trung thực con số mình thảy ra: Số lớn nhất và số nhỏ nhất.

Tuy nhiên, người chơi không bắt buộc phải tiết lộ cho người khác biết họ đã ghi số nào, có thật hay không. Do đó, người chơi rất dễ ăn gian, muốn ghi số lớn cũng chẳng ai biết. Ví dụ nếu họ chọn số xấp, và trúng số hai. Nhưng nếu họ ăn gian chọn số ngửa là số năm cũng không ai biết. Người chơi thật thà, sẽ ghi đúng số mình thẩy ra. Có những người đưa ra kết quả toàn là số lớn, tức là người đó ăn gian.

Sau khi trò chơi kết thúc. Người tham dự được yêu cầu kê khai số tuổi của mình, và nơi họ cư ngụ trong những khoảng thời gian khác nhau. Nhà nghiên cứu tìm thấy kết quả là những người sống ở khu Đông Đức có máu ăn gian gấp đôi người sống ở Tây Đức sống dưới chế độ tư bản chủ nghĩa.

Nhà nghiên cứu cũng để ý đến số năm sống ở Đông Đức của người tham dự trò chơi trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ. Người nào sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa lâu hơn có xu hướng ăn gian nhiều hơn. Bởi vì đa số họ đưa ra kết quả có những con số lớn đáng nghi ngờ.

Kết quả nghiên cứu không tiết lộ điều gì về bản chất của mối liên hệ giữa xã hội chủ nghĩa với sự bất lương. Có lẽ nó chỉ cho người ta thấy cuộc sống bên Đông Đức tương đối nghèo khổ hơn ở bên Tây Đức. Cùng lúc đó, khi nói về tinh thần đạo đức, luân lý, rõ ràng là những người được nuôi dậy, trưởng thành trong xã hội tư bản hơn hẳn những người sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa.

Người Đức với nên tảng văn hoá khá vững vàng, thế mà xã hội chủ nghĩa đã làm suy đồi đạo đức con người như vậy, hỏi sao đối với người Việt, chủ nghĩa xã hội làm băng hoại xã hội Việt Nam đến mức nào.

 

Via Nhật Báo Calitoday
Bài tường thuật trên Business Insider ngày 18/7/2014
Nguyễn Minh Tâm dịch

Trong những giấc mơ

Featured Image: Matej Peljhan

 
Giấc mơ là nơi mà đại đa số đều là những nhân vật có thật trong cuộc sống quanh ta, họ có thể là người thân, người yêu mới, người yêu cũ, người ta thầm yêu, người đã mất đi hay vẫn còn đó, những người bạn, những người ta gần như quên mất. Tất cả họ được mang vào sống trong một thế giới khác, tựa như một quyển tiểu thuyết, nói lên những điều chẳng bao giờ xảy ra trong đời thường vậy.

Tất nhiên ngoài một số giấc mơ xuất hiện bởi ta quá mệt mỏi, stress mà lâm vào giấc ngủ sâu, hoặc là ta sẽ chẳng mơ được cái gì, hoặc là những giấc mơ này thường rất “kinh dị”, và kết thúc bằng cách giật mình tỉnh dậy vì bị đâm, một người rất thân chết hay bị hụt chân rơi xuống hố! Còn lại những giấc mơ thường là cuộc sống đời thường, lâu lâu pha vào chút xíu yếu tố siêu năng lực như rượt đuổi nhau chạy, đánh nhau như film chưởng hay biết bay hoặc tiên đoán trước tương lai.

Mỗi giấc mơ là một trải nghiệm

Mỗi giấc mơ đều là một trải nghiệm thật nhưng lại chẳng bao giờ có thật với những con người thật, suy nghĩ thật, hành động và cảm xúc thật sự. Tiếc là với độ lười của não khi vừa thức tỉnh, thường ta lại không cố nhớ lại giấc mơ của mình, sau đó ghi lại thật nhanh vào một tờ giấy, nếu không chắc chắn ta sẽ quên sạch!

Một số giấc mơ như cuộn băng được tua lại, ta tiếp tục sánh vai cùng những đồng đội cũ, bạn học cũ làm những trò khùng điên mà ở trong cuộc sống thực tại chẳng bao giờ ta có thể quay lại. Ta lại tiếp tục sinh ra lắm chuyện dây mơ rễ má với người yêu cũ, “cô gái năm ấy chúng ta cùng yêu” hay nhìn thấy “người yêu cũ có người yêu mới” mà đau lòng khôn nguôi.

Một số giấc mơ là những câu chuyện chưa bao giờ được diễn ra với chính những diễn viên đó. Nơi mà có thể người yêu cũ, người yêu mới, bạn gái ta từng thầm mến, bạn trai từng đứng nhìn từ xa xa, tất cả quyện vào trong một câu chuyện! Những trải nghiệm này đắt lắm nhé! Vì não bộ của ta siêu phàm lắm, tất cả những diễn biến trong câu chuyện đều diễn ra một cách hợp lý, những con người ở bên trong cũng có những hành động, cách nói chuyện, cách suy nghĩ y chang họ ngoài đời, nhờ vậy ta có được những trải nghiệm cực kỳ thực tế dù nó không xảy ra trong thực tế vì tuổi tác, khoảng cách địa lý hay đã nghỉ chơi từ lâu.

“Người lớn là một người từng trải, không phải là một người nhiều tuổi.” – Khuyết danh

Mỗi giấc mơ là một sự sáng tạo kỳ diệu

Có thể nói nếu bạn thực dậy, ghi lại những gì diễn ra trong giấc mơ và đổi tên tất cả nhân vật ở bên trong, bạn sẽ có được một câu chuyện kể thú vị, cực kỳ hợp lý và giống như nó thực sự tồn tại trong cuộc sống vậy.

Tôi từng kể một vài giấc mơ của mình cho những người bạn, giống hệt phim kiếm hiệp và tôi là nhân vật chính vậy, bọn nó vẫn ngỡ như tôi đang kể về một quyển tiểu thuyết nào vừa đọc được mới khổ.

Trong những giấc mơ, không chỉ ta bỗng dưng rượt đuổi hàng tiếng đồng hồ mà vẫn chưa ngừng nghỉ, ta còn được kề vai sát cánh cùng những người bạn, người thầy của mình, và chưa bao giờ ta nhìn thấy sự quả quyết, tài hoa hay khả năng đánh nhau của họ ghê gớm đến vậy, đúng là sáng tạo mà!

Mỗi giấc mơ là một trải nghiệm… vô giá!

Mỗi một giấc mơ về chết chóc, khi tôi là người bị hụt chân xuống hố sâu hay bị giết chết, tôi vẫn tưởng rằng mọi thứ kết thúc. Đây là lúc bỗng dưng tôi quyến luyến cuộc sống vô cùng, tôi còn nhiều thứ chưa làm, còn chưa tròn vai với nhiều người, còn chưa trải nghiệm đủ, còn trẻ… Giấc mơ dạy cho tôi quý trọng hơn mạng sống, quý trọng cái hiện tại hơn rất nhiều.

Và… có những giấc mơ thực sự vô giá

Chỉ khi bạn “tận mắt” nhìn thấy người thân của mình mất đi, như cách tôi suy sụp khi nghe tin mẹ mình mất trong giấc mơ của mình, cảm giác đau đến xé lòng đó vẫn còn vẹn nguyên khi tôi thức dậy, đó là lần đầu tiên tôi đỏ mắt vì một giấc mơ, và tôi hiểu được cái cảm giác mất đi một người thân nó đớn đau biết nhường nào. Bỗng chốc tôi cười bản thân mình, so với việc này, việc chia tay của tình yêu tuổi học trò có đáng là bao, mà sao lắm kẻ đã quằn quại, đã tuyệt vọng, thậm chí còn muốn chấm dứt cả mạng sống của mình?

Ôi những giấc mơ… có thật…

 

– Ưng Đen –

Nụ hôn, lời cầu nguyện: Những giờ phút cuối cùng của các nạn nhân MH17

Featured Image: Wikipedia

 

Trong một căn phòng ngủ tại một căn hộ gần Amsterdam, cậu bé Miguel Panduwinata tiến lại gần mẹ của mình và thì thầm: “Con ôm mẹ nhé?”

Samira Calehr ôm vào lòng đứa con trai 11 tuổi của mình, vốn đã nghịch ngợm cả ngày với những hành động kỳ quặc, làm cô khó xử với những thắc mắc của cậu bé về cái chết, về linh hồn của cậu, và cả về Chúa nữa. Buổi sáng sau đó, cô sẽ đưa Miguel và anh trai cậu bé là Shaka đến sân bay. Từ đây hai anh em sẽ đón chuyến bay mang số hiệu MH17 của Malaysia Airlines, vốn là chặng đầu tiên trên hành trình của chúng đến Bali để thăm bà ngoại của mình.

Cô như thường lệ luôn sẵn lòng vì lũ trẻ, chúng tỏ ra vô cùng phấn khích trước chuyến đi. Chiếc vali màu bạc của cậu bé đã được để sẵn ở phòng khách, mọi thứ đã sẵn sàng. Những chiếc canô tốc độ cao và những màn lướt sóng đang chờ đợi cậu bé ở thiên đường Bali. Nhưng có một điều gì đó làm cô cảm thấy bất an. Một ngày trước đó, trong lúc chơi đá bóng, cậu bé buột miệng hỏi cô: “Nếu là mẹ thì mẹ sẽ lựa chọn chết như thế nào? Điều gì sẽ xảy ra với cơ thể của con một khi con được chôn vùi dưới lòng đất? Con sẽ không cảm thấy đau đớn vì linh hồn của con đã trở về với Chúa chứ?”

Và bây giờ, vào cái đêm cuối cùng trước chuyến đi lớn của mình, cậu bé Miguel cứ khư khư ôm chặt lấy mẹ của mình.

“Chắc hẳn là nó sẽ nhớ mình lắm đây.” Calehr tự nhủ. Sau đó cô nằm xuống cạnh cậu bé và ôm cậu ngủ suốt đêm hôm đó.

Lúc đó là 11 giờ đêm, thứ Tư, ngày 16 tháng 7. Miguel, Shaka và 296 người khác trên chuyến bay MH17 chỉ còn lại khoảng 15 giờ để sống.

—-

Chiếc Boeing 777 chuyên chở những hành khách từ Amsterdam tới Kuala Lumpur, Malaysia mang theo những niềm háo hức về sự khởi đầu và kết thúc hành trình của rất nhiều hành khách trên chuyến bay này: Sự phấn khích về những thử thách mới lạ, đối với một số hành khách là kỳ nghỉ mà họ hằng mong ước, và đối với không ít những người khác là sự thoải mái khi được trở về nhà.

