18.5 C
Da Lat
Thứ Bảy, 7 Tháng 3, 2026

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
Trang chủ Blog Trang 207

Chuyện đi giày của người khác

Featured Image: Willy Pogany

 

“Này, cậu sẽ làm gì nếu chỉ còn một ngày để sống?”

Chưa bao giờ người ta hỏi nhau câu này nhiều đến vậy.

Cuộc đời bộn bề trôi vùn vụt, người khóc, người cười, người đau đớn, kẻ mãn nguyện… tất cả đều bị cuốn vào cái guồng máy sôi động nhưng không kém phần khắc nghiệt; cái guồng máy mà đối với người này, nó là thất bại, gian truân, nhưng lại là trái ngọt, là hạnh phúc đối với kẻ khác; cái guồng máy mà nếu ta chậm một bước, ta sẽ chỉ là kẻ đi sau, là thứ đồ bỏ không theo kịp bước tiến chung của cỗ máy hà khắc phát triển như vũ bão; cái guồng máy cuộc sống.

Bất chợt một ngày, người ta chứng kiến sự ra đi của những con người ngày qua còn mang trong mình dòng máu nhiệt huyết của tuổi trẻ, những đứa con xa quê mỏi mòn chờ ngày về đất mẹ, những đứa trẻ mới chập chững, bi bô cất tiếng nói đầu tiên… Người bàng hoàng nhận ra sự vô thường của cuộc sống, và bất chợt cảm thấy bản thân thật bất lực, thật nhỏ bé. Cái thành trì trong người phút chốc lung lay, những giá trị mà lâu nay người theo đuổi bỗng trở nên tầm thường vô nghĩa. Người trở nên nghi hoặc chính bản thân mình, nghi hoặc chính cái guồng máy mà người đã gắn bó từ lúc lọt lòng.

“Rồi ngày nào đó ta đi, và chẳng thể kéo theo chi, bỏ lại đời với đam mê, rồi một mình bước quay về bên kia thế giới
Nhìn lại mình bấy lâu nay, làm nhiều điều ngẫm ra không hay, liệu ngày nhắm mắt xuôi tay, kịp để nói hết với ai rằng xin tha thứ?” – Ưng Hoàng Phúc

Chẳng ai mong ngày mình phải về với bụi đất

Chính những lúc như thế này, người tạm quên đi những lo lắng muộn phiền thường ngày để tìm về sự yên bình nội tại. Ngồi lại và suy ngẫm để tìm về cái bản thể của chính mình, khắc khoải tìm cho ra câu trả lời về mục đích sống của chính mình. “Vì cuộc đời quá ngắn…’’ Quá ngắn cho những mong muốn, cho những dự định, và cho cả những yêu thương. Và cũng quá dài nữa, quá dài đối với những điều mình đã học được về cuộc đời. Và Người khóc, giọt nước mắt tiếc thương cho chính mình, và cho cả guồng máy.

Vì đời đa đoan nên người đa mang

Nhiều người lên tiếng rằng, thông tin, công nghệ càng phát triển, tâm hồn người lại càng tách xa nhau, mối quan hệ cũng biến chuyển theo những cách vô cùng phức tạp, khó ngờ; điều hoàn toàn đi ngược đối với những mục đích khởi thủy của công nghệ thông tin. Con người ngày càng giấu mình đi trong những tâm sự ưu phiền chất chứa. Ai cũng ít nhiều mang trong mình những nỗi âu lo cô độc vô hình. Sự cô đơn tựa như một thứ thuốc phiện, biết là không tốt nhưng vẫn chẳng thể dứt ra nổi. Ai cũng núp sau những lớp hóa trang dày cộp, giờ đây thật khó để tìm cho mình một tâm hồn đồng điệu.

Và vì ai cũng đeo lớp hóa trang của riêng mình để che giấu những giá trị mà xã hội cho là lỗi thời, tất cả đều giấu đi những suy nghĩ sâu thẳm của riêng mình. Vậy là thành ra người không hiểu nổi nhau. Đám con cháu nói người già cổ hủ, không hiểu chuyện. Người già gắn liền lớp trẻ với văn hóa lai căng, tạp nham làm lu mờ văn hóa dân tộc. Kèn trống mỗi bên một phách, người đứng giữa hoang mang rồi lại giấu mình một góc gặm nhấm sự trống rỗng thẳm sâu mong kiếm tìm chút yên thân.

Hôm nay trên báo nói về niềm tin tôn giáo đang bị lung lay bởi những cái sạn không đáng, ngày mai báo lại đăng về những vụ tham nhũng nghìn tỉ, những chính sách trên trời; ngày kia là tin về cô ca sĩ nọ từ bỏ con đường ca hát đang sắp tàn để đi buôn sắc bán hương… Mỗi ngày một chút, những tin như vậy lại góp phần cộng hưởng vào bản giao hưởng buồn đau chất ngất, đẩy cao sự sợ hãi ngày một chồng chất và làm gia tăng sự hoài nghi về Guồng Máy. Những tin đủ làm người phấn khích tựa như nốt giáng trong dàn hợp xướng, chẳng thể đủ lấp đầy hố sâu tâm tưởng.
Và cứ thế. Người tiếp tục sợ hãi. Tiếp tục nghi ngờ. Và rồi lại uể oải đeo cái lớp hóa trang dày cộp lên mặt.

Và chối bỏ yêu thương

Chính những suy nghĩ đa đoan là bức tường vô hình mà chắc chắn chia cắt tâm hồn con người. Chính thói vị kỷ, sự nghi hoặc mơ hồ đã khiến người ta chối bỏ những giá trị chân thiện mỹ. “Sống không vì mình, trời tru đất diệt” Người nghĩ vậy, và cho rằng nếu mình không tấn công, có ngày chính mình là kẻ thất thế của guồng máy. Vậy là lấn át, chà đạp, đè bẹp xuất hiện xen lẫn những yêu thương đùm bọc trước nay vẫn là chuẩn mực.

Chúng ta thường ca thán thế giới không hiểu mình. Thực ta không phải người ta không hiểu mình, mà là chúng ta không chịu hiểu nhau. Cứ núp mình sau lớp hóa trang dày đặc và không chịu biểu lộ suy nghĩ của mình, vậy sao dám đòi người ta phải hiểu? Giấu mình trong ốc đảo đa đoan, sao có thể mong nhận được sự cảm thông? Sự vị kỷ, tự mãn khiến con người nghĩ mình là một cá thể đặc biệt duy nhất, để rồi nhìn người khác bằng một ánh mắt trách móc khinh miệt. Tại sao không thử một lần đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu họ thay vì lên án họ? Muốn người ta hiểu mình, trước hết, ta cần hiểu người đã.

Tôi luôn mang trong mình suy nghĩ, nếu trong các quan hệ xã hội, mỗi người chịu đi giày của người khác, cuộc sống hẳn sẽ dễ thở hơn. Đi giày của người khác, (tiếng Anh: to put oneself in others’ shoes) hay tự đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, giúp chúng ta hiểu rõ căn nguyên hành động của mỗi người xung quanh chúng ta. Ở khía cạnh cá nhân, việc thấu hiểu này khiến ta đồng cảm với mọi người, dần dà lớp hóa trang sẽ dần trôi, mỗi chúng ta sẽ trở về với cái bản ngã trong sạch của mình. Sẽ không còn những hiểu lầm đáng tiếc, đau khổ nghi kị ít nhiều cũng bị dẹp bỏ. Ở khía cạnh khoa học, nó giúp cho các nhà khoa học hiểu được đối tượng nghiên cứu để đưa ra những biện pháp đối phó tốt nhất.

Việc các nhà tâm lý học đặt mình vào bối cảnh sinh trưởng và biến cố cuộc đời của những tên tội phạm giúp họ dự đoán được động cơ của tội ác và đưa ra phương án ngăn chặn, đó chẳng phải là kết quả của việc “đi giày người khác” hay sao? Ngoài ra, trên khía cạnh doanh nghiệp, việc đi giày này giúp nhà đầu tư hiểu được thị hiếu khách hàng và đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất. Người mua được hàng hóa khiến mình thỏa mãn, người bán thu được lợi nhuận, vậy là tiện cả đôi đường. TRÊN HẾT, khi đi giày của người khác, chúng ta tìm lại được cái TÔI của chính mình thông qua việc đi sâu vào thế giới nội tại của những người xung quanh.

Tôi thích nhạc Trịnh. Thích những triết lý sâu xa trong các nhạc phẩm của ông, những triết lý mà có khi đi hết cả đời tôi cũng không thể hiểu thấu. Chúng khiến người thành người hơn, và đời trở nên đời hơn. Trịnh Công Sơn đã từng nhắn nhủ chúng ta hãy yêu nhau đi.

“Yêu nhau đi quên ngày u tối.
Dù vẫn biết mai này xa lìa thế giới.
Mặt đất đã cho ta những ngày vui với
Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời…”

Tôi không dám mong tất cả mọi người yêu nhau, nhưng tôi thực sự mong muốn người hiểu nhau, xóa đi bức tường ngăn cách bấy lâu. Để rồi dù chỉ còn một ngày để sống, ta vẫn mãn nguyện vì đã sống trọn vẹn yêu thương. Ngày cuối cùng để sống, người sẽ ngồi lại trò chuyện, thú tội cho những ngây dại thuở nào, và tiễn nhau đi bằng tâm hồn thanh sạch.

“Ngày xưa khi ta sinh ra chào đời bằng tiếng khóc, vây quanh đón ta là nụ cười niềm vui.
Có lẽ nên sống sao khi trở về với đất, người ta khóc còn ta mỉm cười.” – Ưng Hoàng Phúc (Bước qua thế giới)

 

Quỳnh Giao

Mang “dạ” về nhà

Featured Imaeg: Bo Kage Carlson

 

– Cún ơi…………………!
– DẠ!
– Mang ngay cái “dạ” về đây!

Người Việt Nam vẫn thường chơi chữ như vậy, từ văn thơ bước ra đời sống thường nhật. Chơi chữ là một nghệ thuật độc đáo trong ngôn ngữ nói chung, nhưng nghệ thuật chơi chữ trong tiếng Việt nói riêng – cái cách mà ông cha ta “vui đùa” với từng con chữ – thì không đâu có thể có được. Vì thế mà, đi xa sẽ nhớ!

Thuở bé, mỗi lần mải mê cùng đám bạn trong xóm gào thét chạy nhảy, tôi vẫn thường nghe thấy những cuộc đối thoại ngắn ngủi như vậy.

– Cún ơi…………………!
– DẠ!
– Mang ngay cái “dạ” về đây!

Rồi thì thằng bé/con bé sẽ giả vờ như chưa nghe thấy giọng nói đầy uy lực của mẹ, cố nán lại ăn thua với đám bạn thêm chút nữa, cho đến khi cuộc hội thoại đó lặp lại lần hai, lần ba, với tông giọng và cường độ âm thanh ngày càng tăng. Thằng bé/con bé sẽ vội vàng cắp mông phi như bay về nhà, chịu mấy cái véo tai hay mấy cái tét vào mông kèm theo những câu cằn nhằn không biết đến bao giờ sẽ dứt của mẹ.

Những hình ảnh quen thuộc đó, câu nói quen thuộc đó, suốt 18 năm đầu đời đã ăn sâu vào ký ức tôi. Vậy mà vài năm rời quê hương, lên Hà Nội nhập học, ra trường, đi làm, từ lúc nào ký ức dần được phủ một lớp bụi mờ. Có lẽ do môi trường, do thời thế, tôi không còn được nghe thấy câu nói quen thuộc đó nữa.

Ở thành phố, trẻ con mải học và phải học. Lịch học của đứa nào cũng dày đặc mỗi ngày. Các bậc phụ huynh thì mải bươn chải làm ăn, bận tối mặt mũi với họp hành, liên hoan, gặp gỡ đối tác… Người thành phố quá bận rộn, ra đường phải nhìn thẳng, vào phòng phải nhìn việc. Người thành phố trang trọng, lịch thiệp, đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên. Kể mà có một con ruồi bay qua chắc cũng đủ làm không gian xao động, nói gì đến việc bỗng dưng nói một câu với âm lượng lớn.

Thời thế thoáng chốc cũng thay đổi. Cái thời mẹ đứng ở nhà phải gào tên thằng con đang ỏm tỏi tận đầu ngõ, bắt nó “mang cái dạ về” đã được thay thế bằng ipad, iphone. Cách nhau 500m, 50m, 5m hay thậm chí ngồi ngay cạnh nhau, người ta vẫn dán mắt vào màn hình điện thoại, tin nhắn đến tin nhắn đi, game hay nhạc hot,… Mọi lời nói đều trở thành thừa thãi, vì nói cũng chẳng ai nghe. Những thứ “suồng sã” xưa cũ, vì thế cũng mất dần đi.

Đã rất nhiều lần trong 5 năm xa nhà, tôi đứng trên ban công nhìn về phía chân trời, lắng nghe tiếng xe máy nườm nượp, tiếng hò hét chửi rủa từ miệng của những cô bé, cậu bé mũi còn chưa vắt sạch nhưng vẫn cố gắng biến mình thành người lớn mà nhớ da diết tiếng cha mẹ nơi quê nhà.
Phần lớn khi bước chân lên thành phố, là xác định từ đây sẽ xa gia đình mãi mãi. Dù vẫn nhận trợ cấp, cuộc sống cũng tự coi như đã tự lập. Rồi học hành, công việc, tình yêu, sở thích mỗi ngày lại cuốn con người ta đi xa hơn. “Mang ngay cái dạ về đây” dần được thay thế bằng: “Hôm nay có về không con?” “Tuần này có về không con?”… Và những cuộc điện thoại ít dần, ngắn dần, chỉ có nỗi nhớ của cha mẹ ngày một đầy lên, ngày một dài ra…

Trong cuộc đời này, chúng ta còn được gặp cha mẹ bao nhiêu lần nữa? Còn bao nhiêu lần để “mang cái dạ” về, nơi cha đang ngóng, mẹ đang trông. Ở đó, qua mỗi ngày mắt mẹ mờ đi một chút, tóc cha bạc thêm một chút, da mẹ nhăn thêm một chút,… mà vẫn kiên nhẫn đợi chờ.

9 tháng mười ngày nâng niu giữ gìn, vui mừng lo lắng, mang nặng đẻ đau. Cả cuộc đời nhọc công dạy dỗ, tảo tần nuôi nấng dạy bảo. Tất cả chỉ mong ta được thành NGƯỜI.