Tình yêu và một sự khởi đầu mới là lý do khiến cho Willem Grootscholten quyết định có mặt trên chuyến bay này. Người đàn ông lực lưỡng này đến từ Hà Lan, vốn là một cựu quân nhân và đã ly dị vợ, đã quyết định bán toàn bộ nhà cửa của mình ở Hà Lan và chuyển đến Bali để xây dựng một cuộc sống mới với người bạn đời mới của mình là Christine, vốn là chủ của một nhà nghỉ tại đây. Cặp đôi này đã gặp nhau và nảy sinh tình cảm khi Grootscholten có chuyến du lịch đến Indonesia vào năm ngoái.

Christine, giống như những người Indonesia khác, chỉ có một cái tên duy nhất. Qua một người bạn, cô được tin có một anh chàng nào đó đã bị rơi khỏi một mỏm đá và lưng của anh ấy bị đau. Cô đã nói bạn của mình đưa anh ta đến một cơ sở y tế truyền thống mà cô biết. Ngày hôm sau, Grootscholten đã gọi điện cho Christine để cảm ơn cô.

Họ kết nối thông qua những cuộc trò chuyện. Tuy nhiên Grootscholten phải trở về Hà Lan, nơi anh làm việc là một quầy bán cà phê và công việc của anh là một nhân viên bảo vệ. Nhưng cả hai vẫn thường xuyên giữ liên lạc, và cuối cùng thì mối quan hệ giữa họ cũng có những tiến triển mới. Vào dịp năm mới, Grootscholten làm cho cô bất ngờ bằng việc xuất hiện trước bậc thềm nhà của mình, anh ở lại 3 tuần sau đó.

Bố của hai người con của Christine, cậu bé 14 tuổi Dustin và cô bé 8 tuổi Stephanie, đã qua đời 6 năm trước đó. Lũ trẻ nhanh chóng có cảm tình và quen dần với Grootscholten, chúng gọi anh là “bố”. Bốn người bọn họ giữ liên lạc với nhau bằng cách trực tuyến. Hầu như ngày nào cũng vậy, họ cùng ăn với nhau qua Skype bằng việc đặt những chiếc Ipad trên bàn ăn của mình suốt bữa tối của gia đình Christine và trong lúc đó là bữa trưa của Grootscholten vì sự chênh lệch múi giờ.

Vào tháng Năm, Grootscholten trở lại Bali để chúc mừng sinh nhật Christine và nói với cô rằng anh muốn dành quãng đời còn lại của mình ở bên cạnh cô. Cô lái xe đưa anh đến sân bay vào ngày 03 tháng 6 và hôn anh thay cho lời tạm biệt.

Đó chắc hẳn là nụ hôn cuối cùng của họ.

Đối với anh chàng 29 tuổi người New Zealand Rob Ayley, MH17 không chỉ đánh dấu việc kết thúc hành trình dài một tháng rong ruổi ở Châu Âu mà còn là sự khởi đầu của một công việc mới.

Cuộc sống không phải lúc nào cũng trở nên dễ dàng đối với Ayley. Anh từng mắc phải hội chứng rối loạn tự kỷ lúc thiếu niên và gặp khó khăn trong việc nắm bắt cảm xúc của người khác. 16 tuổi, anh chàng bỏ học và làm hết công việc này đến công việc khác – từ bán thức ăn nhanh đến làm vườn, rồi cả làm phô mai nữa. Ayley luôn sống giữ những ám ảnh, từ xe hơi cho đến tiếng trống, và cuối cùng là Rottweilers (tên của một loại chó rất dữ), sau khi bố mẹ mua cho anh một chú cún.

Không lâu sau đó, anh gặp gỡ và yêu một cô gái tên Sharlene. Họ kết hôn và có với nhau hai con trai, tên là Seth và Taylor. Trở thành bố đã hoàn toàn thay đổi Ayley, anh làm mọi thứ có thể để gia đình có cuộc sống đầy đủ. Anh đăng ký học ngành kỹ sư hóa học tại một trường đại học và quyết định biến nỗi sợ Rottweiler thành động lực để anh mong ước trở thành một người gây giống chó và anh có thể kiếm được tiền từ công việc của mình.

Ước mơ đó đã dẫn đến việc Ayley quyết định đến Châu Âu cùng với người bạn của mình là Bill Patterson, chủ của một cửa hàng chuyên bán cũi dành cho chó. Mục tiêu của Ayley là nhìn tận mắt giống chó Rottweiler và hy vọng có thể đem được giống chó này về New Zealand.

Cả hai dành cả tháng lái xe đi khắp Châu Âu, tới thăm những cửa hàng bán cũi dành cho chó và trò chuyện với họ thông qua những lần cafe, uống bia và ăn cùng họ. Điều đáng nhớ nhất đối với họ là việc chạy quá tốc độ quy định trên một xa lộ ở Đức bằng một chiếc Peugeot nhỏ mà cả hai đã thuê trước đó.

Cuối cùng thì cũng đến lúc phải về nhà. Vào buổi tối thứ Tư, Ayley gửi một bức thư điện tử cho mẹ của mình:

“Đó là một cuộc hành trình dài, rất dài. Chúng con đã tìm được loại chó Rottweiler tốt nhất trên thế giới, chúng con đã có thông tin liên lạc của nhau và trở thành bạn tốt của nhau, và bây giờ con đã sẵn sàng để trở về nhà. Mong mọi thứ sẽ ổn, nếu không có gì thay đổi thì con sẽ gặp mẹ vào thứ Bảy. Yêu mẹ!”

Một tiếp viên hàng không tên Sanjid Singh cũng đang mong muốn được nhanh chóng trở về nhà. Ban đầu anh không được bố trí để phục vụ trên chuyến bay MH17, tuy nhiên anh muốn trở về Malaysia sớm hơn một ngày để thăm bố mẹ mình ở phía bắc bang Penang. Do đó anh đề nghị đổi lịch bay với một đồng nghiệp của mình.

Chỉ 5 tháng trước đó, một sự thay đổi lịch bay tương tự đã cứu một thành viên trong gia đình anh. Vợ của anh, cũng là một tiếp viên hàng không, đã đồng ý đổi ca trực của mình cho một đồng nghiệp khác muốn có mặt trên chuyến bay MH370 của Malaysia Airlines. Chiếc máy bay mất tích khi đang trên đường đến Bắc Kinh.

Sự thoát chết trong gang tấc khiến bố mẹ của Singh vô cùng lo lắng và buồn bã khi cả hai quyết định vẫn tiếp tục bay. Signh đã nói với bố mẹ của mình rằng: “Nếu số phận buộc con phải chết, con sẽ chết. Một ngày nào đó bố mẹ sẽ phải chấp nhận nó.”

Vào ngày thứ Tư, Singh gọi cho mẹ của mình và báo cho bà một tin tốt lành rằng anh sẽ có mặt trên chuyến bay MH17 và sẽ có mặt ở nhà vào thứ Sáu. Mẹ hãy bảo trọng, anh nói.

Sau khi gác máy, bà liền cầu nguyện cho con trai của mình, như bà vẫn luôn như vậy.

Đoàn tụ cũng chính là lý do Irene Gunawan đặt cho mình một chỗ trên chuyến bay MH17.

Cô đang mong chờ một cuộc đoàn tụ gia đình thường niên ở Philippines, một bữa tiệc sẽ được tổ chức tại một khu nghỉ dưỡng với những chiếc áo thun được thiết kế đặc biệt, bên cạnh đó không thể thiếu tiệc rượu, những màn ca hát và nhảy múa. Và người phụ nữ 53 tuổi tên Gunawan, như thường lệ, sẽ là ngôi sao của bữa tiệc.

Gunawan là niềm tự hào và là người mang lại niềm vui cho gia tộc của cô. Là người con thứ năm trong gia đình, cô gái bé nhỏ yêu âm nhạc luôn mong ước được khám phá thế giới rộng lớn xung quanh bên ngoài ngôi làng bé nhỏ của mình. Sau khi học hết trung học, cô chuyển đến Nhật Bản để thỏa đam mê ca hát của mình và trở thành tay trống trong một ban nhạc. Tại đây, cô gặp Budy, một thành viên khác của ban nhạc.

Họ cùng nhau du lịch Châu Âu, cùng nhau chơi nhạc và cuối cùng họ cảm thấy không thể tách rời nhau. Họ kết hôn và định cư ở Hà Lan, Gunawan sau đó hạ sinh hai đứa trẻ Daryll và Sheryll, bây giờ chúng đã lần lượt 19 và 14 tuổi. Gunawan làm công việc văn phòng và thường xuyên gửi tiền về cho gia đình ở Philippines. Budy làm việc với tư cách là một giám sát viên của Malaysia Airlines tại Amsterdam.

Gunawan thỉnh thoảng vẫn đáp chuyến bay về một nhà hàng xóm của gia đình cô gọi là “Thiên đường” ở thành phố Pagbilao ngoại ô Manila. Tại cuộc gặp mặt, cô luôn mở những bài hát của Norah Jones và Diana Ross. Khi nghe những bản nhạc đó, hàng xóm biết được rằng cô đã trở về.

Năm nay, cặp đôi và hai đứa trẻ đã quyết định bay đến Pagbilao, thậm chí Daryll còn mang theo dụng cụ chỉnh nhạc của mình. Họ đã dự định xuất phát sớm hơn, tuy nhiên một cơn bão đổ bộ vào Philippines đã khiến cho kế hoạch của họ bị hoãn cho đến khi cơn bão lắng xuống.

Đó chính là lý do khiến họ có mặt trên chuyến bay MH17.

Albert và Maree Rizk trước đó cũng không dự định có mặt trên chuyến bay MH17.

Năm nào cũng vậy, bộ đôi 50 tuổi này , từ Melbourne, Australia, lên đường cho kì nghỉ kéo dài hàng tháng trời cùng với những người bạn của mình. Họ di chuyển vòng quanh trái đất, từ Thái Lan cho đến đảo Fiji, rồi cả Châu Âu nữa.

Lần này, gia đình Rizk gần như quyết định không tham gia chuyến đi thông qua kết quả của một “hội nghị gia đình”. Sau đó thì gia đình đã cho phép Albert, một nhân viên kinh doanh bất động sản, tiếp đó là Maree, tham gia chuyến đi. Bố mẹ của cả hai là những nhân vật giữ những chức vụ được cộng đồng quý mến.