Về đi, “cái dạ” thương yêu… Cha mẹ vừa gọi. Cha mẹ đang chờ…
Về đi.
Hôm nay, tôi mang “dạ” về nhà…

 

Nguyễn Thị Thương

Quá nhiều bí mật

Featured Image: Wikipedia Commons

 

Hôm nay anh gặp một đôi bạn người Pháp, bọn anh kể chuyện cho nhau nghe. Họ kể về ba tuần của họ ở Việt Nam, về những cảnh quan tuyệt đẹp phủ rất nhiều rác rưởi, về việc họ vừa sợ vừa thích khi bị nhồi lên xe đò đầy gà và xe máy. Anh kể về những điều anh đang làm, về cách người Việt Nam đang sống, về em. Họ kể về châu Âu, về việc thật khó khăn khi là một đứa trẻ lớn lên ở lục địa già – cùng với nỗi cô đơn, sự lên ngôi của đồng tiền và sự biến mất của các giá trị cốt lõi. Anh kể về nỗi sợ hãi ăn sâu của một dân tộc vừa ra khỏi hàng nghìn năm chiến tranh, và sống cạnh một nước lớn côn đồ quỷ quyệt. Họ kể về nỗi căm hận và sợ hãi nước Nga tương tự như thế ở châu Âu. Và rồi bọn anh cùng nói về nỗi sợ hãi.

Nỗi sợ hãi là một thứ do các chính phủ tạo ra để dễ bề điều khiển dân chúng. Mỹ muốn gây chiến với Iraq để tạo tiền lệ cho học thuyết “chiến tranh phòng ngừa” của mình, và họ tạo ra vụ 11/9 – giết hại dân chúng và phá hủy chính đất nước mình – để làm dân chúng khiếp sợ, rồi đổ tội cho một mục tiêu thực ra là vô cùng yếu ớt. Các vấn đề nhập cư và Hồi giáo ở châu Âu được thổi phồng lên thành những mối đe dọa khủng khiếp. Ở châu Á, người ta tạo ra các sự kiện – như sự kiện giàn khoan HD981 vừa rồi – để kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa và làm tăng nỗi sợ chiến tranh trong lòng dân chúng. Tất cả những điều này để làm gì? Để dân chúng luôn trong tình trạng bất ổn và để yên cho đám người phía trên mặc sức làm điều họ muốn.

Có thể em không biết, nhưng tất cả những điều này có liên hệ mật thiết đến em. Họ muốn em sợ hãi. Họ muốn em cắm đầu làm việc (và trả thuế, tất nhiên). Họ muốn em thù hận. Họ muốn em trở nên vô cảm và cô độc. Nếu em đang ở một trong hoặc tất cả các tình trạng trên, em đang làm chính xác vai trò của một nô lệ.

“Vậy em cần phải làm gì?” – Em sẽ hỏi.

Noam Chomsky sẽ trả lời thay anh một phần, bằng đoạn này trong cuốn “Tham vọng bá quyền”:

“Câu hỏi thực sự của mọi người, tôi nghĩ thế, là: “Tôi có thể làm gì để chấm dứt những vấn đề này, nhưng phải nhanh chóng và dễ dàng cơ?” Tôi đã đã tham gia một cuộc biểu tình, và chẳng có gì thay đổi cả. Mười lăm triệu người tuần hành trên đường phố hôm 15 tháng 2 năm 2003, thế mà Bush vẫn lao vào chiến tranh; thật là vô vọng. Nhưng sự đời không diễn ra như vậy được. Nếu muốn thay đổi thế giới, ta phải ở đó ngày này qua ngày khác, làm những việc nhàm chán đơn điệu chỉ cốt để có thêm được một vài người nữa cùng quan tâm đến một vấn đề nào đó, xây dựng tổ chức lớn hơn được một chút, tiến hành hoạt động tiếp theo, nếm trải tâm trạng bức xúc vì vẫn chưa đạt được như mong muốn, và cuối cùng mới đến được một nơi nào đó.

Đấy, thế giới thay đổi theo cách như vậy. Đó là cách chúng ta đã chấm dứt chế độ nô lệ. Đó là cách chúng ta đã giành được nữ quyền. Đó là cách chúng ta đã giành được quyền đầu phiếu. Đó là cách chúng ta đã có được chính sách bảo vệ người lao động. Bất kỳ thành tựu nào cũng phải trải qua những nỗ lực như thế, chứ không phải nhờ vào những người chỉ đi biểu tình một lần rồi bỏ cuộc hoặc cứ bốn năm lại đi bỏ phiếu một lần rồi lại chỉ ngồi nhà.”

Có thể em vẫn thấy khó khăn, bởi đúng là Chomsky đang tập trung vào các hoạt động chính trị và bởi ông đang ở tâm thế của một người có điều kiện thuận lợi để làm việc đó. Nhưng đừng để ý nhiều đến các ví dụ của ông, hãy tập trung vào tinh thần bên dưới. Tinh thần đó nói rằng, bất kể điều gì em chọn làm, em cần phải chủ động làm một cách kiên nhẫn, bền bỉ, để bảo vệ những giá trị mà em cho là đúng. Có quá nhiều cách để có thể làm cuộc sống của em và những người xung quanh em tốt hơn, chính trị chỉ là một trong số đó. Và cho dù em làm gì đi nữa, hãy giữ cho mình một tư cách độc lập, hãy giữ mình ở bên ngoài quyền lực, quyền lợi. Đó là điều Chomsky đã làm, Fukazawa đã làm, Gandhi đã làm. Nếu em muốn thực sự tự do và tỉnh thức, đó là điều em cần làm.

Thế, và nếu em vẫn còn hơi sợ, anh sẽ kết thúc bằng một câu anh đọc được hôm nay trên bìa một 8tracks playlist:

“Not to spoil the ending for you, but everything is going to be okay.”
(Không phải cố tình tiết lộ đoạn kết cho em đâu, nhưng cuối cùng rồi mọi thứ sẽ ổn thôi mà.)

Yêu em,

 

But Chi

Quá khứ và những chuyện chưa kể…

Featured Image: Lauren Friedman

 

Một trong những điều ước muôn thưở của con người là muốn thời gian ngừng trôi. Nhưng có lẽ điều này sẽ không xảy ra được…

Thời gian có lẽ là một khái niệm vô cùng trừu tượng. Xét trên phương diện chủ quan thì nhắc đến thời gian thì con người ta sẽ nghĩ ngay đến cái đồng hồ. Nhưng đó không phải tất cả, rộng hơn nữa đó là quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó chắc là những gì khách quan và “bình dân” nhất để nói về thời gian. Hôm nay tôi chọn nói về quá khứ!

Quá khứ là gì? Đơn giản nó là những gì đã xảy ra trong cuộc sống, những gì mình trải qua và không thay đổi được nữa. Đó có lẽ là những gì cơ bản nhất để nói về khái niệm quá khứ. Chúng ta hãy thành thật với nhau, tôi dám chắc là tất cả chúng ta đều đã từng có những điều đã làm trong quá khứ khiến chúng ta nuối tiếc về nó. Tại sao bạn lại có sự nuối tiếc ở đây? Như ở phần khái niệm ở trên thôi, đó là bởi vì bạn không thể thay đổi được điều đó. Chính vì không thay đổi được nên bạn nuối tiếc.

Vậy đã bao giờ khi ở một mình, bạn nghĩ về những điều đã xảy ra hay chưa? Ngày hôm qua mình đã làm gì? Tháng trước mình đã làm gì? Hoặc thâm chí 10 năm trước mình đã làm gì? Bạn có nhớ những điều đấy không? Muốn làm lại những điều đấy không? Tôi tin là vài điều bạn muốn trải nghiệm thêm một lần nữa nhưng kể cả có cơ hội được trải nghiệm một thứ y hệt thì cảm giác cũng sẽ không bao giờ được như lần mà bạn trải qua trong quá khứ đấy. Tôi luôn nghĩ rằng mọi sự kiện trong cuộc đời chúng ta có những mắt xích gắn kết với nhau, mọi điều chúng ta làm đều mang đến kết quả và dẫn tới một sự việc khác.