Sự thay đổi trên đã khiến họ có thể tham gia chuyến đi cùng với những người bạn của mình, Ross và Sue Campbell, nhưng cả hai không thể đặt được vé cho chuyến bay về cùng với nhà Campbell. Do đó họ đã quyết định đặt vé lượt về cùng chặng nhưng là cho một ngày sau đó: Chuyến bay mang số hiệu MH17.

Gia đình Rizk và gia đình Campbell trở nên thân thiết như gia đình kể từ khi Sue và Maree gặp nhau tại hội những bà mẹ có con là trẻ sơ sinh. Họ đã cùng nhau có chuyến đi vòng quanh Ý, Thụy Sỹ và Đức. Có cảm giác rằng họ có thể có quãng thời gian vui vẻ cùng nhau hàng tháng trời. Họ có chung một mục tiêu dài hạn là cùng nhau chinh phục đỉnh Klein Matterhorn ở Thụy Sỹ.

Vào tối thứ Ba, cả bốn người tụ họp tại một nhà hàng Ý cho bữa tối cuối cùng của chuyến đi. Họ cùng nhau hồi tưởng về chuyến đi gần nhất – một trong những chuyến đi đáng nhớ nhất của họ – và cùng nhau lên kế hoạch gặp mặt tại Australia. Theo kế hoạch, vào thứ Bảy, họ sẽ cùng nhau tụ họp để thưởng thức món phô mai Hà Lan ngon tuyệt mà họ đã mua trước đó, cùng uống rượu vang và cùng nhau xem lại tất cả những tấm hình mà họ đã chụp trong suốt cuộc hành trình.

Cả bốn người trở về khách sạn, trao cho nhau những cái ôm, sau đó họ trở về phòng để nghỉ ngơi. Một số người bạn tỏ ra vô cùng bất ngờ trước việc hai thành viên của gia đình Rizk sẵn lòng bay chuyến bay của Malaysia Airlines sau sự việc mất tích bí ẩn của chiếc máy bay mang số hiệu MH370. Mẹ kế của Maree, Kaylene Mann, đã mất đi em trai và em dâu của mình sau thảm họa nói trên.

Jack Medcraft, anh bạn 30 tuổi của Albert phàn nàn: “Tại sao lại là Malaysia Airlines?”

“Sét không bao giờ đánh trúng một người hai lần.” Albert trả lời.

Cả hai cùng phá lên cười. Câu trả lời không chủ ý của Albert còn có một ý nghĩa khác.

Căn nhà của Albert đã bị sét đánh sập vào năm ngoái.

Thứ Năm, ngày 17 tháng 7, bình minh ló dạng báo hiệu một ngày ấm áp và đầy nắng tại Amsterdam.

Trước khi rời khỏi nhà để đến sân bay Schiphol, Grootscholten gọi cho Christine và lũ trẻ qua Skype. Anh tỏ ra vô cùng hào hứng và bắt đầu nhảy múa.

“Bố đang chuẩn bị bay đến với các con đây.”Anh nói với lũ trẻ: “Chúng ta sẽ ở bên nhau mãi mãi!”

Cùng lúc đó, Ayley đang gặp một sự cố nho nhỏ. Bạn đồng hành của anh là Patterson đã bay về vào thứ Tư, do đó anh phải tự mình đi đến sân bay – và nó thật sự không ổn chút nào. “Lỡ mất chuyến xe buýt đến sân bay,” anh viết cho vợ mình trên Facebook. “Đang chờ chuyến tiếp theo.”

Tại Malaysia, bố mẹ của Singh hào hứng chờ đợi cậu con trai là tiếp viên hàng không của mình trở về nhà. Mẹ của anh đã chuẩn bị những món ăn mà anh yêu thích – tôm chua cay, cà ri cua xanh, thịt lợn nướng và rau trộn.

Irene Gunawan vô cùng háo hức trước việc sắp trở về nhà ở “thiên đường”, nơi cô có thể được gặp gỡ gia đình của mình. Cô đã nói với chị dâu làm món bánh trứng sirô mà cô yêu thích. Cô con gái của Gunawan cũng háo hức được đặt chân đến Jolibee, một hệ thống cửa hàng thức ăn nhanh chuyên về Hamburger phổ biến tại Philippines.

Samira Calehr và bạn của cô là Aan đưa hai cậu con trai của mình lên tàu để đến sân bay. Họ đã cùng nhau trò chuyện vui vẻ và lũ trẻ tỏ ra rất phấn khích trước việc có thể được gặp bà ngoại của mình ở Bali. Shaka, 19 tuổi, vừa mới hoàn thành năm thứ nhất đại học chuyên ngành kỹ sư dệt may. Shaka hứa với cô rằng sẽ chăm sóc cẩn thận và để mắt đến cậu em Miguel. Một người em trai khác của Shaka là Mika, 16 tuổi, không thể đặt được chỗ trên chuyến bay MH17 và sẽ đáp chuyến bay đến Bali một ngày sau đó.

Tại quầy làm thủ tục, Calehr cuống quýt mang hành lý của lũ trẻ. Trong lúc này, Shaka nhận ra mình đã để quên không mua vớ (tất) để mang theo. Calehr hứa sẽ mua cho cậu bé một ít và sẽ gửi nó cùng hành lý của Mika.

Cuối cùng, họ đến khu vực làm thủ tục hải quan. Lũ trẻ ôm tạm biệt Calehr và tiến thẳng đến khu vực kiểm tra hộ chiếu. Miguel bất chợt quay lại và chạy nhanh về phía Calehr, cậu bé vòng hai tay ôm chặt lấy mẹ mình.

“Con sẽ rất nhớ mẹ lắm đây,” cậu bé nói. “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như máy bay bị rơi ạ?”

Nếu chuyện đó xảy ra thì sẽ như thế nào nhỉ? Cô tự hỏi.

“Đừng nói như vậy,” cô nói và ôm chặt cậu bé. “Mọi chuyện sẽ ổn thôi.”

Shaka một lần nữa cam đoan với cả hai: “Con sẽ chăm sóc em,” cậu nói với mẹ. “Miguel là em của con mà.”

Cô dõi theo bước chân của hai đứa trẻ. Nhưng Miguel vẫn tiếp tục ngoái lại nhìn cô. Ánh mắt của cậu bé lộ chút thoáng buồn.

Và lũ trẻ đã biến mất khỏi tầm mắt của cô như thế.

Tất cả mọi người đều tập trung tại cổng ra máy bay G3.

Singh và tiếp viên hàng không đồng nghiệp của mình đã hoàn thành việc chuẩn bị. Thông báo vang lên, đã đến giờ lên máy bay.

Miguel và Shaka di chuyển đến chỗ ngồi của mình tại hàng đầu tiên của hạng phổ thông. Grootscholten ngồi ở cùng hàng nhưng cách hai ghế bên tay trái của hai đứa trẻ. Anh vừa mới thay đổi ảnh bìa Facebook của mình với tấm hình chụp Trạm kiểm soát không lưu sân bay Schiphol.

Một lúc sau đó, Ayley cũng đã đến kịp và tìm được chỗ ngồi của mình. Sau những khó khăn, cuối cùng anh cũng đã làm được. Anh gửi một tin nhắn cuối cùng cho bạn mình Patterson: “Ngày mới tốt lành, tớ đang chuẩn bị rời khỏi Amsterdam ngay bây giờ. Chuyến đi thật tuyệt vời, không thể chờ đợi để bay thêm phút giây nào nữa.”

Phía đầu của máy bay, Albert và Maree Rizk đã yên vị tại hàng ghế đầu tiên của hạng thương gia. Budy ngồi xuống ngay cạnh vị trí của Maree. Vợ anh là Irene và lũ trẻ ngồi phía sau anh một vài hàng ghế. Họ gần như là những người cuối cùng làm thủ tục lên máy bay.

Irene, vẫn còn lo lắng về việc gia đình cô phải đối mặt với cơn bão nhiệt đới, gửi tin nhắn cuối cùng cho chị dâu của mình: “ Yêu chị hehehe, em phải tắt điện thoại, đã đến giờ máy bay cất cánh… hãy bảo trọng, đừng để bị ngã từ trên cây.”

Cô đang trên đường đến “Thiên đường”.

MH17 cất cánh vào khoảng 12:15 trưa, chuyến bay dự kiến kéo dài 11 giờ 45 phút.

Nhưng nó chỉ kéo dài 2 giờ.

Những cơ thể bắt đầu trở nên ngã quỵ. Điện thoại bắt đầu rung lên. Mọi thứ trở nên hỗn loạn, những trái tim trở nên ngừng đập. Vòng xoáy của số phận đã tình cờ đưa đẩy những con người nói trên lên chuyến bay MH17 vào một ngày định mệnh.

Tại New Zealand, gia đình Ayley điên cuồng gửi tin nhắn cho anh với hy vọng nhận được email của anh về việc anh lỡ chuyến xe buýt dẫn đến việc anh bỏ lỡ chuyến bay.

“Chuyến bay của con đã bị rơi,” mẹ của anh, Wendie, nhắn tin cho anh. “Cho dù con đang ở đâu, cho dù sự cố mà con gặp phải có tệ đến như thế nào, gia đình sẽ rất biết ơn nếu như được tin là con đã bỏ lỡ chuyến bay đó… Gia đình yêu con rất nhiều và rất nhiều và mẹ chỉ muốn biết là Con yêu của mẹ vẫn còn sống.”

Tại Australia, hai thành viên gia đình Campbell vừa đến nơi khi họ được tin máy bay của Malaysia Airlines vừa bị bắn rơi tại Ukraine. Hoảng hốt tột độ, họ liền chạy ngay đến nhà của gia đình Rizk để trông chừng lũ trẻ. Và lần thứ hai trong 5 tháng, mẹ kế của Maree biết được rằng mình đã mất đi một người mà mình yêu quý vì tai nạn của Malaysia Airlines.

Tại Bali, Christine cầu nguyện: “Mong rằng anh sẽ ổn… ohhhhhhhhhh CHÚAAAAAAA ƠIIIII…HÃY LÀM ƠNNNNNN…Con cầu xin ngài hãy bảo vệ anh ấy…” Cô viết trên Facebook.

Và tại Amsterdam, Calehr vừa mới mua xong những đôi vớ cho Shaka xong và về đến nhà thì điện thoại của cô rung lên. Đó là Aan bạn của cô. “Cậu đang ở đâu?” anh hét lên. “Máy bay đã bị rơi.”