Tôi rất sợ nghĩ về quá khứ. Nhiều lúc giật mình nghĩ tới việc đã là một thằng học sinh lớp 11, nhớ lại những ngày học lớp 1 quả thực lạnh gáy. 10 năm trôi qua, muốn gặp lại cô giáo chủ nhiệm, những thằng bạn thân đi học thêm cùng xong còn ngủ trưa lại nhà cô. Cô nuôi cho ăn uống đầy đủ mỗi chủ nhật hàng tuần. Những hôm hứng lên cho lại cho chơi chứ chả học hành gì, chiều về vẫn khoe với bố mẹ là học được thêm nhiều kiến thức. Cô giáo lớp 1 cũng là người duy nhất tôi luôn có những bông hoa tặng cô vào mỗi dịp 20-11 suốt từ những ngày đầu theo học cô đến bây giờ. Thực sự rất nhớ và muốn được quay trở lại thời gian để cảm nhận những món ăn cô nấu vào mỗi bữa trưa đó, cảm nhận cái lớp học thêm toàn con trai đó, gác chân lên người nhau mỗi giờ ngủ. Nhưng không được, không bao giờ được nữa rồi…

Nhớ lại ngày đám tang ông ngoại, thấm thoát cũng đã được 3 năm từ ngày ông từ giã cõi đời, để lại bà ngoại cùng đàn cháu khóc hết nước mắt vào ngày hôm đó. Có gì đó mong manh… Nhớ nụ cười hiền hậu của ông mỗi lần ông phát oản cho mỗi đứa, điệu cười thả ga khi ông thắng những trận chắn với hàng xóm. Vậy mà giờ muốn cũng không được nhìn thấy ông nữa..

Hay nhiều khi nghĩ về những con người đã từng được gặp và làm việc chung, có thể khoảng thời gian ở bên họ rất ngắn ngủi nhưng cũng để lại nhiều điều đọng lại. Giờ họ đang ở đâu?? Họ làm gì? Liệu còn cơ hội gặp lại họ không?

Hay là những người gắn bó đã lâu nhưng tình cảm giờ đây với họ thì lạnh nhạt, không sâu đậm như trước, có gì đó xa cách và rất chi là khách sáo với nhau? Còn đâu những ngày tháng tình cảm gắn bó đó?

Tất cả đã trôi vào quá khứ… Muốn lấy lại cũng không được nữa rồi. Bạn có tiếc không?

Quá khứ cũng là điều mà nó rất rõ ràng và không mông lung như tương lai, điều mà chưa ai đoán định được? Nay sống mai chết biết đâu mà lần… Nó rõ ràng đề ta có thể học từ nó để rồi khi có cơ hội gọi là ngày mai ta sẽ không mắc phải những sai lầm khiến ta nuối tiếc trong quá khứ. Và với những người anh em, bạn bè, hãy trân trọng từng phút giây được ở bên họ, bởi biết đâu sau này những con người đó phiêu bạt khắp nơi mà có thể ta sẽ không bao giờ có cơ hội gặp lại họ. Hãy dành cho họ những tình cảm từ sâu thẳm trái tim cho dù đó có là yêu hay ghét. 😉

Thôi có lẽ xin dừng tại đây! Cảm ơn vì đã đọc hết.

Thời gian nhanh một cách đáng sợ đấy, nó là hữu hạn và hãy sử dụng một cách hợp lý!

 

No Name

Rớt đại học, lùi lại hay bước tiếp?

Featured Image: Richard Gaston

 

Đại học từ lâu đã là ước mơ của biết bao nhiêu thế hệ học sinh và đặc biệt là học sinh cuối cấp, sau 12 năm “dùi mài kinh sử” đều ao ước có một tấm vé bước vào cánh cổng của trường đại học.

Thế nhưng để vào được đại học không phải là điều dễ dàng gì, nó không chỉ bao hàm trong kiến thức, kỹ năng mà còn phải có cả sự may mắn nữa. Và tất nhiên rớt đại học là điều không ai mong muốn cả. Bản thân tôi cũng như vậy.

Gia đình tôi bảo tôi nên thi lại thế nhưng lúc ban đầu tôi còn chần chừ không nói gì… Bởi lẽ tôi đã quá sợ năm 12 này, đối với một đứa chưa bao giờ cố gắng thật sự như tôi, việc học thi nó rất là ghê gớm. Thế nhưng suy nghĩ lại tôi cho rằng ba mẹ tôi đã nói đúng. Tôi nên thi lại. Và tôi biết một năm khi thi lại ấy hoàn toàn không hề đơn giản một chút nào. Tôi sẽ phải đối mặt với những ánh mắt tò mò, cười chê của mọi người và chắc hẳn ít nhiều cũng cảm thấy bị mặc cảm với đám bạn.

Nhưng tôi quyết định không chọn chạy trốn mà sẽ chọn đối mặt với tất cả bởi lẽ việc rớt đại học ít nhiều cũng là do lỗi của tôi, là bởi vì tôi chưa cố gắng thật sự, tôi đã từng coi nhẹ việc thi đại học, tôi nghĩ thi đại học cũng sẽ đơn giản như những kỳ thi khác thôi.. Và rồi tôi sẽ dễ dàng qua được thôi… nhưng tôi đã lầm, thi đại học hoàn toàn không đơn giản như tôi nghĩ mà đó là một đấu trường “khốc liệt” mang tính cạnh tranh cao. Có lẽ đây cũng là một bài học đáng nhớ cho tôi, một bài học kinh nghiệm, bài học về cuộc đời không hề đơn giản như tôi vốn nghĩ.

Rớt đại học… chắc hẳn nhiều bạn cũng đang có tâm trạng giống như tôi. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta nên chọn lạc quan bước tiếp hơn là cứ ủ rũ ngồi buồn không tiếp xúc với bất cứ ai. Như thế thì không khác gì việc tự hành hạ bản thân và làm khổ mọi người. Hãy cứ yêu đời mà sống tiếp, tuổi trẻ của chúng ta không thế bị mài mòn vì những vấp ngã ban đầu này được. Vấp ngã thì ta hãy chọn làm lại. Điều quan trọng nhất là tôi và các bạn phải xác định được hướng đi cho mình, chấp nhận làm lại nhưng phải biết được mình nên làm gì và làm gì sẽ tốt cho mình. Bởi lẽ cuộc đời là của chúng ta, sống là sống cho bản thân chứ không phải sống cho người khác. Một năm tới nó sẽ không quá dài nhưng cũng không quá ngắn, nó đủ để ta có thể nhận ra được nhiều điều, hãy lập ra mục tiêu và quá trình cần phải thực hiện trong năm tới để ta không bị lãng phí quãng thời gian đẹp nhất của tuổi trẻ.

Với riêng tôi thì tôi chọn đầu tư vào việc học ngoại ngữ, bởi không sớm thì muộn Ngoại ngữ sẽ rất quan trọng đối với tôi sau này, và biết đâu ngoại ngữ sẽ giúp thay đổi cuộc đời tôi sang một trang mới tích cực hơn, tuyệt vời hơn trong những năm sắp đến. Có thể tôi cũng sẽ đăng ký vào những chuyến đi phượt để được học hỏi, được trải nghiệm thêm nhiều hơn. (Điều này tôi đã đọc được trên một trang mạng rằng: Học sinh Mỹ thường dành ra một năm trước khi vào đại học cho những trải nghiệm mới-những trải nghiệm không ít thì nhiều sẽ làm cho nhận thức của chúng ta được nâng lên một tầm cao mới. Tôi tin chắc là như vậy!) Họ làm được thì chúng ta cũng sẽ làm được.

Tôi là vậy, còn bạn thì sao?