Cô ngất xỉu ngay khi vừa kịp về đến nhà.

Trong thoáng chốc, họ chợt nhận ra rằng, thế giới của những thứ mà họ từng biết bỗng dung biến mất chỉ sau một cú nháy mắt.

Tại Philippines, không khí trong gia đình Gunawan trở nên im lặng đến đáng sợ. Irene đã ra đi, cùng với đó sự đau buồn của những người thân và những người quý mến cô.

Bạn bè đến để thăm viếng và cầu nguyện cho cô. Irene cười hiền lành trong bức ảnh cũ trên bàn thờ được thắp nến. Chiếc máy thu hình và micro mà cô vừa mua lần trước nằm lặng yên tại một góc của căn phòng.

Bạn thân nhất của Irene, Zenaida Ecal, đã vô cùng giận dữ. Cô ấy sẽ muốn những kẻ đã cướp đi Irene bị trừng phạt như thế nào?

“Còn điều gì tệ hơn cái chết chứ?” cô tự thì thầm.

Tại Malaysia, thức ăn mà mẹ của Singh đã kì công chuẩn bị với tất cả sự yêu thương dành cho con trai của mình vẫn ở trong tủ lạnh. Bà không còn tâm trọng nào để nhìn đến chúng nữa rồi.

Bố mẹ của Singh vẫn không thể nào hiểu được tại sao cùng một việc đơn giản như đổi lịch bay lại mang đến kết quả tốt đẹp cho con dâu của họ mà lại không thể có một cái kết tương tự cho con trai của mình.

“Việc đổi lịch bay đã cứu con bé,” Jihar Singh nói. “Bây giờ thì con trai tôi lại cứu mạng sống của một người khác.”

Tại New Zealand, Wendie Ayley, vốn là một y tá tại một viện chăm sóc bệnh nhân đặc biệt, lại có một cách nhìn nhận sự việc khác. Bà hiểu rằng bất cứ ai rồi cũng sẽ phải ra đi, kể cả con trai của bà, người đã bỏ lỡ chuyến xe buýt nhưng đã không bỏ lỡ chuyến bay như điều mà bà mơ ước lúc này.

“Lúc ra đi nó đã ở 10.000m gần hơn với Chúa. Nó sẽ biết rằng nó đã chết và dang rộng đôi cánh của mình,” bà nói. “Tôi tin rằng đó sẽ là điều đầu tiên mà nó nghĩ đến. Nó thật tuyệt đúng không?”

Tại Hà Lan, Samira Calehr suy nghĩ rằng sẽ như thế nào nếu như hai đứa con trai vừa ra đi của cô biết được rằng thời gian tồn tại của chúng trên thế giới này là quá ngắn. Cô tưởng tượng đến viễn cảnh tương lai mà nó không bao giờ còn có cơ hội xảy ra: giấc mơ của Shaka trở thành kỹ sư dệt may, nó đã hoàn toàn biến mất. Giấc mơ của Miguel trở thành một tay đua F1 cũng đã hoàn toàn biến mất.

Làm sao lũ trẻ biết được sẽ có ngày này? Làm sao cô có thể biết được sẽ có ngày này cơ chứ?

“Đáng lẽ ra mình nên nghe lời nó,” cô thì thầm. “Đáng lẽ ra mình nên nghe lời nó.”

Bài viết được đóng góp bởi các phóng viên Associated Press: Nick Perry tại Wellington, New Zealand; Jim Gomez tại Pagbilao, Philippines; Firdia Lisnawati tại Bali, Indonesia; Mike Corder tại The Hague, Hà Lan và Eileen Ng tại Kuala Lumpur, Malaysia.

Mình quyết định dịch bài viết sau khi đọc bản gốc tiếng Anh. Mình xem qua thì thấy trên mạng có một vài bài dịch tuy nhiên chỉ dịch sơ lược một vài đoạn, không dẫn nguồn và người dịch biến nó thành bài viết của riêng mình. Mình dịch theo cảm xúc và sự hiểu biết của mình nên có thể không thể diễn đạt đúng và đầy đủ ý của các tác giả. Hy vọng việc mình làm mang lại được một ý nghĩa nào đó.

 

Dịch bởi: Snowball
Nguồn: A kiss, a prayer: The last hours of MH17’s victims

Bàn về chủ nghĩa cá nhân – Bài 1

Featured Image: Ilona

 

Xã hội chỉ là tập hợp của các nhân để cùng nhau hợp tác. Xã hội chỉ tồn tại trong những hành động của các cá nhân. Tìm xã hội bên ngoài hành động của các cá nhân là sai lầm.

Tất cả mọi hành động đều là do các cá nhân làm. Bao giờ cũng chỉ có cá nhân suy nghĩ. Xã hội chẳng nghĩ được gì xa hơn là ăn và uống. Tư duy bao giờ cũng là thành tựu của các cá nhân. Có hành động phối hợp nhưng không bao giờ có tư duy phối hợp.

Bao giờ tập thể cũng hành động thông qua trung gian của một hay nhiều người, đối với hành động của những người này, tập thể chỉ có vai trò thứ yếu. Vì vậy mà tập thể mang tính xã hội không tồn tại bên ngoài hành động của những cá nhân thành viên của nó.

Nền kinh tế thị trường có thể hoạt động mà không cần chỉ đạo của nhà nước là vì nó cho mỗi người biết rằng anh ta cần phải làm gì và phải làm như thế nào chứ nó không đòi hỏi bất kỳ người nào phải từ bỏ đường lối hành động có lợi nhất đối với người đó. Theo đuổi mục tiêu của mỗi cá nhân là chất xúc tác nhằm liên kết hành động của từng cá nhân thành hệ thống sản xuất xã hội.

Hy vọng thu lượm được “thành quả”, mỗi người lại đóng góp phần của mình vào việc sắp xếp một cách hữu lý nhất hoạt động sản xuất. Như vậy là, trong lĩnh vực sở hữu tư nhân và luật lệ nhằm chống lại những hành động bạo lực và lừa dối, quyền lợi của cá nhân và quyền lợi của xã hội không hề mâu thuẫn với nhau.

Những người muốn nghiên cứu hành vi của con người từ những đơn vị là tập thể đối mặt với trở ngại không thể nào vượt qua được: Mỗi cá nhân trong cùng một thời điểm có thể thuộc về những tập thể rất khác nhau. Vấn đề nảy sinh là do có nhiều đơn vị xã hội cùng tồn tại một lúc và mâu thuẫn giữa chúng chỉ có thể được giải quyết bằng chủ nghĩa cá nhân luận mà thôi.

Sự cộng tác của những tín điều của chủ nghĩa tập thể nhằm phá hoại tự do đã tạo ra những niềm tin sai lầm rằng mâu thuẫn chính trị hiện nay là sự đối đầu giữa chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể. Trên thực tế, đấy là cuộc đấu tranh giữa một bên là chủ nghĩa cá nhân và bên kia là những phe đảng khác nhau của chủ nghĩa tập thể. Không phải là những phe đảng đồ đệ của Marx (marxian) thống nhất với nhau mà là rất nhiều nhóm đồ đệ khác nhau của Marx đang tấn công chủ nghĩa tư bản. Những nhóm này còn chiến đấu với nhau một cách dã man nhất và phi nhân nhất. Thay thế chủ nghĩa tự do bằng chủ nghĩa tập thể sẽ dẫn đến cuộc chiến đẫm máu không bao giờ dứt.

Chủ nghĩa cá nhân là triết lý của sự hợp tác xã hội và tăng cường theo hướng tiến bộ của mối liên kết xã hội. Mặt khác, áp dụng những tư tưởng nền tảng của chủ nghĩa tập thể chỉ dẫn đến sự tan rã xã hội và những cuộc xung đột vũ trang bất tận mà thôi.

 

Dịch bởi Phạm Nguyên Trường
Nguồn: Individualism – Ludwig von Mises

Chạy đi, chạy trốn đi!

Featured Image: Converging Photography

 

“Lần cuối cùng Forrest chạy, không phải là chạy trốn nữa và không phải từ một lời thúc dục nào nữa, nó đã trở thành bản năng.”

Buổi sáng nay tôi đọc lại bài devotion hằng ngày, bắt gặp câu chuyện thật hay: Câu chuyện bắt đầu từ một bộ phim có tên “Những Cỗ Xe Ngựa Lửa”, nhân vật chính là một vận động viên điền kinh tài năng. Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện là trước cuộc thi đấu Olympics, anh đã thử chạy và bị đối thủ của mình vượt mặt khá xa. Với nỗi thất vọng tràn trề, anh giận giữ tuyên bố: Tôi sẽ không chạy nếu không có cơ hội thắng. Cô bạn gái của anh lúc đó đã khuyên anh một câu đầy khôn ngoan: “Nếu anh không chạy, anh sẽ không bao giờ thắng.”

Chữ “chạy” trong câu chuyện nhắc tôi nhớ về một bộ phim kinh điển khác mà tôi từng xem nhiều lần “Forrest Gump”. Cũng với câu nói “chạy” của cô bạn gái, cuộc đời của nhân vật chính đã đi tới những bước ngoặc đáng giá.

Lần đầu tiên khi Forest còn là một đứa trẻ bị coi là đần độn với mức IQ dưới 80 và hai chân thì phải kẹp niềng vì quá yếu. Khó khăn lắm, cậu mới vào được một trường học bình thường. Có một lần lũ trẻ khác nhìn thấy cậu đi cùng cô bạn thân, chúng bày trò trêu chọc, ném đá vào người cậu. Bị choáng váng với một viên đã trúng đầu đến chảy máu, Forrest chỉ kịp nghe tiếng cô bạn thét lên: “Run Forrest! Run away! (chạy đi Forrest, chạy đi)…” Thế là cậu chạy. Với 2 chiếc xe đạp đuổi sát sau lưng, trong một nỗ lực phi thường để trốn thoát, tất cả những thanh niềng chân đều vỡ tung và Forest bất ngờ vượt lên, bỏ xa lại đám trẻ đầy bực tức. Từ đó, cậu không bao giờ còn cần đến niềng chân nữa …

Lần thứ hai vào cuối năm phổ thông trung học, lần này, lũ bạn lại đuổi theo cậu với một chiếc xe hơi. Cô bạn gái lại hét lên: “Run Forrest, run… (chạy đi Forrest, chạy đi).” Quăng tất cả tập sách và bút viết, Forrest lại chạy. Cậu mải miết chạy đến nỗi không chỉ bỏ xa chiếc xe hơi bốc khói sau lưng mà còn lao cả vào sân vận động và vượt mặt tất cả các vận động viên môn bóng bầu dục (trò thể thao đề cao sức mạnh và tốc độ). Với lần “phá đám” đó, cậu được huấn luyện viên chú ý và được nhận vào trường đại học chỉ để chơi bóng. Một điều ngoài sức tưởng tượng với một anh chàng IQ dưới 80.