 

Hải Hà

Cho ngày nỗi nhớ không trở lại

Featured image: Louise

Em nhặt mùa thu trên cánh lá
có gì ở đó không?
chỉ mùa qua trong lòng người rất thật
gió lùa qua lá nao lòng

em gọi mùa thu về rối tóc
ngày buồn như cánh chiêm bao
cơn mưa xanh non không chờ đợi
thản nhiên ngó trắng mùa rằm

đêm vỡ từng mảnh trong lòng tay
rưng rưng gió ngày áp thấp
phiến dương cầm loang dài
nụ cười buồn đẫm mưa mùa trước.

em vẽ mùa thu màu mực nước
nỗi đau lộng lẫy bàn tay
mảnh thời gian màu tàn thuốc
cuồng dại xóa trắng ngày

đêm tan từng sợi trên màu mắt
sáng nay rớt xuống hiên nhà
nỗi nhớ có hóa thành nhánh khói
về tạ tội với mùa qua?

 

Phương Uy
3.8.14
ngày gió và áp thấp

Tại sao chúng ta cần nhà văn?

Featured Image: Ellen

 

Tôi mới đọc trên tờ The Sydney Morning Herald bài viết của Elizabeth Farrelly với nhan đề “Tại sao chúng ta cần nhà văn?” (Why we need writers). Bài viết, từ một nhà báo, thành thực mà nói, không có gì sâu sắc. Nhưng tôi bị mê hoặc bởi cái nhan đề. Hình như, từ lâu, tự trong tâm thức, tôi cũng bị ám ảnh bởi câu hỏi ấy. Tại sao chúng ta cần nhà văn?

Cần, dĩ nhiên, không phải để giải trí. Đã đành, đọc sách cũng là một cách giải trí phổ biến, và khá lành mạnh (trừ những loại sách quá nhảm nhí). Nhưng đó không phải là lý do chính để người ta đọc sách. Với sự phát triển của chủ nghĩa tiêu thụ và của các kỹ thuật liên quan đến giải trí, người ta có thể tìm vui bằng vô số cách thức khác nhau, từ việc xem ti vi, nghe nhạc, chơi game trên internet hoặc tán dóc với bạn bè trên các diễn đàn mạng. Người ta không nhất thiết phải cắm cúi và cặm cụi đọc những cuốn sách dày cộm và nặng trịch hàng năm bảy trăm trang. Không, mục tiêu giải trí, tuy có thật, nhưng chắc chắn đó không phải là mục tiêu chính.

Tôi cho lý do chính khiến chúng ta cần các nhà văn là vì nhu cầu nhận thức hơn là giải trí, hoặc nếu muốn gọi là giải trí thì đó là một thứ giải trí “cao cấp” của đầu óc: Qua việc đọc sách, người ta được ngao du vào một thế giới khác, thế giới tưởng tượng của các nhà văn và nhà thơ. So với phim ảnh, thế giới ấy đa dạng, đa sắc và đa tầng hơn, ở đó, chúng ta không những nhìn thấy con người, những sự tương tác giữa con người cũng như các diễn biến quanh co phức tạp của cuộc sống, mà còn nhìn thấy được những chuyển biến tinh tế bên trong của những con người ấy.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta giao tiếp với người này người khác, kể cả những người thân yêu nhất của mình, nhưng chúng ta không bao giờ “đọc” được những ý nghĩ hoặc cảm xúc thầm kín của họ. Chúng ta chỉ cảm, và, khi cần, đoán, nhưng không thấy. Làm sao bạn có thể biết được những người sắp chết nghĩ gì; những người mới bắt đầu chớm yêu nhau cảm xúc ra sao? Trong đời sống, hầu như không ai kể cho chúng ta nghe những điều ấy cả. Tất cả những điều ấy chỉ có thể thấy được trong văn chương.

Chính vì có thể đọc được thế giới bên trong của con người như thế, lâu nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng văn chương giúp chúng ta hiểu rõ con người một cách sâu sắc hơn. Thực tình, tôi không dám chắc là những người đọc thơ văn nhiều sẽ am tường tâm lý nhân loại hơn những người ít đọc. Tuy nhiên, tôi tin chắc một điều: Việc đọc thơ văn nhiều sẽ giúp chúng ta hiểu được tâm hồn của một thời đại hoặc một thế hệ hơn. Cũng có thể nói, cách khác, một thời đại không có văn chương là một thời đại không có tâm hồn.

Cứ tưởng tượng giai đoạn 1930-45 mà không có tiểu thuyết Tự Lực văn đoànThơ Mới thì sao nhỉ? Thì chúng ta không biết gì về các diễn biến trong tâm hồn và ý thức của thế hệ ấy cả, chứ sao? Nhờ tiểu thuyết và thơ thời ấy, chúng ta biết được, giữa cơn đại suy thoái trên thế giới và Thế chiến thứ hai, ở Việt Nam, đã có sự xuất hiện của ý thức cá nhân chủ nghĩa và những khao khát về tình cảm gắn liền với ý thức ấy, từ những khao khát về tình yêu và hạnh phúc đến những khao khát khẳng định bản sắc cá nhân.

Trong mấy thập niên vừa qua, nhất là những năm đầu sau phong trào đổi mới tại Việt Nam, nếu không có những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, làm sao chúng ta có thể thấy được những đổ vỡ trong quan hệ giữa người và người trong xu hướng thương mại hoá; nếu không có các truyện ngắn của Phạm Thị Hoài, làm sao chúng ta thấy được những tác động dữ dội của xu hướng đô thị hoá đối với tính cách của con người cũng như quan hệ giữa họ với nhau; nếu không có các cuốn tiểu thuyết của Dương Thu Hương, làm sao chúng ta thấy được sự đổ vỡ niềm tin của cả một thế hệ từng hy sinh trong cuộc chiến tranh khốc liệt trước năm 1975?

Cũng vậy, sẽ không ai có thể hiểu được cộng đồng Việt Nam lưu vong sau năm 1975 nếu không đọc thơ của Cao Tần, Thanh Nam, Mai Thảo hay tuỳ bút của Võ Phiến và Nguyễn Bá Trạc: Tất cả đều cho chúng ta thấy không phải chỉ có những con số vô hồn của những người vượt biên, những nguy hiểm mà họ phải gánh chịu từ bão tố đến hải tặc mà còn cả những tâm trạng ngỡ ngàng, hoang mang của những người bỗng dựng bị đẩy tạt ra ngoại quốc, sống trong một môi trường hoàn toàn khác, từ cấu trúc xã hội đến ngôn ngữ và văn hoá.

Còn bây giờ? Hằng ngày chúng ta chứng kiến bao nhiêu biến cố, từ những biến cố nhỏ nhoi trong xã hội đến những biến cố lớn lao của đất nước; những biến cố ấy ít nhiều đã được nhiều người ghi chép và phân tích. Nhưng còn tâm trạng chung của mọi người khi đối diện với những biến cố ấy ra sao? Câu hỏi ấy, theo tôi, chỉ được trả lời khi có một cây bút thật tài hoa xuất hiện.

Nói một cách tóm tắt, có nhiều lý do khiến chúng ta cần nhà văn và nhà thơ. Ở đây, tôi chỉ tập trung vào một lý do chính: Chúng ta cần họ vì, qua tác phẩm của họ, chúng ta mới có thể nhìn thấy được tâm hồn của một thời đại, một thế hệ, trong đó có chính chúng ta. Không có họ, thời đại ấy, dù có nhiều sóng gió và bão táp đến mấy vẫn chỉ là một vùng quên lãng.

 

Nguyễn Hưng Quốc
Via VOA tiếng việt

Nếu bạn thấy một người không hoàn hảo

Featured Image: Wikipedia Commons

 

Nếu bạn thấy một người không hoàn hảo
Bạn sẽ nhìn họ như thế nào?
Ánh mắt của bạn có chứa những mai mỉa?
Bạn có những suy nghĩ ra sao?