Lần thứ 3 là khi Forrest tốt nghiệp đại học, anh gặp lại cô bạn gái (vẫn không phải là người yêu), lúc đó, Forrest đã quyết định sẽ vào quân đội và tham gia chiến trường ở Việt Nam. Cô bạn kéo anh ra riêng và bắt anh phải hứa rằng: “Nếu cậu gặp nguy hiểm, đừng tỏ ra anh hùng, hãy cứ chạy thôi.” Lời chia tay cuối cùng để anh đến một đất nước cách nửa vòng trái đất chỉ là một từ “chạy”, không điều gì khác, không một câu lãng mạn, hứa hẹn hay yêu thương.

Nhưng thật kỳ lạ, vẫn như 2 lần trước, câu nói ấy lại làm thay đổi vận mệnh cuộc đời anh. Trong một lần trung đội anh bị phục kích bất ngờ tại một khu rừng, lực lượng bị tổn thất nghiệm trọng, tất cả hỏa lực bị tê liệt, trong lúc nằm bẹp dí dưới mặt đất tránh luồng đạn gào rít trên đầu, Forrest một lần nữa chỉ còn nhớ đến một từ “chạy”. Thế là anh bật dậy và chạy, chạy như điên như dại cho đến khi tiếng bom đạn chát chúa sau lưng nhỏ dần và tắt hẳn. Anh đã chạy đến bìa rừng và hoàn toàn an toàn. Tuy nhiên, bất chợt lúc đó anh nhìn quanh và không thấy ai, nhất là người đồng đội thân thiết nhất của mình, anh lao trở lại khu rừng để tìm bạn mình. Anh lần lượt cứu hết người này đến người khác chỉ bằng cách vác họ lên và chạy. Rốt cuộc anh cũng tìm được người bạn thân, dù chỉ kịp nghe câu trăng trối sau cuối: “Tớ biết thế nào cậu cũng đến.” Nhờ lòng dũng cảm cứu người, Forrest được tổng thống trao tặng huân chương danh dự và được giải ngũ. Sau đó, với những thành tích thể thao và may mắn trong làm ăn, anh trở nên cực kỳ giàu có.

Lần cuối cùng Forrest chạy, không phải là chạy trốn nữa và không phải từ một lời thúc dục nào nữa, nó đã trở thành bản năng. Lúc đó anh đã trở lại quê nhà với một cuộc sống nhàn hạ thì cô bạn gái đột ngột trở về và cuối cùng đã chấp nhận lời cầu hôn của anh. Nhưng chỉ sau một khoảng thời gian ngắn hạnh phúc, cô ấy lại ra đi, đột ngột như lúc trở về. Forrest lao ra đường tìm kiếm, chạy khắp nơi trong vô vọng. Cho đến một lúc, anh thấy mình đã chạy khá xa nên không biết làm gì ngoài việc chạy tiếp. Và cứ như thế, anh chạy xuyên hết bang này đến bang khác của nước Mỹ trong suốt 2 năm trời.

Sau đó thì anh nổi tiếng, được lên báo, lên truyền hình và quy tụ một đoàn hâm mộ rầm rộ chạy theo anh. Nhưng như anh nói, anh không có mục đích gì cả, anh chỉ chạy để chạy thôi: “Khi tôi đói, tôi ăn, khi tôi mệt, tôi ngủ, rồi lại chạy…” Nhưng rồi một ngày nọ, khi băng qua con đường ở sa mạc, với ánh mặt trời rực rỡ ở chân trời, anh chợt dừng lại và nghĩ rằng, mình chạy như thế đủ rồi, không một lời giải thích cho đoàn người hâm mộ phía sau. Anh lại trở về nhà.

Bộ phim chưa kết thúc tại đó nhưng đã đủ số lần “chạy” trong suốt cuộc đời Forrest. Anh không cần phải chạy thêm một lần nào nữa.

Tôi tin rằng nhiều người chúng ta không có chỉ số IQ dưới 80 hay quá ốm yếu để phải mang nẹp chân. Nhưng ở một số thời điểm trong cuộc sống, bạn sẽ cảm giác mình trở nên quá ngốc nghếch và đôi chân nặng thì nặng như chì bởi vô số gánh nặng. Lúc đó bạn sẽ hiểu, bạn cần một tiếng hét từ một ai đó: “Chạy đi, chạy!”

 

AVKH

Những nhân vật phản diện

Tôi nghe được ở đâu đó câu nói đầy tâm đắc:

“Tôi thích đọc về những nhân vật phản diện (tất nhiên phản diện ở 1 mức độ nào đó), vì họ trơ trẽn nhưng cá tính; ít tự trọng nhưng thẳng thắn, bộc trực; đáng trách nhưng dám là chính mình. Dám yêu dám hận. Và còn bởi vì, phản diện thì không được yêu thương….”

Và có đôi khi, tôi vẫn tự nói với bản thân mình, với một vài cô bạn thân thiết: Chúng ta không thể nghiêm túc 24/7 được. Như vậy thì quả là nhàm chán.

Sở dĩ tại sao lại có những nghệ sĩ, những sản phẩm âm nhạc, một đế chế. Tại sao lại có công trình Vạn Lý Trường Thành. Ở đây tôi không đánh đồng những con người tạo nên những công trình to lớn là nhân vật phản diện. Mà họ tạo nên những thứ khác thường, bởi họ dám cởi cái mặt nạ giả tạo, sống đúng với trái tim của mình, với những lý tưởng sắt đá, họ không muốn đeo cái mặt nạ dối trá. Họ sống đúng với chính bản ngã của mình.

Ngày lại ngày, ra ngoài đường, vào văn phòng, con người ta đều đắp cho mình một cái mặt nạ dày, để che đi những cảm xúc cá nhân, kìm nén những bộc phát, giấu đi những suy nghĩ táo bạo. Bởi vậy con người ta vô tình đã tạo khoảng cách lẫn nhau, làm mất đi những cơ hội, những ý tưởng độc đáo, mất đi những tình cảm vụt qua. Bởi vậy cuộc sống đôi khi chỉ phẳng lặng, rỗng tuếch. Như ly cà phê đắng ngắt với khói thuốc, hay những tiếng thở dài não nề.

Có những người với khuôn mặt vô cảm, với những tiếng thở dài, với những câu than lặp lại hàng ngày không ngớt. Họ giam mình trong một khuôn khổ quá bó hẹp. Họ làm những công việc lặp lại. Trách đời. Đổ thừa tại số phận. Họ than rằng: Mình đã già thật rồi.

Thiết nghĩ: Cuộc sống như thế nào là do chính bản thân tạo dựng lên. Và trong 24 giờ chỉ bó buộc mình trong một cái xó xỉnh nhàm chán nào đó, thì về cơ bản cuộc sống của họ phảng phất một màu nhờ nhờ, xám xịt.

Những nhân vật phản diện, họ đấu tranh cho những sắc màu xám xịt ấy có màu hơn. Dù đó chỉ là màu đỏ của máu. Họ không ngồi một chỗ than ngắn thở dài, họ làm một thứ gì đó để cứu rỗi cuộc sống tẻ nhạt của mình, họ nổi loạn, họ nói ra những câu nói chân thật, tuy có chút trần trụi, tục tĩu. Nhưng tựu chung, người đời lại thích nghe cái cách những nhân vật phản diện nói chuyện.

Những nhân vật phản diện, dù họ có làm cho người ta cảm thấy căm phẫn, dù họ có bước đi trên đống xương, hay dòng sông máu.

Nhưng nếu nhìn về quá khứ, họ cũng đã là những thiên thần đáng yêu hay là những con người đeo mặt nạ. Và rồi họ gỡ bỏ lớp mặt nạ, và nắm lấy những gì thuộc về mình, nói lên những tiếng nói chỉ sau vài giây xuất hiện trong não. Phớt lờ những ánh mắt xoi mói của đời. Như thể thế giới này được tạo ra, và họ điều khiển thế giới, chứ không phải thế giới điều khiển họ.

Như nhân vật Erik – bóng ma trong vở kịch The Phantom of the Opera. Trong một lần nhìn thấy cô đào Christine xinh đẹp, chàng đã cảm thấy yêu nàng ngay từ cái nhìn đầu tiên. Erik hy vọng bằng việc giúp Christine học cách phát huy giọng hát của mình, chàng sẽ chiếm được trái tim của nàng. Nhưng tiếc thay, Christine chỉ xem Erik như một “thiên thần âm nhạc”, nàng đã hướng trái tim mình về Raoul – chàng hoàng tử đẹp trai. Và Erik đã đau khổ và gây ra nhiều nỗi sợ hãi bao trùm nhà hát.

Rõ ràng nhân vật phản diện là Erik – bóng ma nhà hát. Nhưng người ta dường như yêu mến nhân vật này. Bởi không chỉ những ca từ đầy tình cảm, đầy tình yêu thương dành cho Christine mà còn bởi những câu nói đầy ấn tượng, thẳng thắn xuyên suốt vở kịch. Erik dường như đã thổi hồn cho cả vở kịch, và là nhân vật dẫn dắt toàn bộ câu truyện.

Dù là nhân vật phản diện, nhưng họ cũng rất đáng thương, họ cũng biết mỉm cười với những chú chó nhỏ bên vệ đường, hay lặng lẽ ngắn nhìn ngọn cỏ non…

Họ chỉ lựa chọn cuộc sống đầy sóng gió hơn, bởi vì những yêu thương vô tình đẩy họ ra xa…

Lai Ngọc My

Tư duy tiểu nông và nền văn hóa xe máy

Featured Image: Sylvain Marcelle

 

Thời trung học cơ sở tôi vẫn được dạy rằng Việt Nam là một đất nước nông nghiệp có nền văn minh lúa nước với 90% dân số làm nông nghiệp, còn bây giờ, tôi xin mượn cách diễn tả trên để nói rằng Việt Nam có nền văn hóa xe máy vì trên 90% dân số Việt Nam chắc hẳn đều đi xe máy hoặc chí ít thì cũng sở hữu một cái xe máy. Xe máy hiện diện trên tất cả ngóc ngách của đất nước này, từ chốn thành thị đến vùng nông thôn, từ miền núi tới miền xuôi, ở các đô thị xầm uất nhất cho tới các buôn làng xa xôi hẻo lảnh. Sự hiện diện của xe máy phổ biến tới mức nếu coi nó là một nét văn hóa thì cũng khó có thể phủ nhận.

Vậy tại sao văn hóa xe máy và tư duy tiểu nông lại được xếp cạnh nhau?

Xe máy là một trong những “chiếc neo” đang kéo cả một đất nước Việt Nam đi chậm lại bởi vì nó khiến cho con người ta có lối suy nghĩ và hành động tiểu nông và gián tiếp gây ra hậu quả cho toàn bộ lĩnh vực kinh tế và xã hội.

Thứ nhất, xe máy là thủ phạm của tư duy làm ăn manh mún. Xe máy rất tiện, bạn có thể đỗ mọi nơi, dừng mọi lúc, bất kể không gian như thế nào. Bạn có thể dừng ngay giữa ngã tư để mua một vài cân hoa quả, dừng ngay đầu ngõ để mua cân thịt, mớ rau và thế là một cái chợ cóc hình thành nên với chất lượng an toàn thực phẩm không thể kiểm soát được. Nếu mọi người đi ô tô, chúng ta sẽ không thể tùy tiện mua ở bất kỳ đâu, phải vào siêu thị, đó là nơi con người làm việc một cách chuyên nghiệp từ tất cả các khâu từ cái bãi đỗ xe, bán hàng, marketing rồi đến chăm sóc khách hàng.

Cái giá phải trả cho sự bất tiện là sự văn minh trong cách đối xử giữa người với người chứ không phải cảnh chửi bới nhau chì vì cân sai, cân lệch, làm ăn chộp giật và tư tưởng kinh doanh tiểu nông như dân gian vẫn gọi “cái lũ đầu đường xó chợ”. Xe máy ảnh hưởng đến thói quen sống và hành động của chúng ta từ những cái nhỏ nhất.

Thứ hai, xe máy là thủ phạm của việc quy hoạch thiếu tầm nhìn. Chẳng có gì sai khi tôi cho rằng xây dựng ở Việt Nam hiện nay là nội nồi lẩu be bét với đủ các thể loại kiến trúc, những con ngõ nhỏ và sâu tới mức không thấy ánh sáng mặt trời mà giá bán thì trên cũng trên “trời” luôn. Thủ phạm chẳng phải ai khác, đó chính là xe máy, sở dĩ bạn có thể sẵn sàng bỏ cả đống tiền ra để mua một ngôi nhà trong nội đô thành phố bởi vì nó gần, tiện đi lại, điều đó bắt nguồn từ việc bạn chẳng có ô tô. Nếu bạn có ô tô, một ngôi nhà ven đô thành phố cách 15km vào trung tâm, tôi nghĩ cũng chẳng hề hấn gì, nhưng bởi vì mọi người đều đi xe máy, nên giá nhà nội đô thì vẫn cứ cắt cổ mà môi trường sống thì như thế đó, thật là tồi tệ.

Tôi cũng đã tự hỏi tại sao các nhà làm quy hoạch không thể vẽ ra những con đường to hơn, với tám hay mười làn xe như Mỹ, EU, Trung Quốc, mà ở Thái lan, Singapore cũng như vậy rồi, Việt Nam rồi 10 năm nữa cũng thế thôi, những con đường đó sẽ bị phủ kín bởi các khu dân cư, rồi tắc đường ở đó sẽ diễn ra, không lẽ chúng ta lại làm lại chúng, mở rộng lòng đường lẫn vỉa hè với giá cắt cổ như đường Kim Liên ở Hà Nội. Tôi nghĩ về câu trả lời thì thấy rằng thì ra là họ (những người làm quy hoạch) cũng đi xe máy, và họ thấy rằng nếu họ làm con đường 4 làn xe thì chẳng ảnh hưởng gì cả, họ đi xe máy, mọi người cũng đi xe máy, và họ chẳng thấy có sự tắc đường nào xảy ra cả ở thì hiện tại.

Không chỉ là những con đường, mỗi khi xem những bộ phim của Mỹ, tôi rất thích thú với những hình ảnh trong các khu cống ngầm, từ cách đây hàng trăm năm trước, ngoài hệ thống cống ngầm thoát nước, người Mỹ đã có những hệ thống cống ngầm phục vụ tàu điện, mạng lưới điện, đường dây thông tin rất lớn, lớn đến nỗi cả ô tô cũng đi ở bên trong được. Còn ở Việt Nam, khi dự án hạ ngầm đường dây điện, viễn thông, cáp mạng được thực hiện, nhìn cảnh người ta chôn những cái ống bé bằng bắp chân để chạy dây cáp, tôi tự hỏi, liệu sẽ được bao lâu rồi sẽ lại bị đào lên. Tại sao không phải là một cái ống cống rất to, để 100 năm sau con cháu chúng ta nó vẫn có thể đi dây ở bên trong và phải khen rằng “cơ sở ông cha làm thật là nồi đồng cối đá”.

Nếu một xã hội có nhiều xe hơi hơn, chúng ta có thể sẵn sàng di chuyển ra vùng ven đô thành phố, xu thế này khiến cho mật độ dân cư nội đô giảm dần một khi mọi người có nhiều sự lựa chọn hơn về nhà cửa thay vì cố gắng tìm một vị trí trung tâm như trước kia, mặt bằng bất động sản đồng đều hơn, giá nhà khu trung tâm giảm xuống, chúng ta sẽ có cơ hội quy hoạch lại khu vực trung tâm với những tòa nhà cao tầng mọc lên đủ sức chứa cho hàng nghìn hộ dân mà hoàn toàn hơn hẳn thẩm mỹ. Chắc chắn rằng chỉ cần hai tòa cao ốc với năm mươi tầng có thể đủ sức chứa được hai phường ở Hà Nội hoặc Hồ Chí Minh, trong khi phần đất còn lại đủ để xây bãi đỗ xe và công viên cho tất cả mọi người. Nhưng chiếc xe máy không cho phép chúng ta làm điều đó, chúng khiến tất cả mọi người co cụm lại ở một vị trí, chất lượng sống giảm xuống rất nhiều về cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Thứ ba, xe máy là kẻ thù của một nền văn hóa văn minh. Ở thành phố văn minh, những quý ông diện những bộ suit, những cô thiếu nữ khoác lên mình bộ váy chốn công sở, đi chơi thì có quần sooc, áo phông ngắn tay và rất nhiều phong cách thời trang khác nhau thể hiện gu thẩm mỹ của dân cư bản địa. Còn ở Việt Nam ư, ra đường chị em phải quấn quanh mình một đống giẻ bùng nhùng chống nắng, các anh con trai thì đầm đìa mồ hôi trong cái nắng 40 độ, mọi người chỉ còn cách cố phăng phăng bay tới đích họ cần đến, còn đâu thời gian đâu mà suy nghĩ về thời trang, tranh ảnh, nghệ thuật đường phố chắc hẳn cũng chẳng có đất diễn ở cái xứ xở này.

Xe máy đã giết chết thời trang và nghệ thuật ở Việt Nam. Nhờ có xe máy, hàng nhìn con người trẻ mới có thể tụ tập được ở Nhà Thờ Lớn, Ngã Ba, Ngã Tư thi nhau buôn chuyện, thuật ngữ trà chanh chém gió được ra đời. Bạn biết đấy, những cái gì được ví với gió sẽ hời hợt và không có độ sâu, những câu chuyện xung quanh cốc trà chanh thì cũng như vậy. Nếu các bạn đi ô tô, sẽ không còn chốn cho những nơi vỉa hè như vậy, việc đi ô tô khiến các bạn tìm đến những chốn khác, nơi các bạn biết, vang trắng phải đi với đồ ăn như thế nào còn vang đỏ thì cách dùng làm sao. Chắc chắn, tất cả mọi người sẽ trở lên tinh tế và lịch thiệp hơn trong cách giao tiếp với mọi người, chúng ta sẽ có quyền diện những bộ cánh chúng ta muốn mà không lo bị đen, không lo bị bụi bẩn và trông không giống mấy mớ giẻ bùng nhùng và xấu xí.

Đến đây, tôi xin làm một phép so sánh nhỏ mà ai cũng biết, một chiếc xe Toyota Yaris ở Thái Lan có giá bán khoảng 300 triệu, còn một chiếc xe SH ở Việt Nam có giá xấp xỉ 100 triệu, thử so sánh tất cả các chi phí nguyên vật liệu đầu vào, công nghệ sản xuất, chi phí marketing, quảng cáo hình ảnh sản phẩm, tôi dám chắc rằng, giá thành sản xuất chiếc SH không có cửa để so sánh với chiếc ô tô kia, và rằng sản xuất xe máy ở Việt Nam lợi nhuận như thế nào. Và tôi tin tưởng rằng nếu giá thành xe ở Việt Nam rẻ như ở Thái, chứ đừng nói tới Mỹ, thì thu nhập hằng năm là 5.000 hoàn toàn có thể sở hữu và nuôi được một chiếc xe hơi.

Ô tô có lẽ không phải là thứ có thể giúp mọi người thể hiện đẳng cấp, nhưng nó giúp bạn chống lại được với cái thời tiết khó chịu ở chốn này và tập trung im lặng trong xe suy nghĩ về những ước mơ hay cảm nhận cái đẹp, thay vì phóng như bay ngoài đường và sàng dựng xe ném một chàng tiếng nóng nếu người khác va vào xe bạn (trời nắng nên nóng trong người mà).

Nếu ai đó còn bối rối về việc cơ sở hạ tầng của Việt Nam có cho phép việc có quá nhiều ô tô như vậy không thì tôi xin nói rằng, đó là bài toán về quả trứng và con gà. Bạn không thể cứ đợi cái này có rồi cái kia mới có được, sẽ chẳng bao giờ có những con đường 12-16 làn xe chạy đâu khi những nhà làm quy hoạch vẫn tư duy xe máy, chừng nào hằng ngày người ta đi làm bằng ô tô, thấy cảnh tắc đường hằng ngày, thì ngày đó đến văn phòng người ta mới chịu tư duy phương án khắc phục, còn bây giờ, tắc đường là việc của cảnh sát giao thông, trì trệ văn hóa ư, tôi không quan tâm đó là việc của bên văn hóa, cho đến khi nào bạn đi xe hơi, tự khắc bạn sẽ hướng đến những giá trị chân-thiện-mỹ. Và nếu còn có xe máy, thì văn hóa Việt Nam và tư tưởng tiểu nông trong kinh doanh chợ cóc, chợ tạm là một câu chuyện dài.