Nếu bạn thấy một người không hoàn hảo
Hãy hỏi họ: “Tôi có thể giúp gì cho bạn không?”
Bạn sẽ thấy những nụ cười của họ
Lời cảm ơn xuất phát tự đáy lòng…

Nếu bạn thấy một người không hoàn hảo
Bạn hãy nở một nụ cười thật tươi
Đó là một món quà vô giá
Mà bạn đã trao tặng cho một người…

Nếu bạn thấy một người không hoàn hảo
Có khi nào bạn tránh họ thật xa?
Vậy xin hãy xem lại con người bạn
Xem bạn có hoàn hảo hơn người ta..?

 

Một Đời Quét Rác

[BDTT8] Truyện ngắn: Cánh Đồng Bất Tận – Nguyễn Ngọc Tư

Featured Image: Bìa sách “Cánh Đồng Bất Tận”

 

Càng lớn, cái thói quen mua truyện vì sở thích, ngồi ôm truyện hàng giờ trong hàng truyện của tôi cứ mất dần. Bắt buộc lắm mới ra hàng mua mấy cuốn sách liên quan đến ngành học về để tu luyện, trong lúc mua sách cũng chẳng buồn lượn lờ xem trên kệ có truyện gì thú vị không, cầm mấy cuốn sách ngành học đi thẳng tới bàn thu ngân trả tiền và phóng ra lấy xe. Tác phong nhanh nhẹn như vậy vì tự bản thân thấy mình đang bận nhiều thứ, bận lên mạng xem hôm nay ở  rạp chiếu phim gì,  nhắn tin rủ mấy con bạn đi coi. Đến rạp rồi lại thấy cảnh đứa nào cũng bận cầm điện thoại, lướt web, check in. Xem xong phim, chê, khen vài câu, tất cả châu đầu vào làm bô ảnh đăng lên facebook, rồi ra về.

Cái gì trên mạng cũng có, lại hấp dẫn nên tôi dần quên sở thích đọc truyện, cũng tại một vài lần lướt mạng xem có truyện gì mới xuất bản, thấy mấy tên truyện rất hay, bìa đẹp, tựa đề trích rất thú vị, vậy là ra hiệu sách khuân mấy cuốn về. Rồi lại để đó, lên mạng. Không phải không chịu đọc mà thấy cách viết, nội dung không phù hợp với bản thân, không thu hút được mình và tôi đưa ra kết luận với bản thân: Sách “hot”, hấp dẫn với số đông chưa chắc phù hợp với mình.

Đối với tôi truyện giống như một người bạn, phải có cơ duyên, sự đồng cảm và bản chất giống nhau thì mới có thể gặp và gắn kết với nhau. Cơ duyên đưa tôi đến với “người bạn”: Tập truyện ngắn: Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư đó là những lùm xùm xung quanh bộ phim “Cánh đồng bất tận” của đạo diễn Nguyễn Phan Quang được đăng tải trên khắp trang mạng, những tin mổ xẻ quanh việc tác phẩm động đến chính quyền (khi tác phẩm được nhận nhiều giải thưởng trong nước, cũng như nước ngoài cũng chẳng thấy báo chí viết nhiều đến thế). Vậy là quyết định ra hiệu sách rước về, chỉ là để xem những cảnh “nóng” “mát mẻ” trên phim được tác giả miêu tả trên trang giấy ra sao, và tác giả đã viết những gì mà đến cả chính quyền cũng phải lên tiếng.

Đọc truyện ngắn đầu tiên trong tác phẩm…, tất cả những ngôn từ tôi đọc trên mạng, những bàn cãi, tranh luận sôi nổi xung quanh những vấn đề lãng xẹt của tác phẩm tôi đều để lại phía sau, lãng quên trong nhẹ nhõm, xúc động,…

“Cải ơi”- tiếng gọi xé lòng của ông Năm Nhỏ, muốn một lần được nói với đứa con riêng của vợ đã bỏ nhà đi được 20 năm, và cũng là 20 năm ông đi phiêu bạc, làm đủ nghề thuê mướn để tìm con. Kiếm tiền, tìm đủ mọi cách để lên đài, lên truyền hình nói đôi câu: “Cải ơi, ba là Năm nhỏ nè, nhà mình ở Cỏ cháy đó, nhớ không? Về nhà đi con, tội má con vò võ ở nhà một mình. Con là trọng chứ đôi trâu có nhằm nhò gì…Về nghe con, ơi Cải…” câu nói khiến ông rơi nước mắt, nghẹn ngào mấy chục năm như vậy mà nhà đài cười, họ cắt, ông già “nhép miệng một cách tuyệt vọng”.

Thiết nghĩ, có nhiều người ngày nào cũng lên truyền hình nói theo kịch bản, nói cái người khác viết, người khác nghĩ, nói những lời đầu môi vậy mà được phát hoài, còn những lời nói chân chất, thật lòng, thật đến xót xa thì bị cắt, cắt hết.

Ông Năm nhỏ trụ ở ngã ba Sương để tìm con, còn Diễm Hương-cô tiếp viên quán nhậu thì: “Sao tui thù con nhỏ đó quá trời, có nhà mà bỏ, có cha mẹ mà không thèm về…, còn tui, người ta đã quăng quật ở đây mười tám năm, mà không ai trở lại tìm, tui chờ hoài..”

Tôi đã khóc mỗi lần đọc đến đoạn ông Năm nhỏ gọi “Cải ơi”, mỗi lần mường tượng cảnh ông cười “héo queo héo quắt” và khuôn mặt “lạnh trơ, bình thản, vui buồn không ra” của Diễm Hương.

“Đời nào chẳng có bánh đúc có xương, đời nào chẳng có cha dượng thương con vợ.” Tôi đã muốn gọi ngay cho bố tôi lúc đó, chỉ để hỏi, để kể chuyện, để nghe giọng bố mẹ, để bố mẹ biết tôi vẫn tốt, và nhớ bố mẹ đến chừng nào. Vậy là ngày nào tôi cũng gọi hoặc nhắn tin về cho bố mẹ, thay vì nhắn và gọi điện buôn với bạn bè. Tôi chú ý đến mấy tờ rơi tìm người thân được dán trên tường hơn, nhìn thấy chúng, tôi luôn có một nỗi day dắt trỗi dậy, tôi ghi nhớ thông tin, khuôn mặt của người thất lạc, thay vì mấy tin quảng cáo, sale đủ thứ trên khắp đường phố, mặt báo.

Những truyện ngắn trong tác phẩm dẫn tôi từ cuộc sống này đến cuộc sống khác, từ con người này đến con người khác, từ cái Tình này đến cái Tình khác. Để rồi những cảm xúc, những thương yêu cứ len lỏi vào tâm hồn mình.

Cái Tình của Trưởng ấp Tư Mốt đối với mảnh đất, người dân Cù lao Mút Cà Thìa. Ông viết lên tường trạm xá “Cương quyết chỉ chết vì già”, ông nghĩ rằng có thể dùng cái tình thuần như cây cỏ, sự quan tâm của mình để níu kéo nhân viên y tế ở lại với trạm “dù trong tâm ông đã vẫy tay để chào xa mãi”.

Chất văn của Nguyễn Ngọc Tư giống như những làn gió, chúng cứ bay, chúng hòa quyện, rồi lan tỏa, để người đọc trải lòng mình. Những làn gió lật giở từng trang giấy và dẫn tôi tới với “Cánh đồng bất tận”. “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước…những cánh đồng vắng bóng người..” Những khắc khoải, những lo lắng về hiện thực và tương lai, những tình cảm ngọt như nước sông, tâm hồn thuần phác như đồng lúa lại là những điều dễ bị chà đạp và ép đến bước đường cùng nhất, để rồi họ bơ vơ, chếnh choáng, vô vọng, để rồi tình thương lại trở lại để bao bọc lấy những đớn đau.