 

Patrick

Nền giáo dục cấm đoán (phần 2): Hãy giáo dục con trẻ theo nhu cầu của chúng, chứ đừng theo nhu cầu của người lớn

Featured Image: Pink Sherbet Photography

 

Việc chúng ta cần làm, để có một nền giáo dục tốt, giống như bắt đầu lại từ đầu, từ một con số 0. Maria Montessori từng nói:

“Đừng học tôi, học trẻ con ấy.”

Nhưng người lớn dường như không theo kịp lũ trẻ, cũng chẳng chịu quan sát chúng. Anh ta thật sự chẳng hiểu gì về lũ trẻ cả, chẳng biết gì sất. Ngược lại, anh ta biết nhiều lý thuyết lắm. Điều đó có nghĩa là, người lớn tỏ vẻ như biết trẻ con cần gì, nhưng thực tế, anh ta lại hoàn toàn mù tịt. Nói cách khác, cốt lõi của giáo dục phải là chính TRẺ EM. Vì thế, nếu là giáo dục thực chất, thì nên được lấy cơ sở là trẻ nhỏ, chứ không phải là từ nhu cầu của người lớn.

Trẻ con được sinh ra với tiềm năng để sáng tạo, chúng cực kỳ sáng tạo, tò mò và ham quan sát. Và ở trường thì có hai điều có thể xảy ra: Hoặc là chúng ta phải theo dõi quá trình phát triển này và đưa ra các hoạt động nhằm kích thích các tiềm năng của trẻ, hoặc là ép buộc chúng theo khuôn khổ. Thực tế, chúng ta có thể nói rằng, bản chất của con người là luôn học hỏi. Hãy nhìn mà xem. Trẻ con liên tục hỏi bạn: “Tại sao lại thế này? Tại sao lại thế kia?” Không phải là bạn bắt chúng hỏi, mà tò mò và khám phá chính là bản chất của trẻ. Bọn trẻ có tất cả những gì cần thiết: Các giác quan, khả năng đánh giá và mô phỏng. Chúng có bộ não, có thể suy nghĩ, lý luận, tưởng tượng, sáng tạo và mơ mộng. Nhưng tất cả những gì trường học làm đối với bọn trẻ là: Trật tự, im lặng… Chúng bịt miệng tụi trẻ lại.

Vì thể, nếu bạn chịu để ý bạn sẽ thấy rằng, khi lớn lên, chúng bắt đầu mất hẳn sự tò mò và sự hứng thú với học tập. Một đứa trẻ 12 tuổi sẽ cực ít đọc sách sau giờ học, rất ít đứa làm thế. Vì sao? Bởi vì chúng phát chán với việc bị sai bảo nên làm cái này, không nên làm cái kia và vì chúng mất hết sạch sự hứng thú với việc học. Tâm trí của trẻ nhỏ với đầy đủ các phẩm chất cho việc học hỏi, và vượt xa khả năng ấy của người lớn. Bởi vì chúng tò mò và hứng thú một cách tự nhiên với bất cứ điều gì hiện ra trước mắt. Và đấy là cách tâm trí sáng tạo và phát triển chính nó.

Trong một vài năm, một đứa trẻ học cách kiểm soát cơ thể, có khả năng giao tiếp bằng nhiều ngôn ngữ, dấu hiệu, thấu hiểu các luật lệ của tự nhiên và các đặc điểm của văn hóa. Tất cả quá trình phức tạp và vô cùng kỳ diệu ấy diễn ra một cách vô thức. Chúng học tất cả những điều này một mình và tốn rất ít công sức.

Từ khi sinh ra, chúng đã có đủ khả năng để xây dựng và định hướng cho mình, học hỏi từ mọi thứ xung quanh, vừa chơi vừa khám phá thế giới. Khi một đứa trẻ ra đời, cơ chế sinh học không phải gò ép, buộc chúng phải trở thành người, điều chúng cần là một môi trường có tính nhân văn. Tất cả những gì xung quanh chúng đóng vai trò định hướng trong quá trình học: Những lúc gia đình quây quần bên nhau, khi mọi người đối xử với nhau… mọi thứ là một phần của môi trường, mà qua đó chúng phát triển chính mình.

Chúng ta cần đem lại loại môi trường như thế nào cho trẻ nhỏ để chúng phát triển một cách hoàn thiện nhất? Nếu chúng ta có một gia đình mà trong đó, tình thương không được biểu hiện chút nào, thì đứa trẻ dễ dàng nhiễm tính hung hăng. Không hoàn toàn, nhưng ý tôi là, trong một môi trường bạo lực, thì bạo lực sẽ dễ dàng sản sinh.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng, ngày nay, từ lúc 5 tuổi, 98% trẻ nhỏ phải được xem như là các thiên tài. Chúng tò mò, sáng tạo và có khả năng suy nghĩ theo nhiều hướng và tiềm năng giải quyết các vấn đề là cực lớn. Hay nói đơn giản, chúng có một tâm trí cực kỳ rộng mở. Vấn đề là đến năm 15 tuổi, chỉ 10% trẻ nhỏ là còn giữ được những khả năng ấy. Trong thế giới các sinh vật có ý thức có thể nói rằng, chúng ta hoàn toàn là những thiên tài. Và thật sự, điều mà các thầy cô cần phải biết, là học sinh của họ cần phải được tự do với toàn bộ tâm trí, để cho phép tất cả kiến thức, sự sáng tạo và các tiềm năng… mà chúng có bên trong, được bộc lộ ra ngoài.

Là con người, chúng ra là sản phẩm của hàng ngàn tiến hóa và chọn lọc tự nhiên. Chúng ta mang trong mình tất cả các phẩm chất để tồn tại, thay đổi chính mình và trưởng thành. Từ ham muốn được ăn khi đói, tới sự tò mò từ bên trong để khám phá thế giới. Tiềm năng này ngày nay đang đợi chúng ta cho phép để có thể bộc lộ. Hãy nhìn cách mà trẻ con nô đùa, thật tự nhiên và sinh động làm sao, tới những thiếu niên ngày nay, qua sự nổi loạn của chúng và nhu cầu muốn thay đổi thực tại. Tại sao chúng ta cứ khăng khăng triệt tiêu sự tự nhiên của chúng và trừng phạt sự nổi loạn này, trong khi những hẩm chất này đơn giản là cho chúng ta thấy rằng chúng phải được phát triển bản thể, và đáp ứng những nhu cầu bên trong tự nhiên của chúng.

Trẻ nhỏ có một người thầy bên trong, đặc biệt là những năm tháng đầu đời, khiến chúng học hỏi, tò mò và di chuyển, thúc đẩy chúng tham gia, làm việc và tái diễn các hành vi. Và chính những lực ấy giúp chúng quyết định khi nào thì dừng làm việc gì, bởi vì chúng đã hiểu hết về nó. Quan sát cách những đứa trẻ hành động, chúng tôi khám phá ra rằng, chúng sử dụng tất cả những phẩm chất của một nhà nghiên cứu cự phách, giống hệt những thiên tài. Rất tự nhiên, với tất cả các cấp độ phức tạp, phải không nào?

Không một đứa trẻ nào lại không quan sát, không một cậu bé nào lại không khám phá và thử nghiệm. Câu hỏi là chúng ta phải làm gì để kích thích chúng sáng tạo? Câu trả lời là chẳng phải làm gì cả, chúng vốn là như thế rồi. Tất cả những gì chúng ta phải làm là đem lại cho chúng các cơ hội để bộc lộ sự sáng tạo, bằng nhiều cách khác nhau. Nếu chúng được phép như vậy, nay mai thôi chúng sẽ là những nhà khoa học, những nghệ sỹ. Hãy cho chúng được là chính mình.

Thầy giáo nói với cô hiệu trưởng: “Bọn trẻ đang hoài nghi hệ thống giáo dục với điểm số, chúng cho rằng chúng ta chỉ quan tâm tới điểm mà không cần biết chúng tiếp thu được gì.” “Anh cũng cho là tụi nó đúng sao?” “Tôi chỉ không nghĩ là tụi nó hoàn toàn sai, có những điều chưa đúng lắm về cách giáo dục của ta?” “Vậy anh không nghĩ tất cả trở nên như vậy là do xã hội này sao? Còn ở trong xã hội này thì việc tốt nhất cho chúng là đến trường, và đi học”…

“Thưa cô, như cô yêu cầu, đây là toàn bộ những gì em được học trong 5 năm qua tại trường. Và cô biết sao không? Em sẽ quên hết. Thực tế mà nói thì, em đã quên hết rồi…”

“Micaela, hãy cho tôi biết tại sao em nhất quyết với bài phát biểu đó? “Bởi vì đó thực sự là những gì em nghĩ, em chỉ muốn bộc lộ suy nghĩ của mình, e muốn thế.” “Ôi em yêu, ai cũng thích làm những gì mình cảm thấy hứng thú và chúng ta đôi khi phải làm những điều mình không thích.” “Không, em xin lỗi, nhưng em không đồng ý như thế” “Ok, tôi hiểu em nhưng…” “Nghe này Micaela, em có muốn tốt nghiệp không? có bằng, có một cái nghề và trở thành một ai đó?” “Em vốn là một ai đó rồi thưa thầy.”

 

“Học không có nghĩa là nuốt chửng đủ loại ý tưởng, mà là sáng tạo và tái tạo lại chúng” – Paulo Freire

Cách mà giáo dục hiện nay vận hành, là nhồi nhét thêm các thông tin mà ta tin rằng chúng cần thiết. Tôi tự hỏi mình rằng: Chúng ta nhớ được bao nhiêu thứ từ trường học phổ thông? Với cách mà họ dạy và giảng, chẳng ai thấy hứng thú cả. Khi họ đọc gì đó và bắt tối phải đọc theo, tôi không nghĩ mình học được gì, tôi chỉ thấy mình là một kẻ bắt chước. Tất cả những gì mà chúng ta được học từ trường lớp, hết ngày nọ đến ngày kia, đều sẽ chìm dần vào lãng quên, nếu nó không phải là lựa chọn và quyết định của chính ta.