Đọc truyện giống như đang đi đến từng mảnh đất, lúc lang thang trên những con phố, xóm nhỏ, có khi lại tìm đến những hòn đảo, cù lao, rồi lại lênh đênh trên những chiếc ghe qua những con kênh, nghe nỗi nhớ tràn về, nghe những nỗi day dắt từ những cuộc tình, chứng kiến cuộc sống của những người bình dân, để đôi khi mình thấy mình trong đó, và ngờ ngợ hình như mình đã từng gặp những người như vậy nhưng mình lướt qua họ nhanh quá.

Thấy rằng tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư không đao to búa lớn, chỉ là những cảm xúc mình chôn giấu, mình không biết diễn tả, mình lãng quên, để rồi đôi khi bàng hoàng nhận ra nó đang biến chất, tưởng là mình đang bắt đúng nhịp với xu thế nhưng có những lúc cảm xúc chới với, chẳng biết bấu víu vào đâu, đâu mới là đạo đức, tử tế, là mình, là Con Người. Tác giả dường như cũng trăn trở và đặt những câu hỏi, những dấu ba chấm để tìm lại những cảm xúc, để thấu hiểu mình, thấu hiểu người.

“Dường như người ta vẫn yêu, đến mức không thể giằn dỗi, nặng lời. Và mình thì chưa bao giờ yêu đến như vậy?!” “Ngày ngày kẹt giữa đám đông, chen chúc trên những con đường nghịt người… Lúc ấy, tôi có một cảm giác kỳ lạ chỉ mình trên đời này chỉ một mình…Chẳng ai là tri âm, chẳng ai cả…” “Mà hơi mắc cười, tình yêu, ai cũng khoái, sao cha nội này chạy trốn?!”  Hỏi vậy thôi, buồn vậy thôi, ngây ngô vậy thôi. Để rồi vẫn thương, vẫn nhớ, vẫn trông ngóng, chờ đợi, vẫn cố sống sao cho tốt đời đẹp đạo.

Những câu truyện ngắn mà ý nghĩa thì dày quá trời. Cảm hứng về những con chữ lại quay trở lại với tôi, thấy nó sống động làm sao, chúng như đang nhảy nhót, rồi có lúc chúng đứng lặng nhìn chằm chằm vào mắt tôi và hỏi: Hiểu tôi không sao đọc hoài. Phải hiểu thế nào đây? Tôi chỉ thấy nội tại mình đang thay đổi, tôi sống chậm hơn, lắng nghe hơn, cố gắng thông cảm với người khác hơn, học cách chia sẻ. Tôi đang cố gắng hiểu bạn.

 

Nguyễn Ngọc Bích


Cuộc thi hân hạnh được tài trợ bởi ThachPham.com (website hướng dẫn tạo blog), Phi Tuyết, hai thành viên giấu tên, Karmi Phuc (developer chính của THĐP)

Các bài viết dự thi tháng 8

Chảy máu chất xám, trách nhiệm thuộc về ai?

Featured Image: Milo Baumgartner

 

Sau khi xem màn “leo dốc” ngoạn mục của em Nguyễn Trọng Nhân kết thúc, dư luận đã dấy lên câu hỏi, 13 nhà vô địch đường lên đỉnh Olympia giờ ở đâu? Câu trả lời, chỉ duy nhất Lương Phương Thảo – nhà vô địch năm thứ 3 của giải đang sống và làm việc tại Sài Gòn, còn 12 người kia đang sống, và cống hiến cho một trong những quốc gia văn minh và hiện đại nhất thế giới – Australia.

Đáp án của câu hỏi thứ nhất đã nổi trăn trở cho hàng loạt những câu hỏi tiếp theo. Tại sao 12 nhà vô địc kia lại “vắng bóng” trên quê hương mình? Tại sao một dải đất có chiều dài hơn 2000 km, diện tích hơn 330.000 km2, đã chứa được 90tr dân mà lại không “đựng” thêm được 12 con người ấy? Phải chăng nơi đây đã quá chật chội?

Xin thưa, không chỉ 12 nhà vô địch ấy bị “lạc đường” mà hơn 70% những người con ưu tú khác của mảnh đất này ra đi không tìm được lối về. Lý do không phải vì miền đất này quá chật chội mà là lòng người nó chật, cơ chế nó hẹp, xã hội nó bất công, con người nó u minh, nó không có văn hoá trọng nhân tài, đãi hiền sĩ. Bởi vậy, dù diện tích nơi đây vẫn thênh thang nhưng lại không có đất cho “người tài dụng võ” nói cách khác là đất ở đây không lành nên “chim khôn nó không đậu”.

Trước khi nói thêm về “sự ra đi” không hẹn ngày trở lại của những người con ưu tú và trách nhiệm của người trong cuộc tôi xin phép được điểm qua đôi nét về môi trường chính trị của nước ta như sau: Nếu ai trong chúng ta đang có người thân bạn bè làm trong “vành đai” chính trị, hoặc có quan tâm đến các “vấn đề” xã hội thì ít nhiều ta cũng có được cái nhìn cơ bản về “cảnh quang” của môi trường chính trị Việt Nam, về sự nhập nhằng, nhiễu nhương của của một bối tơ vò chưa có người xở. Và nếu những bạn thật sự quan tâm đến chính trị nhưng chưa được đọc tác phẩm Đại Gia của Thiên Sơn thì quả là một thiệt thòi lớn. Những câu chữ trong tác phẩm ngàn trang ấy tựa như một bản CÁO TRẠNG ĐẦY ĐỦ NHẤT, TRUNG THỰC NHẤT về tội ác của nhà cầm quyền và giới trọc phú trong xã hội Việt Nam đương thời.

Tác giả không những gióng lên hồi chuông báo động đỏ về sự tha hoá và xuống cấp đạo đức trầm trọng của giai cấp quan tham, trọc phú và con buôn, mà còn là tiếng thét gào bi ai của những thân phận cơ hàn, thấp cổ bé họng, những nạn nhân của xã hội nhiễu loạn và cả những tiếng thở dài bất lực của của một bộ phận người tri thức – những nhân tài bị thất sủng, bị trù dập, bị đè đầu cởi cổ. Dù tôi có đọc một số tài liệu lịch sử và chính trị của Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Trung Đông, Singapore, Hàn. Nhưng tôi chưa thấy tác phẩm nào có thể vẽ nên bức tranh sinh động, rõ nét và chân thực về một xã hội đương đại như tác phẩm này.

Đọc Đại Gia, ta không chỉ như được xem những trò “ảo thuật” của các chính trị gia và tầng lớp thượng lưu trên sân khấu mà chúng ta còn được ngó thấy những mảng miếng thấp thoáng hai bên cánh gà và phía sau hậu trường. Một cái nhìn đa chiều, khách quan, và chân thực. Chỉ tiếc tác phẩm đã bị nhà nước cấm bán ngay trong lần xuất bản đầu tiên, số lượng được bán ra (trước khi cấm) là vô cùng ít ỏi. Tôi là một trong những người may mắn vì đã nhanh tay chụp được nó.

Để miêu tả về tác phẩm Đại Gia một cách chi tiết và rõ nét hơn tôi xin phép được mượn đoạn trích của tác giả Park Chung Hee viết về đất nước Hàn Quốc những năm 1960 trong cuốn sách đầu tay của ông mang tên “Con đường đi của đất nước chúng ta“, xuất bản năm 1961.

“…Trong bối cảnh đó, ý tưởng nguy hiểm đã thắng thế rằng bất kể kẻ khác sống hay chết, bất kể số phận quốc gia mất hay còn, miễn là bản thân tao sung túc no đủ, miễn là gia đình tao giàu sang, miễn là bạn bè tao giành được phần ngon so với bọn khác. Những kẻ láu cá được coi là các gã chơi đẹp, thông minh, còn những người làm tròn bổn phận lại bị coi là ngu ngốc và khờ dại. Những viên chức chính quyền trung thực và liêm khiết không nhận hối lộ thì bị chế độ hắt hủi như kẻ lập dị, còn lũ bê bối và kiếm chác được coi là tất yếu và những ai không làm như vậy bị coi là kỳ cục, điên rồ…

Đó là một thế giới mà trong đó, nắm đấm mạnh hơn luật pháp, là một cộng đồng trong đó chỉ có tiền bạc và con ông cháu cha mới được coi trọng, là một xã hội mà trong đó những người không có quyền hành, không có quan hệ với đám quan chức, và không có tiền bạc thì bị xem rẻ và đá ra rìa không thương tiếc. Đó là một xã hội mà trong đó nghịch lý được coi là logic, sự bất công và phi pháp thịnh hành. Mọi thứ đều bị đảo ngược. Đó là một xã hội của những giá trị đảo ngược..”

Những gì Park Chung Hee viết về Hàn Quốc cách đây nữa thế kỷ chẳng khác gì Thiên Sơn viết về Việt Nam năm 2011.

Đọc báo đọc sách nhiều tôi nhận thấy một luồng dư luận chung rằng, đa số chúng ta đều trách móc xã hội này. Nhưng chẳng mấy ai chịu hiểu chính chúng ta là những người tạo nên xã hội. Nếu nhà nước không biết nhìn người, trọng người và dùng người thì ta hãy học cách tự dùng mình. Không ai khác chính chúng ta phải tự ý thức để ghánh vác trách nhiệm cũng như vai trò của mình để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn đói nghèo, lạc hậu chứ không phải ai đó, một vị cứu tinh nào đó. Chúng ta có thể tạm thời phải chấp nhận chảy máu chất xám vì nhát dao của thời đại, của thể chế nhưng chúng ta đừng để lãng phí chất xám ngay bên trong bản thân mình vì như thế không những ta có tội với đất nước mà còn có tội với chính bản thân ta.

Khi viết những dòng này tôi đã cố ngước cổ lên phóng tầm nhìn xa khơi để dò tìm nguyên nhân sâu xa gây ra “vết thương” làm chảy máu chất xám. Trong khoảng không rộng lớn đó tôi nhìn thấy một con “bọ” bụng bự mang tên Hoa Kỳ, nó luôn săn lùng để “hút” mọi nhân vật trí thức tinh tú nhất về phía mình. Không chỉ riêng Việt Nam mà cả thế giới này đều là “nạn nhân” của nó nếu không biết cách phòng vệ.

Trong thế giới hiện đại, khi chiến tranh vũ trang đã lùi sâu về quá khứ thì ngày nay xuất hiện một cuộc chiến mới không kém phần khốc liệt – cuộc chiến dành dựt chất xám. Trong sân chơi ác liệt này, miếng bánh dành cho những miền đất u minh, lạc hậu teo tóp đến thảm hại. Nếu chúng ta chưa tìm ra cách ngăn chặn “con dao” đang ngày càng thọc sâu vào “dòng máu chất xám” thì ta nên biết học cách “ăn mày” chất xám khôn ngoan của người Hàn, tinh thần Samurai của người Nhật và nghệ thuật đứng trên vai người khổng lồ của người Israel. Chỉ như vậy ta mới có hy tự cứu được mình trong hoàn cảnh nhiễu loạn, thối nát và gian manh của thời cuộc.

Tôi nghĩ, nếu chúng ta nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm của bản thân thì sẽ nhận thấy nguyên nhân của một nền kinh tế ì ạch, lẹt đẹt, èo uột của nước ta là do giới tri thức của chúng ta chưa phát huy hết vai trò và sứ mệnh của mình. Một phần là dòng máu chất xám đang bị chia nhánh đến các xã hội văn minh; phần khác là chúng ta đang bị kiềm kẹp, bị cột, bị trói chặt, tư duy, tư tưởng và ý thức hệ bởi gọng kìm và sợi dây của chế độ. Trong bối cảnh này, nếu chúng ta không sớm thức tỉnh để tự mình ngăn chặn, phá khoá, chặt dây thì chẳng thể nào thoát được ra cái vòng xoáy luẩn quẩn nghèo nàn và lạc hậu. Dần dà, những tri thức cũng bị đẩy vào con đường “lưu manh hoá” phải dẫm đạp lên nhau để mưu sinh và tồn tại. Đó là một viễn cảnh đau thương mà tôi tin không ai trong chúng ta muốn chứng kiến và bị nhúng vào.

Trên cái mảnh đất mà những “con chim ưu tú” không thèm đậu, vậy những bầy chim “tuấn tú” đã lỡ đậu rồi phải làm sao? Tôi gọi chúng ta là những bầy chim tuấn tú là vì, nước ta hiện có hơn 9. 000 Giáo Sư, 24.000 tiến sĩ, 101.000 thạc sĩ và 2.700.000 cử nhân đại học (theo thống kê của Gs Nguyễn Văn Tuấn). Một con số lý tưởng cho nền kinh tế tri thức. Nước ta còn có lợi thế về giao thông thuận lợi, giàu tài nguyên và một nguồn lao động trẻ dồi dào. Thế nhưng chúng ta vẫn đang mãi nằm trong danh sách “đội sổ” của thế giới về mọi mặt.

Đưa ra con số thống kê trên là tôi đang muốn nói đến vai trò và trách nhiệm của giới trí thức trong xã hội chúng ta. Tôi cảm thấy dường như họ đang dùng cái “trí” mà mình có được để “ngủ” chứ không phải để thức tỉnh và dẫn dắt xã hội, để đấu tranh cho công lý và quyền bình đẳng của con người, để ngăn chặn, bà bài trừ những con dao đang khoét sâu vào nguồn tài nguyên “chất xám” của đất nước, để cải tạo và thuần hoá mảnh đất nguy hiểm này thành mảnh ĐẤT LÀNH, phì nhiêu và màu mỡ, để những “con chim” khôn dù đã sãi cánh bay xa cũng sẽ bị “quyến rũ” và luôn sẵn lòng quay về đất mẹ, để cải tạo, cống hiến và dựng xây quê hương đất nước.

Bây giờ, đã đến lúc chúng ta ngồi lại để nhìn thấu vào sự thật, nhận lãnh vai trò và trách nhiệm của chính mình. Dẫu biết rằng chẳng dễ gì để xoay chuyển càn khôn. Để thức tỉnh và dẫn dắt một xã hội u minh và phá bỏ gông cùm của những kẻ khổng lồ quyền lực không phải là việc sớm chiều. Nó là một cuộc chiến trường kỳ và dai dẳng, cần phải hợp nhất được lòng dân và công lý, mà ở đó nhóm người trí thức nắm vai trò chủ chốt. Chỉ có như vậy thì bình minh mới có ngày ló rạng, và “chim khôn mới có đất để đậu”.

Hãy tin rằng nếu Hàn Quốc làm được ta cũng làm được, nước khác làm được nước ta cũng làm được. Nó là trách nhiệm chung của mỗi chúng ta chứ ko phải ông quan tướng hay thái quốc nào cả.

 

Nguyễn Văn Thương