Trẻ con không phải là những con robot chỉ đơn giản là copy và nhắc lại. Thực sự bản thân chúng sẽ có ý thức về những gì mình làm. Những ý tưởng tới, trẻ con tiếp thu chúng, theo một cách nào đó qua trải nghiệm của chính mình. Nếu quá trình học hỏi không tạo được hứng thú, thì nó không phải là học thật sự. Và trên hết, thiên tài mà mỗi đứa trẻ mang trong mình sẽ không thể tự bộc lộ. Học hỏi thực sự chỉ có thể sinh ra từ sự thích thú, ý chí và cả sự tò mò và nguồn gốc của nó lại bắt nguồn từ những thứ vượt xa mọi lý thuyết. Nó rộng hơn mọi phân tích và các hình dung liên quan. Học hỏi là một quá trình sâu, nơi mà các mối quan hệ giữa con người và môi trường xung quanh được thiết lập.

Một trái bóng tự tay mình làm là trái bóng “được”, một trái bóng vay mượn là trái bóng “mất”. Những gì chúng ta học được, chúng ta thu được qua việc làm. Chúng ta học bằng cách khám phá những điều tự nhiên, tìm kiếm, tìm tòi, thí nghiệm. Khi trong sự liên kết với tự nhiên, một đứa trẻ có thể làm bất cứ thứ gì. Như vậy, công việc của một nhà giáo dục là gợi mở các bí ẩn, tạo ra các hoàn cảnh trong tự nhiên, để mặc dù đã được mô tả bởi khóa học nhưng phải để học sinh tự giải thích. Bằng cách đó, học sinh sẽ rất ngạc nhiên và sẽ cố gắng để tự tìm ra đáp án cho riêng mình. Trong nhiều thập kỷ, đã có một mô hình trường học tên là “trường học động”, ở đó trẻ nhỏ bộc lộ, hành động và sáng tạo xa rời hẳn bàn ghế. Nhưng đấy không phải là điều gì mới cả, nó đã được Piaget nói tới từ thập niên 50, đơn giản là không được đem vào áp dụng, chỉ vì sự lười nhác.

Trong những năm đầu của thế kỷ 20, nhiều phương pháp sư phạm mới xuất hiện, đúc rút ừ nhiều lĩnh vực khoa học phát triển mà trọng tâm là hành động và thử nghiệm, tự do và cơ chế tự thân vận động của quá trình học, đổi mới tư duy toàn bộ cơ cấu của trường học. Nhưng đến giữa thế kỷ 20, tất cả những ý tưởng đột phá đó bắt đầu chìm dần vào quên lãng, bởi vì sự sợ hãi của các thể chế Chuyên Quyền. Vâng, các phương pháp ấy tập trung vào việc coi trẻ nhỏ là người học chính, một cách toàn diện. Một cách tự nhiên, phải có các vật dụng thực tế, cầm nắm được để trẻ có thể sử dụng và thí nghiệm.

Mọi thứ trong trường tiểu học đều có thể được thực tế hóa, mọi vật dụng đều là những thứ có thể lắp ghép và thí nghiệm. Cứ như vậy, tự trẻ nhận ra là nếu nó làm sai, thì vật dụng ấy sẽ bộc lộ và tự sửa lại. Thường thì, người lớn không nên đứng ra để sửa cho trẻ, mà phải để chính đứa trẻ tự sửa sai. Ngày nay, chúng ta có thể thấy trẻ con tự sửa sai cho nhau. Tôi tin rằng, đứng từ quan điểm giáo dục, thì lỗi và sai sót phải được đón nhận, như thực tế khoa học có nhiều sai lầm và lỗi hơn là các câu trả lời đúng. Bình thường chúng ta cho rằng mình đang tiến lên, khi chúng ta thành công, nhưng thực ra, chính sai sót mới là tiền đề để khoa học tiến triển.

Chúng ta nên nói với trẻ rằng: Chẳng quan trọng nếu em mắc lỗi hay sai sót, vì em đang học, bởi vì chẳng có ai là kẻ thắng cuộc ở đây cả, tất cả chúng ta ở đây là để học hỏi.

Edison khi phát minh ra bóng đèn điện đã thử nghiệm và sai sót hàng ngàn lần trước khi thành công. Khi một nhà báo hỏi ông ấy là cảm thấy thế nào khi sai sót cả hàng ngàn lần, ông đơn giản đáp lại: “Tôi chẳng vấp ngã cả ngàn lần, nhưng bóng đèn điện là một sáng chế tốn hàng ngàn bước.” Cũng giống như các khám phá khoa học, giáo dục bất quy tắc là kết quả của một quá trình đầy biến động, mà ở đó một người tìm kiếm các giải pháp thay thế, các quy tắc logic và nhân quả giữa hỗn độn và quy luật. Nhưng phương pháp học này được sinh ra từ thắc mắc khi đối mặt với những hỗn độn, chứ không phải từ một câu trả lời theo quy tắc có sẵn.

Khi chúng ta sinh ra, xã hội này khiến chúng ta ngu dốt vì chúng đem tới toàn là những câu trả lời. Nó cho chúng ta những câu trả lời được thêu dệt sẵn, từ triết học, chính trị, thậm chí là tôn giáo. Vì thế, nó hủy diệt sự hoài nghi và khả năng học hỏi. Trường học cũng vậy, nó toàn cho chúng ta câu trả lời, trong khi thực chất của giáo dục thì nó phải khiến cho chúng ta hoài nghi và tìm tòi. Một nhà giáo cần làm gì? Anh ta cần giúp sức để khơi gợi tìm tòi, chứ không phải là áp đặt một câu trả lời.

Tầm quan trọng của việc hoài nghi và đặt câu hỏi đã tồn tại từ thời Hy Lạp cổ đại, nơi khai sinh Triết học, ở đó, việc học nổi lên từ thay đổi tư duy và trao đổi lẫn nhau. Nhưng nếu đó là bản chất của việc học, thì tại sao chúng ta lại cứ khăng khăng việc áp đặt, giới hạn, quy ước và phân loại chúng? Vì thế, thời gian ở trường, hóa ra lại là thời gian đánh lạc hướng, và ép buộc chúng ta tin vào một chương trình định sẵn. ý tưởng rằng học sinh phải tiến triển, tuân theo cách mà chương trình học đã đề ra trước.

Thường thì, mục tiêu giáo dục trong thế giới hiện nay là chẳng đếm xỉa gì tới học sinh và trẻ nhỏ. Dần dần, lũ trẻ tin rằng việc học là để đáp ứng các lực tác động bên ngoài, chứ không phải nội tâm. Chẳng hạn, tôi phải học để qua kỳ thi, để cạnh tranh tìm việc…

Nếu ta không khuấy động sự thích thú, nếu ta không kích thích sự sáng tạo của trẻ. Ta đang tạo ra các robot với những mục tiêu, và vì thế, thường là 60-70% trẻ em với tiềm năng tuyệt vời bên trong sẽ rơi rụng phía sau. Rồi khi chúng ta lớn lên, nhà trường và xã hội lèo lái chúng ta tới những mục tiêu và động cơ bên ngoài, và chúng ta chẳng thể hiểu nổi là một người có thể làm điều gì đó mà không quan tâm tới lợi lộc thu lại, tất cả chẳng qua là từ nội tâm. Nhưng nếu trẻ nhỏ chẳng hướng tới điều gì cụ thể, nó chỉ đơn giản là tận hưởng việc trưởng thành, nó chỉ bước đi vì sự vui thích của việc đi bách bộ và khám phá, và đó lại chính là điều đem lại sự phát triển cho chúng. Giáo viên không nên là ngôi sao sân khấu, họ chỉ nên là người hướng dẫn, kiểu cầu nối, họ có liên kết nào đó với kiến thức, và tự kiến thức sẽ tạo ra sức hút, tự vận hành theo cách của từng học sinh. Chẳng một áp lức nào buộc trẻ phả đặt được mục tiêu trong một quãng thời gian cụ thể.

Cơ bản, có hai phương thức, một là phải rèn trẻ theo văn hóa, hai là phải thay đổi văn hóa để thích nghi với trẻ. Nói cách khác, một là đi theo lề trái hoặc phải, đơn giản chỉ vậy, nhưng nơi nào đó ở giữa, mới là sự thật. Trường học hiện nay được xây dựng trên nền tảng là ý tưởng cơ bản, bao trùm toàn bộ cơ cấu: Ý niệm rằng trẻ nhỏ như một tờ giấy trắng và hệ quả, là tính cá nhân của nó có thể bị tháo rời và lắp ghép lại, bóp méo tùy theo nhu cầu ngoại cảnh. Đứa trẻ được xem như một đối tượng để nghiên cứu, một con chuột bạch, bên trong một phòng thí nghiệm, một quá trình xã hội hóa, trong suốt lịch sử, mà mục tiêu chính là định hướng, tạo ra một con người khác.

Đây hẳn rất là nhân bản, hay không phải vậy, khi tin rằng rừng cây sẽ bị hại nếu chúng ta không chăm sóc chúng? Không, cứ để mặc chúng là đủ, luôn luôn là vậy. Và tất cả rừng cây chúng ta bỏ mặc vẫn sẽ tồn tại bởi vì con người không can thiệp vào. Một hạt giống ẩn chứa trong mình tất cả những thông tin cần thiết để một sinh linh phát triển, môi trường xung quanh có tất cả những gì cần thiết để cái cây lớn lên, nhưng cách chúng phát triển phụ thuộc vào cơ cấu bên trong hạt giống, mọi phản ứng với điều kiện bên ngoài đều đã được định sẵn bên trong mọi sinh vật sống, dù đó là một cái cây, hay một con người.

Và sự hình thành các nội tạng quan trọng, xương và các cơ tủy… là kết quả của một quá trình nội sinh và độc lập, chẳng đòi hỏi bất kỳ sự can thiệp nào của con người, mà ở đó, người mẹ chỉ đơn thuần là cung cấp những tài nguyên cơ bản chứ không đóng vai trò xây dựng. Chúng ta không phải làm gì, chỉ cần đảm bảo rằng nó được cung cấp những gì nó cần. Và tình yêu thương là một trong những thứ quan trọng nhất. Trong thời gian thai nghén, tình yêu đem lại người bạn đồng hành và sự bảo vệ trong môi trường tử cung, sau đó, là sự đụng chạm về thể xác, hỗ trợ về mặt cảm xúc, bộc lộ, cử chỉ, âm thanh, thậm chí là sự thấu hiểu, chấp nhận, tôn trọng và tin tưởng vào người khác. Nếu tình yêu là sự sống còn cho việc phát triển và học hỏi, tại sao chúng ta lại cố gắng giáo dục bằng đe dọa, hình phạt, áp lực và quên hết về tình yêu thương?

 

Phi Tuyết

Bài viết liên quan: