Trang chủ Blog Trang 190

Cha mẹ và con cái đến bao giờ mới hiểu được nhau?

Featured Image: Chan Mya Soe

 

Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà mỗi cảnh. Có nhà, cha mẹ rất yêu thương nhau, đến già mà tình cảm vẫn rất mặn nồng, khổ nỗi những đứa con lại không có hiếu. Có nhà được khoác bởi vẻ ngoài của một gia đình “cơ bản” nhưng chứa đựng những điều khó có thể chấp nhận bên trong… Còn những gia đình cha say xỉn, con bài bạc, mẹ không đàng hoàng… chưa cần nhìn, chỉ cần nghe phong phanh là cũng đủ hiểu.

“Nhìn lên mình chẳng bằng ai, nhìn xuống chẳng ai bằng mình.” Là mọi người nói ra vừa là an ủi nhau nhưng cũng là một góc nhìn khách quan của hiện thực. Nói trắng ra là không có gia đình nào lại không có vấn đề hết. Từ bé đến giờ, mới chỉ nghe người ta nói câu “gia đình đó cũng được” “nhà ấy cũng tàm tạm” hoặc đánh giá nghiêng hẳn về phía vật chất với những mỹ từ như “dư dật” “khá giả” “đại gia”… chứ chưa nghe nói một gia đình nào đạt tới chuẩn “mẫu mực”. Nghĩ lại cái danh hiệu “gia đình văn hóa” mới biết là không một chính quyền nào cấp như cấp chuẩn chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn ISO. Mà thực ra có muốn cũng không làm được.

Tôi đi học. Bạn cũng đi học. Hết lớp này sang lớp khác bao giờ hết năng lực và hết điều kiện học hành thì thôi. Nhưng có một lớp dù nhiều tiền đến đâu cũng không có thầy để dạy. Đó là lớp HỌC LÀM CHA MẸ. Không ai là không có lỗi lầm. Trẻ có cái sai của trẻ, già có cái sai của già. Nhưng người lớn cứ tự cho mình quyền được quyết định tất cả mà quên mất rằng những đứa con của họ cũng đang muốn được lắng nghe, muốn được chia sẻ.

Mỗi lần bối rối trước những câu hỏi của con, cha mẹ vẫn thường vuốt tóc, nhìn con bằng đôi mắt trìu mến và nói dịu dàng: “Khi lớn lên, con sẽ hiểu mọi chuyện.” Bọn con nít lúc đó chỉ thấy mơ hồ, khó hiểu và vô cùng xa xăm. Thậm chí, chuyện bực bội ở đâu, người lớn cũng đem về nhà, rồi lúc đó giận cá chém thớt, mắng chửi con cái, trong nhà không bốc hỏa thì cũng chiến tranh lạnh. Đang tuổi lớn, mấy đứa đang khủng hoảng sinh lý giờ lại thêm khủng hoàng tâm lý nữa. Nói tóm lại là hoang mang toàn tập. Và đúng là giờ lớn lên thì tôi đã hiểu. Người lớn dù ứng xử nhẹ nhàng hay ứng xử thô bạo với trẻ con thì lúc đó họ đang lâm vào đường cùng, họ không thể lý giải nổi những diều dù là đơn giản nhất. Sự thực là người lớn luôn luôn bé.

Bạn bè của tôi, có nhiều người nói với tôi rằng, sau này học sẽ không vấp lại những sai lầm của cha mẹ họ. Chẳng ai có thể biết trước được điều gì. Chính cha mẹ của chúng ta cũng đâu có muốn đối xử với con cái như vậy, nhiều lần thâm tâm họ cũng dằn vặt lắm chứ. Nhưng rồi chúng ta đã nhận lại được những gì? Thời đại nào cũng có vấn đề riêng của nó. Khi chúng ta – những người hiện tại chưa lập gia đình một ngày nào đó cũng lần lượt làm cha làm mẹ thì chính chúng ta dù đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn sẽ không tránh khỏi những cuộc xung đột nảy lửa với con cái. Vâng! Lúc đó, chúng ta sẽ không lặp lại sai lầm của cha mẹ chúng ta ngày trước mà sẽ vấp phải những sai lầm lớn hơn. Làm sao con người có thể ý thức được hành động của mình đang sai khi mà chưa nhìn thấy kết quả?

Con cái thì chưa với tới giai đoạn làm cha làm mẹ nhưng bậc sinh thành thì đã trải qua quãng đời như chúng ta hiện tại. Vẫn còn nhiều thứ ta chưa trải qua và vì thế vẫn còn nhiều thứ ta chưa hiểu nổi. Suy nghĩ của cha mẹ tuy khác chúng ta nhưng họ muốn giành những điều tốt đẹp nhất cho con cái (đặc biệt là họ có thể hiểu ít nhiều về chúng ta hiện tại trong khi chúng ta chẳng biết gì hơn ngoài nói yêu và thương). Phải mất bao lâu nữa để cha mẹ có thể chấp nhận rằng con cái họ có những nhu cầu riêng và họ không nên áp đặt quá nhiều vào con cái? Và bao lâu để một đứa trẻ con biết tha thứ lỗi lầm cho người lớn?

 

Huyền Trang

Sáu Người Đi Khắp Thế Gian – Tuổi trẻ và hành trình tự do

Photo: Duy Nguyen

 

Một cuốn sách khá là khủng, đó là cảm nhận của tôi khi mới chỉ nhìn qua bìa sách và xem một số review về nó. Với thành tích suốt sáu tháng liền năm trong danh sách của New York times best seller, tác giả của nó thì nhận được vô khối giải thưởng danh giá như giải Pulizer, giải Franklin,… cuốn sách thu hút sự tò mò của tôi khi nó khẳng định là một cuốn sách “đặc biệt thấu hiểu giới trẻ”.

Sách gồm 2 cuốn. Cuốn 1 gồm 6 chương, mỗi chương giới thiệu về một nhân vật chính. Những nhân vật trong sách đều là những người rất trẻ chỉ ở độ tuổi dưới 20. Joe, một chàng thanh niên Mỹ trốn quân dịch và bị đưa đẩy vào hoàn cảnh bắt buộc phải tìm cách lang bạt xa xứ. Britta, một cô gái Nauy chạy trốn khỏi sự tù túng nơi quê nhà, luôn đau đáu về một mảnh đất hứa, giấc mơ, nỗi ám ảnh của cha cô- Ceylon. Monica- cô con gái bất hảo của nhà chính trị người Anh, cô là người có cá tính nổi loạn, sinh ra và lớn lên chứng kiến một Châu Phi dần nắm quyền hành và trở nên loạn lạc. Cato-chàng thanh niên da đen với ký ức kinh hoàng về sự phân biệt chủng tộc trong những năm tháng tại Mỹ.

Gretchen, một cô gái tài năng, khôn ngoan sinh ra tại Boston nhưng phải mang một nỗi tổn thương sâu sắc gây ra bởi cảnh sát và nỗi thất vọng với chính gia đình của mình. Cuối cùng là Yigal, chàng thanh niên mang hai dòng máu Isarel và Mỹ, có một tình yêu mãnh liệt dành cho Isarel và nền giáo dục của nước này, bên cạnh đó Yigal còn rất nhiều trăn trở khi phải lựa chọn quốc tịch cho bản thân. Mỗi người một cá tính, họ là những người mang trong mình sự bế tắc với các vấn đề cá nhân trong một bối cảnh xã hội rối ren. Điểm chung nơi họ chính là sự đam mê khám phá những miền đất mới, ở họ có sự tự do của tuổi trẻ và quan điểm cá nhân mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực tôn giáo, sắc tộc, cho đến phim ảnh, âm nhạc. Họ cùng gặp nhau và bắt đầu chuyến chu du “khắp thế gian” tại Torremolinos – thành phố mặt trời của Tây Ban Nha.

Phần 2 của cuốn sách hấp dẫn người đọc bằng đầy ắp những trải nghiệm về thiên nhiên, văn hóa, con người…Trí tưởng tượng của bạn sẽ thấy choáng ngợp trước những thành lũy châu Âu cổ xưa, được hòa mình vào không khí náo nhiệt của lễ hội San Fermin đầy màu sắc, pháo hoa, nhảy múa, sợ hãi lẫn phấn khích với những trận đấu bò tót ngàn cân treo sợi tóc hay cảm giác thích thú đầy kinh ngạc khi khám khu rừng rậm châu Phi hoang dã với sự đấu tranh sinh tồn khắc nghiệt.

Đây không phải là một cuốn sách dễ đọc. Nó bao gồm rất nhiều những kiến thức về chính trị hay tôn giáo mà thực sự chưa thể hiểu hết một cách sâu sắc nếu mới chỉ đọc một lần.Tôi không thể nghĩ rằng ở tuổi 17, 18 của mình lại có thể có những suy nghĩ già dặn và những quan điểm cá nhân dữ dội như họ, có thể thoải mái bàn luận những vấn đề sâu xa về chính trị, chiến tranh hay sự xung đột sắc tộc, đạo Hồi…Mặc dù có những điều khi đọc vẫn chưa được hiểu tường tận, nhưng đó cũng là động lực để chúng ta có thể mở rộng kiến thức của mình. Một điều khó đọc nữa của cuốn sách chính là sự táo bạo trong cách suy nghĩ của các bạn trẻ, đối với nhiều người thì không phải dễ dàng mà chấp nhận được.

Sự khác biệt này cũng được phản ánh ngay trong nội dung cuốn sách thông qua việc xây dựng khéo léo về hai tuyến thế hệ, thông qua giọng kể của tác giả, ngôi thứ ba, trong vai một ông già 60 tuổi trải đời đã mô tả tâm lý các nhân vật chân thực và tinh tế. Đó luôn luôn là hai thế hệ đối lập cố gắng để hiểu quan điểm của nhau. Thế hệ của tác giả và nhân vật Holt bạn ông là một thế hê cũ kỹ, với những thứ âm nhạc và các bộ phim tẻ nhạt không hợp thời. Phía của họ có thể xem như đại diện cho một loại người khá truyền thống trong xã hội: Coi phục vụ trong quân ngũ là cuộc đấu tranh cao cả của một người đàn ông, tôn trọng một cuộc hôn nhân nghiêm túc với sự đồng ý của gia đình,… Đây là lớp người sẽ hành động như phần đa số chúng ta, tìm kiếm sự an toàn bằng việc ở lại quê nhà học hành và phát triển sự nghiệp, tậu nhà, xây dựng gia đình.

Đó là những người với sự tài giỏi  thăng tiến chắc chắn theo một con đường chính thống sẽ đóng góp chủ yếu vào sự xây dựng và tạo ra những thành tựu cho xã hôi văn minh. Đối lập với thế hệ này chính là những nhân vật trung tâm của cuốn sách, họ mang trong mình những giá trị mới, hiện đại và thách thức tất cả những lề lối truyền thống xưa cũ: lang bạt với những điều kiện tối thiểu, chống đối lại gia đình, trốn quân dịch, yêu đương dễ dãi, sử dụng heroin, LSD…ở trong những nhà trọ rẻ tiền.

Đừng nhầm lẫn tất cả trong số họ đều là những kẻ bỏ đi, thực tế lại có rất nhiều những người ưu tú với những quan điểm cá nhân vững vàng và kiến thức xã hội rộng lớn nhưng lại đầy bế tắc. Họ là những cá nhân đặc biệt muốn trải nghiệm cuộc sống theo cách của riêng mình. Họ, là những người mà theo tác giả, một số ít có thể là những lãnh đạo về tinh thần cho xã hội này. Chính vì thế, điểm lôi cuốn nhất của cuốn sách chính là những quan điểm về đạo đức thách thức cái nhìn thông thường. Tác giả không hẳn là cổ xúy cho những lối suy nghĩ đó, nhưng bằng một đôi mắt thấu cảm, ông không phủ nhận cũng như không hề áp đặt nhận thức của mình lên họ. Thiết nghĩ đây là một phẩm chất đáng quý mà mọi ông bố bà mẹ đều nên có. Có được điều này, nhân vật kể chuyện đã phải trải qua những kinh nghiệm thất bại trong việc nuôi dạy đứa con đẻ của chính mình, vì thế ông luôn cố gắng để hiểu hơn về những người trẻ có suy nghĩ và tư duy khác với thế hệ của mình.

Cũng là một người trẻ, tôi vừa thấy xa lạ vừa thấy gần gũi với những nhân vật trong cuốn sách. Mặc dù có sự khách biệt sâu sắc về văn hóa, không gian và thời gian, nhưng mỗi chúng ta chắc ai cũng có thể soi thấy bản thân mình trong những suy nghĩ phóng khoáng, lạc quan và hiện đại của họ, đồng thời cũng đồng cảm với những niềm trăn trở và bế tắc khi mới chạm tới lứa tuổi đôi mươi trong cuộc đời. Cũng như họ, tôi thích được đến những nơi mới mẻ, khám phá các nét lịch sử văn hóa, tôi thích không khí náo nhiệt hội hè, thích những pha cảm giác mạnh, thích âm nhạc, phim ảnh…Cũng như họ, tôi đôi lúc cảm thấy không chắc chắn sẽ phải làm thế nào với cuộc đời của mình, hoang mang tìm cho mình một lối đi.

Kết thúc cuộc hành trình, có những bài học phải trả giá bằng mạng sống, cũng có cả sự tươi đẹp viên mãn và cả sự bế tắc chưa thể tháo gỡ…Nhưng mỗi người trong số họ sau đó dường như đều có thể rút ra những hiểu biết về bản thân và những ý tưởng cho riêng mình, dù ý tưởng đó có thể thành công hay thất bại. Điều đọng lại sau khi đọc xong cuốn sách có lẽ chính là niềm cảm hứng hành động một cách can đảm để theo đuổi ước mơ, lý tưởng và những giá trị riêng cho dù nó khác biệt hay cho dù một ngày nào đó, bạn có thể bị “vỡ mộng”. Hãy cứ đi để tìm thấy chính mình, hãy cứ làm những điều mới mẻ điên rồ thay vì chết dần chết mòn trong những tháng ngày vô nghĩa, như một ông thầy giáo chán nghề nhưng vẫn cứ giảng đi giảng lại một cuốn sách hết ngày này qua năm khác một cách vô hồn. Xin được kết ở đây bằng đoạn kết của cuốn truyện khi Gretchen và Britta nói chuyện với nhau về giấc mơ Ceylon của cha Britta:

Gretchen: “Hồi ở Alte cậu nói với chúng tớ rằng lỡ có khi nào cha cậu buộc phải nhìn thấy Ceylon đúng như thực chất của nó thì ông sẽ suy sụp cơ mà.”

Britta: “…Bây giờ tớ tin rằng mọi người đàn ông đều phải xác minh những giấc mơ của mình. Và hiểu đúng bản chất của chúng.”

 

Châu Diamond

Tôi sẽ lựa chọn “người tình” thay vì “người chồng”

Featured Image: Anni Graham

 

Khổ quá! Chồng con gì? Tại sao cứ mãi gắn mác cái chuyện cũ rích ấy là vấn đề của những cô gái trưởng thành cơ chứ. Chúng ta không phủ nhận rằng tình yêu là một điều cần thiết trong cuộc đời này, là thứ đáng để bất kỳ người nào cũng nên trải nghiệm qua. Thiếu ăn thiếu uống có thể chết, còn thiếu tình yêu chẳng có một ai chết cả, có điều thêm nó sẽ khiến cho cuộc sống của bạn trở nên đa sắc màu hơn, được nêm nếm nhiều gia vị hơn. Nhưng nếu được lựa chọn một mối quan hệ lý tưởng giữa nam và nữ, tôi sẽ lựa chọn “người tình” chứ không phải là một “người chồng”. Chọn một người tình lý tưởng để yêu và được yêu, chăm sóc và được chăm sóc.

Tất nhiên tôi không cổ xúy hôn nhân và nếu bạn là người đã, đang hoặc sẽ nghĩ mình tràn ngập trong hôn nhân và hạnh phúc gia đình thì tôi xin chúc mừng bạn. Bạn thực sự là người may mắn, hạnh phúc xứng đáng đến với bạn. Bạn tìm thấy được niềm vui trong những trách nhiệm của một người vợ, người mẹ, hạnh phúc với việc chăm sóc và bảo vệ gia đình của mình, điều đó rất đáng ngưỡng mộ. Mọi chuyện trên đời này đều có tính hai mặt của nó, hôn nhân cũng vậy, chọn cách vượt qua những khó khăn để hưởng thụ những điều tuyệt vời của hôn nhân, đó là lựa chọn của bạn.

Còn với tôi, tôi không thích những mối quan hệ bị ràng buộc. Không có thứ tình cảm nào tồn tại mãi mãi trên thế gian này cả, những lý thuyết sáo rỗng tình yêu vĩnh cửu, ai đó là cả thế giới của mình, bạn không thể sống thiếu một ái đó nghe thật sự nhảm xít. Tất cả mối quan hệ tình cảm nảy sinh cũng đều là sự đắn đo lựa chọn, là tính toán so đo, không vì vật chất thì là cảm xúc. Nên nhớ rằng duy nhất chỉ có một mối quan hệ trên thế gian này không lựa chọn, không so đo và tồn tại mãi mãi chỉ có tình yêu của cha mẹ dành cho con cái.

Bởi thế tình yêu cũng chỉ là một dạng cảm xúc hữu hạn, nảy sinh phát triển rồi suy đồi như bao quy luật tự nhiên khác. Nói thế thôi, chứ điều này cũng không đồng nghĩa với việc bạn cho phép bản thân mình lao mình vào những mối quan hệ hời hợt, chóng vánh, điều đó chỉ thể hiện bạn là người buông thả, bôi nhọ và xem thường cuộc đời của mình. Mọi thứ – mọi mối quan hệ đều cần sự nỗ lực để xây dựng, vun vén và bồi đắp.

Còn nếu bạn nghĩ rằng mục tiêu của đời người con gái là kiếm một tấm chồng hoặc một anh người yêu để tìm một điểm tựa an toàn, một bờ vai vững chãi, một người để chăm sóc cho cho cuộc đời bạn. Bạn có nên suy nghĩ lại không? Cuộc đời bạn tại sao cần ai đó để trở thành điểm tựa trong khi bạn có thể mạnh mẽ đứng trên đôi chân của mình. Nguyên tắc căn bản để phụ nữ trở nên hạnh phúc hơn là phải độc lập, tự chủ, độc lập về tài chính, về cảm xúc, tự chủ về bản thân. Chẳng ai trên đời này có thể lo cho cuộc đời bạn, ngoại trừ chính bạn.

Chăm sóc chồng con, bảo vệ gia đình đã vô hình mặc định trở thành thứ trách nhiệm thiêng liêng và cao cả của người phụ nữ bao đời nay. Tôi chứng kiến qua nhiều sự hy sinh của phụ nữ dành cho tổ ấm riêng của mình, trong mắt họ, trong suy nghĩ và tâm trí chỉ tồn tại 2 chữ “chồng con”, họ luôn dành những miếng ăn ngon nhất, những điều đẹp đẽ nhất cho gia đình mình. Tôi không muốn thế giới mình bị thu hẹp như thế. Bạn có thể gọi tôi ích kỷ, nhưng được sống với những niềm vui và đam mê riêng của mình, làm cho bản thân mình vui vẻ và hạnh phúc, trau dồi kiến thức, làm đẹp cho vẻ ngoài và tâm hồn, khám phá thế giới đầy rẫy điều thú vị, chẳng phải lý tưởng hơn sao, tôi yêu quý sự ích kỷ của mình. Chỉ khi nào bản thân mình cảm thấy hạnh phúc, mới có thể tự tin mang lại hạnh phúc cho người khác.

Còn nếu bạn còn e sợ những lời dị nghị, những bàn tán xôn xao hay lo lắng ba mẹ mình không an tâm, thì bạn phải nhận thức được cuộc sống này là của chính bạn, không phụ thuộc vào miệng lưỡi thế gian, thiên hạ chẳng ai lo cho bạn bữa cơm nào cả, chẳng ai quan tâm cuộc đời bạn sẽ trôi chảy về nơi nào. Chỉ có ba mẹ mới là những người mong muốn cho bạn hạnh phúc và vui vẻ hơn bất kỳ ai hết, nhưng họ sẽ ra sao nếu bạn chôn vùi mình trong những cuộc hôn nhân u ám, nếu đau khổ khi không tìm được hạnh phúc, hay ray rứt khi không theo đuổi được đam mê. Cũng chẳng việc gì bạn phải theo đuổi những cuộc hôn nhân nóng vội chỉ vì những dèm pha xã hội, hãy tận hưởng những thú vị của một người tự do, của những mối quan hệ không ràng buộc.

À, đọc đến đây, bạn có thể sẽ thốt lên “lại những bao biện của kẻ ế”. Ừ, ế đấy, thì sao. Mỗi người có một cách chọn lựa cuộc sống riêng của chính mình, tất nhiên chọn lựa của thời điểm này có thể sẽ không phải là lựa chọn của thời điểm khác.

 

Trang Nguyễn

Việt Nam nhược nhưng không tiểu

Featured Image: Loi Nguyen Duc

 

Có quá nhiều tranh cãi sử dụng câu “nước mình nó thế” và “nước ta nhược tiểu” để bào chữa và chấp nhận cái thực trạng tồi tệ. Thử phân tích xem Việt Nam có thật sự nhược tiểu hay không?

1. Dân số:

Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới [1]. Dân số là một trong những đơn vị chính được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 13 có dân số đông nhất thế giới. Bởi vậy, xét về mặt dân số, Việt Nam tuyệt đối không phải “tiểu”.

2. Diện tích:

Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới [2]. Diện tích quốc gia cũng là một trong những đơn vị chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia. Ở vị trí thứ 61, Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới. Bởi vậy, xét về mặt diện tích, Việt Nam tuyệt đối không phải là “tiểu”.

3. Duyên Hải:

Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt; vừa tiếp diện biển ở phía Đông, vừa dựa vào rừng cây và cao nguyên ở phía Tây. Việt Nam đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có bề dài duyên hải dài nhất thế giới với chiều dài duyên hải 3,444 cây số [3]. Nên biết rằng, có 47 quốc gia trên thế giới hoàn toàn nằm trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 quốc gia có chiều dài duyên hải chưa đến 100 cây số. Bởi vậy, xét về mặt bề dài duyên hải, Việt Nam tuyệt đối không phải là “tiểu”.

4. Rừng cây:

Việt Nam có tổng số diện tích rừng đứng hàng 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới với tổng diện tích rừng là 123,000 cây số vuông [4]. Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt. Mặc dù rừng cây ở Việt Nam bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng. Bời vậy, xét về mặt diện tích rừng cây, Việt Nam tuyệt đối không phải là “tiểu”.

5. Đất canh tác:

Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới [5]. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), Việt Nam tuyệt đối không phải là “tiểu”.

6. Thu nhập quốc gia:

Việt Nam đứng hạng 57/193 quốc gia và lãnh thổ tính theo thu nhập trọn quốc gia [6]. Điều này có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia đầu bảng có tổng thu nhập theo quốc gia cao nhất. Bởi vậy, xét về tổng thu nhập, Việt Nam không thể là “tiểu” được.

———————-

Thế nhưng, Việt Nam không “tiểu” với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây….v..v… và tại sao lại nhược?

a. Giáo dục:

Theo chỉ số Human Development [7], Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.

b. Bằng sáng chế:

Theo International Property Rights Index [8], Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.

c. Ô nhiễm:

Theo chỉ số ô nhiễm [9], Việt Nam đứng ở vị trí 102/124, gần đội sổ danh sách.

d. Thu nhập đầu người:

Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, Việt Nam lại đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người [10]. Có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất. Đây là một trong những chỉ số đánh giá độ… nhược.

e. Tham nhũng:

Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International [11], Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.

f. Tự do ngôn luận:

Theo chỉ số tự do ngôn luận (freedom of press) [12], Việt Nam đứng vị trí 174/180, chỉ hơn Trung Quốc, Bắc Hàn, Syria, Somalia, Turkmenistan và Eritrea, có nghĩa là nằm trong nhóm 1/20 thấp nhất thế giới.

g. Phát triển xã hội:

Theo chỉ số phát triển xã hội [13], Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số “Quality of Life” [14], Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.

h. Y tế:

Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia [15], có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.

————————–

Ở trên, những chỉ số chỉ minh hoạ một cách khoa học một phần bức tranh Việt Nam. Cái “nhược” biểu hiện khắp nơi và đi từ chính sách, từ sự yếu kém, bất lực và ung rữa của chế độ. Cái nhược biểu hiện ở sự suy đồi trong xã hội, tính lưu manh và thản nhiên của con người.

Cái “nhược” không những ở khía cạnh vật chất mà còn ăn sâu ở khía cạnh tinh thần và đang đi đến chỗ bế tắc cùng cực. Nước Việt Nam, con người Việt Nam chưa bị mất do ngoại xâm mà mất do họ đánh mất chính họ.

 

Hoàng Ngọc Diêu


Chú thích:

[1]: https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2119.html#vm
[2]: https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2147.html#vm
[3]: https://www.cia.gov/library/publications/the-world-factbook/fields/2060.html
[4]: http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_forest_area
[5]: http://en.wikipedia.org/wiki/Land_use_statistics_by_country
[6]: http://databank.worldbank.org/data/views/reports/tableview.aspx
[7]: http://hdr.undp.org/en/data
[8]: http://www.internationalpropertyrightsindex.org/ranking
[9]: http://www.numbeo.com/pollution/rankings_by_country.jsp
[10]: http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.PCAP.PP.CD?order=wbapi_data_value_2013+wbapi_data_value+wbapi_data_value-last&sort=desc
[11]: http://www.transparency.org/country#VNM
[12]: http://rsf.org/index2014/en-index2014.php
[13]: http://www.socialprogressimperative.org/publications
[14]: http://www.numbeo.com/quality-of-life/rankings_by_country.jsp
[15]: http://www.photius.com/rankings/healthranks.html

Gửi Việt Nam và Hong Kong, Dân Chủ không phải là cái chúng ta cần đấu tranh

Featured image: Một câu trích dẫn nổi tiếng của Emma Goldman, dịch tạm: Nếu bầu cử có thể thay đổi được gì, họ sẽ khiến cho nó trở nên phi pháp.

 

Báo chí, truyền thông, Facebook khắp thế giới những ngày gần đây đang sục sôi với sự kiện hàng chục ngàn người tại Hong Kong xuống đường biểu tình đòi hỏi dân chủ. Tuy nhiên bài viết này sẽ không bàn về sự kiện đó như hầu hết những gì mọi người đang được cho biết, mà sẽ bàn về hai chữ “dân chủ”.

“Thượng nhân bàn về ý tưởng
Thường nhân bàn về sự kiện
Phàm nhân bàn về con người.”

– Eleanor Roosevelt (Phu nhân cố Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt)

Để có thể nói cho tường tận, đầy đủ về dân chủ thì tôi cần phải viết cả một quyển sách, như có nhiều tác giả đã viết, nhưng hiện tại thì vẫn chưa có mạnh thường quân nào tài trợ để tôi thực hiện được việc đó, nên trong khuôn khổ một bài viết dành riêng cho Triết Học Đường Phố tôi sẽ cố gắng tập trung vào những điểm trọng tâm, vì thế tất nhiên sẽ có những điểm bị lược bỏ, thiếu sót. Nội dung chính của bài viết này tôi đoán trước được rằng sẽ trái ngược với quan điểm của 99% độc giả, nên chắc chắn sẽ có người phản biện; nhưng tôi xin được phép nói trước là có thể mình sẽ không trả lời những phản biện đó. Lý do? Có thể kiến thức chính trị tôi còn nông cạn nên không đối đáp được; hoặc cũng có thể tôi trả lời được nhưng đơn giản là không có thời gian, những ai biết tôi đều biết tôi hiếm khi nào có thời gian. Mọi người hãy xem đây như một bài tham khảo. Tất cả những hiểu biết tôi đều học được từ những người giỏi hơn mình; ai thật sự muốn tranh luận thì tôi có gợi ý là không nên tranh luận với tôi mà nên tranh luận với những người giỏi hơn tôi. Forum tụ họp của nhóm học giả này – trang tôi đọc mỗi ngày – sẽ được kèm theo ở cuối bài [2] (họ nói tiếng Anh).

Dân chủ là gì?

Thật sự thì dân chủ là cái gì mà tôi thấy người người hô hò dân chủ, nhà nhà hô hò dân chủ, thậm chí cả thế giới cũng hô hò dân chủ, các blogger hô hò dân chủ, các nhà hoạt động chính trị ai ai cũng hô hò dân chủ? Tôi có cảm giác rằng người ta chẳng biết mình đang hô hào cho cái gì; phải chăng nhiều khi nghe hai chữ dân chủ có vẻ hay hay và thấy người khác hô hào thì họ cũng hô hào theo nhưng sự thật thì chưa bao giờ suy ngẫm về nó hơn một giây (tất nhiên con số một giây này chỉ là một nghệ thuật thậm xưng). Dân chủ có phải chỉ đơn giản là một xã hội do nhân dân làm chủ? Tất nhiên là không đơn giản như vậy; chúng ta phải tập suy nghĩ sâu xa hơn. Cách thức để có được một xã hội do nhân dân làm chủ như vậy thì người ta phải làm gì? Bạn đã trả lời đúng: Bầu cử. Vấn đề của dân chủ không phải là nó do dân làm chủ hay vua làm chủ; vấn đề mấu chốt nằm ở việc bầu cử.

1. Dân chủ là đa số thắng thiểu số

Bất kỳ một người có lý trí nào cũng sẽ đồng ý rằng thành phần những người có tài năng, trí thức, thông minh, trí tuệ, học rộng hiểu nhiều, kiến thức phong phú,… đều không bao giờ thuộc về thành phần đa số. Ludwig von Mises có một câu nói từng được đăng trên THĐP, nhưng đây là lúc nó cần được nhắc lại:

“Tất cả những tiến bộ mà nhân loại đã đạt được là thành quả có được từ động lực của một nhóm thiểu số nhỏ bé, những người đầu tiên xa rời tư tưởng và tập quán của đa số, sau đó nhóm đa số mới chấp nhận sáng kiến của họ. Đưa cho nhóm đa số quyền áp đặt nhóm thiểu số phải nghĩ gì, đọc gì, và làm gì cũng đồng nghĩa với việc đặt dấu chấm hết, một lần và vĩnh viễn cho sự tiến bộ.”

– Ludwig von Mises, Liberalism

Dân chủ nếu được cường điệu lên đúng mức thì nó không khác gì một chủ nghĩa bầy đàn xuất phát từ tâm lý bầy đàn. Dân chủ là một sự ngụy biện argumentum ad populum khổng lồ, một sự ngụy biện cho rằng cái gì nhiều người nói đúng thì nó là đúng; không có gì sai lầm hơn sự ngụy biện này. Tiếng Hán có câu “Tam nhân thành hổ” cũng là vì lẽ đó.

2. Dân chủ là 51% được quyền đưa ra quyết định cho 49% những người còn lại

Ngay cả khi khoảng cách giữa đa số và thiểu số chỉ cách nhau 2% chúng ta có thể thấy dân chủ đặt ra giới hạn và giết chết những khả năng như thế nào. Việt Nam hiện nay có hơn 93 triệu người, giả sử tổng số người bầu cử kỳ này là 50 triệu, bạn thuộc nhóm 24 triệu, lá phiếu của bạn và lá phiếu của 24 triệu người kia coi như vô ích. Toàn bộ nhóm 24 triệu người vừa bị nhóm 26 triệu áp đặt ý định. Nếu bạn biết tư tưởng và quan điểm của mình thuộc về nhóm thiểu số thì việc bầu cử là hoàn toàn vô ích. Ảnh hưởng của lá phiếu của bạn là 0%. Nếu biết lá phiếu của bạn là vô ích thì bạn có đi bầu không?

3. Dân chủ giới hạn những khả năng, tiềm năng, giới hạn sự lựa chọn

Trong một thị trường tự do, không một ai bị lãng quên, không có nhu cầu thiểu số nào là quá nhỏ đến nỗi không có người đứng ra cung cấp. Thị trường tự do là một sự một sự phân trung, phi tập trung. Trong khi dân chủ hay nhà nước thì trái lại, nó là một sự tập trung, tại một điểm single point of failure, một mô hình “đa cấp”, kim tự tháp, từ trên xuống dưới; trong khi phân trung là một mô hình mạng lưới, mạng nhện, không có điểm thất bại duy nhất. Torrent hoạt động dựa trên mô hình này; Bitcoin cũng hoạt động dựa trên mô hình này. Tôi không biết nói rằng nó là một mô hình bất khả chiến bại có phải là nói quá không, nhưng tôi cho rằng đây sẽ là mô hình của tương lai.

Trong một thị trường tự do, có cầu thì sẽ có cung, không phải chỉ nhu cầu của đa số, không phải chỉ nhu cầu của thiểu số, nhưng bất cứ nhu cầu nào miễn nó hợp luân lý thì nó sẽ có một cái giá. Trong khi với dân chủ, bạn không thể một cách hợp pháp có được dịch vụ bảo vệ bởi một nhóm người không dùng tiền của bạn đi giết người nơi xứ khác, để mua biệt thự, xế khủng, đất đai, địa ốc… Tôi cũng nghĩ rằng dự đoán của Jim Bell sẽ trở thành sự thật, một khi cryptocurrency và cryptography trở nên phổ biến, đại trà. Nếu nó thật sự là một điều không thể tránh khỏi như Jim Bell nói, chiến tranh diện rộng chỉ còn là cái có trong lịch sử. Tới đây thì Google is your friend, hãy làm quen với Google đi vì tôi sẽ không tiếp tục đi sâu vào hang thỏ này bởi nó không nằm trong chủ đề chính của bài viết.

 

Hãy thử hình dung ra viễn cảnh một xã hội tương lai, nơi luật pháp được cạnh tranh, anh ninh được cạnh tranh, khu phố này cạnh tranh với khu phố khác… Cạnh tranh không có nghĩa là chiến tranh, bạo loạn – những sự kiện này không hề miễn phí mà ngược lại, phải tốn kém, rủi ro rất nhiều, đã làm ăn kinh doanh thì phải hạn chế tốn kém, rủi ro tối đa. Thêm vào đó, tấn công luôn tốn kém gấp nhiều lần phòng thủ – mà là cạnh tranh dưới nguyên tắc NAP (Non-Aggression Principle, tạm dịch Nguyên tắc Không Xâm Phạm, một trong những nguyên tắc cốt lõi của chủ nghĩa tự do, libertarianism). Pierre-Joseph Proudhon, một triết gia chính trị nổi tiếng người Pháp sinh năm 1809, người đã theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa thậm chí còn phát biểu rằng:

“Tự do là mẹ của trật tự, không phải là con.”

Hay Gustave de Molinari, một chính trị gia, kinh tế gia người Bỉ sinh năm 1819 đã từng nhận ra:

“Chiến tranh là hệ quả tự nhiên của sự độc quyền; hòa bình là hệ quả tự nhiên của tự do.”

Bạn không thích cần sa, không thích đồng tính, không thích người khác sở hữu súng, không thích Bitcoin, không thích tư hữu, không thích polygamy, không thích phá thai,… Không hề chi, bạn cứ sống ở khu phố Cộng Sản 75 với những người có cùng tư tưởng. Có tới vô số khu phố với những luật lệ khác nhau cho bạn lựa chọn. Nghe có vẻ viễn vông nhưng thực tế thì với các công nghệ sea-steading [3], cryptography và 3D printing càng ngày càng phát triển thì tôi tin rằng đây chính là tương lai mà loài người đang đi tới.

Một xã hội tự do cho phép chủ nghĩa xã hội tồn tại bên trong nó. Nhưng một xã hội chủ nghĩa thì không cho phép tự do tồn tại bên trong nó. Chủ nghĩa tự do có thể bao trùm chủ nghĩa xã hội; nhưng không có sự ngược lại. Đây là một sự khác biệt quan trọng thể hiện đẳng cấp.

4. “Tại sao anh không đi chỗ khác đi?”

Đây chỉ là một câu hỏi, không phải là một lý lẽ logic có thể dùng để phản biện. Đi hay không đi không liên quan gì tới vấn đề. Và vấn đề ở đây chính là khi một luật lệ được bầu ra một cách dân chủ, nếu nó xâm phạm vào nguyên tắc NAP thì căn bản là nó đã sai trước. Tại sao một người phải ra đi khi luật lệ kia mới là cái sai? Bảo người đó đi chỗ khác cũng giống như bảo một người đang sống trong một khu phố an ninh từ trước tới giờ đi chỗ khác khi bỗng nhiên có một tên côn đồ mới dọn về. Tên côn đồ mới là người phải đi chỗ khác.

Trớ trêu thay, nếu bạn muốn người ta đi chỗ khác chỉ vì họ không đồng ý với luật lệ bạn ủng hộ hay những người bạn bầu lên thì bạn đã được toại nguyện với não trạng chảy máu chất xám tại Việt Nam hiện nay, nhân tài đã bỏ nước ra đi hết, nếu vẫn chưa ra đi thì họ cũng đang tìm cách ra đi. Một đất nước không có nhân tài cũng giống như một thân xác không có linh hồn. Như Milton Friedman từng nhận xét về việc di cư giữa biên giới Hong Kong và Trung Quốc, “Hãy nhìn người ta bầu cử bằng chân của họ.” Xem người Trung Quốc muốn qua Hong Kong – một trong những có nền kinh tế tự do nhất thế giới – hay ngược lại? Giải pháp không phải là bảo người ta đi chỗ khác; giải pháp chính là phải cải cách, thay đổi hệ thống vận hành. Thay đổi thì tất nhiên đau đớn, nhưng nó phải diễn ra nếu chúng ta muốn trưởng thành. Chừng nào mà chúng ta còn chưa sẵn sàng để thay đổi tư duy, đột phá tư tưởng thì chừng đó chúng ta vẫn còn đang lê bước với tốc độ của một con rùa, trong khi bầu trời chính là giới hạn và nó đòi hỏi một sự cất cánh trong nhận thức.

5. Bản chất của dân chủ là những tầm nhìn ngắn hạn

Các chính trị gia khi muốn có được số phiếu của đám đông thiếu kiến thức về kinh tế, chính trị, chỉ thấy được những gì trước mắt, bề nổi, thì tất nhiên họ phải hứa hẹn những điều nghe hấp dẫn, mà hy sinh những lợi ích lâu dài, đổi lấy những lợi ích ngắn hạn. Giống như một người nghiện thuốc phiện lên cơn thì phải được thỏa mãn ngay lúc đó, trong khi giải pháp cần phải làm không gì khác hơn là cai nghiện. Tiến sĩ Hans-Hermann Hoppe đã lý luận trong cuốn Democracy: The God That Failed (tạm dịch: Dân chủ: Vị thần đã thất bại) của mình rằng chế độ dân chủ thật ra còn tệ hơn chế độ quân chủ. Một hệ thống mà phải trông chờ người tốt lên nắm quyền là một hệ thống yếu kém. Nếu bạn biết quan sát thì bạn sẽ thấy quyền lực rất nhiều khi còn làm tha hóa cả một người tốt.

6. Định lý Arrow’s impossibility

Định lý này được chứng minh bởi Tiến sĩ kinh tế Kenneth Arrow trong luận án tiến sĩ của mình và sau đó năm 1951 đã được in thành sách Social Choice and Individual Values. Diễn giải một cách đơn giản thì định lý này phát biểu rằng: Không thể có một cơ chế bầu cử nào có thể thỏa mãn 3 tiêu chí công bằng sau:

  1. Nếu mọi người đều ưu tiên X thay vì Y thì cả nhóm muốn X hơn Y.
  2. Nếu ưu tiên giữa X và Y không thay đổi (các nhóm khác có thể thay đổi, vd: X—Z, Y—Z, hay Z—W, thì ưu tiên của cả nhóm chọn X hơn Y vẫn không thay đổi.
  3. Không có “lá phiếu quyết định”, không người nào được quyết định khi có trường hợp hòa.

7. Bầu cử là trái với luân thường đạo đức, là phi logic

 

“Không có sự tàn bạo nào tệ hơn là bắt buộc một người phải trả tiền cho những thứ hắn không muốn chỉ vì bạn nghĩ là nó sẽ tốt cho hắn.”

– Robert Heinlein, The Moon is a Harsh Mistress

Hãy trả lời câu hỏi này: Bạn có quyền tấn công, sử dụng bạo lực với người khác–trừ các trường hợp tự vệ–không? Câu trả lời rõ ràng là không. Nhưng khi bạn bầu cử có nghĩa là bạn đang trao cho chính phủ một quyền bạn không hề có để chính phủ thực hiện những hành động bạo lực đó đối với người khác; bạn không thể trao cho người khác cái bạn không có. Nền tảng của mọi chính phủ chính là bạo lực; không có nó thì không một chính phủ nào có thể tồn tại. Một xã hội chưa trưởng thành là một xã hội sử dụng bạo lực để giải quyết những vấn đề của nó. Một xã hội trưởng thành là một xã hội không cần dùng đến bạo lực, thay vào đó, Tự Do được đưa lên ngôi. Tự do mới là cái chúng ta cần phải đấu tranh, không phải dân chủ.

Tạm kết

Không biết từ khi nào mà hầu như tất cả mọi người ai cũng đặt tự do và dân chủ ngang hàng, song song nhau. Người ta không biết rằng cái giá phải trả cho dân chủ chính là tự do. Nói cách khác, không thể có dân chủ và tự do cùng một lúc. Sự khác biệt giữa dân chủ và tự do là gì? Dân chủ áp đặt quan điểm của người này lên người khác; tự do thì không. Bạn có tự do làm những gì mình muốn miễn nó không xâm phạm đến người khác, không xâm phạm vào nguyên tắc NAP. Một khi đã hiểu rõ về dân chủ, bạn sẽ không còn cổ động nó một cách vô minh như trước, thậm chí bạn có thể sẽ còn thấy khó chịu với thực trạng ai ai cũng đang ra sức cổ động nó như những con robot của văn hóa, “một thực tại ảo đã được phê chuẩn” theo cách dùng từ của Terence McKenna, và đó cũng là lý do khiến tôi phải viết bài này, vì nếu tôi không viết thì ai sẽ viết đây khi tôi vẫn chưa phát hiện được một đồng chí người Việt nào có cùng tư tưởng trong radar của mình. E là còn phải chờ đợi mỏi mòn.

Nguyễn Hoàng Huy

Tham khảo

  1. 8 trích dẫn phản đối dân chủ
  2. Reddit’s Anarcho Capitalism sub
  3. Why Seastead?

Vì sao trợ cấp không giúp gì được cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo [Team Freenamese Vietsub]

 

Lão Tử cách đây hơn 2500 năm cũng đã từng viết: “Càng có nhiều lệnh cấm, dân càng thiếu đức hạnh. Càng có nhiều vũ khí, dân càng thiếu an toàn. Càng có nhiều trợ cấp, thì dân càng lệ thuộc.”

Vietsub được thực hiện bởi Team Freenamese của Triết Học Đường Phố. Mục đích của team này là muốn mang đến mọi người những kiến thức nền tảng về kinh tế và xã hội.

 

Béo phì trí thức?

Featured Image: Pixabay

 

“Đọc sách mà không áp dụng cũng giống như ăn cơm mà không tiêu hóa.” – Edmund Burke

Béo phì là một dạng cơ thể phình to ra, tích lũy thành mỡ sau khi đã ăn quá nhiều thức ăn, trong số đó gồm có các loại thức ăn nhanh, thức ăn nhiều đường, thức ăn nhiều đạm.

Hôm nay trong bài viết này tôi muốn mượn hai từ này – “béo phì” kết hợp với “ trí thức” để có một góc nhìn về cuộc sống hiện tại.Vậy béo phì trí thức là gì?

Trong ăn uống hàng ngày chúng ta tiếp xúc và dùng khá nhiều món ăn từ rất nhiều kênh khác nhau. Khi thì đi ăn vặt với bạn bè, khi đi ăn tiệc với đồng nghiệp, hoặc qua các bữa ăn gia đình. Có quá nhiều cách để chúng ta bắt gặp và nạp thức ăn vào cơ thể. Qua thời gian chúng ta cứ lặp đi lặp lại tiến trình này, vì vậy nó sẽ tích trữ ở cơ thể chúng ta dưới dạng các chất khác như đạm chẳng hạn hay mỡ, đường, dần dần cơ thể chúng ta mất kiểm soát với chúng. Chỉ vì cách nạp năng lượng vào cơ thể theo cách mà chúng ta thích, chúng ta không tiết chế được dẫn đến các căn bệnh khủng khiếp mà y học phương tây hiện tại cho chúng là nan y và bất trị tận gốc.

Chúng ta tiếp nhận kiến thức, tiếp nhận thông tin không khác gì so với việc ăn uống hằng ngày. Từ các kênh truyền thông mạng xã hội chúng ta không phải đọc báo, có tìn tức gì mới, kiến thức gì lạ thì cũng ta đề được mời gọi ghé thăm và tiếp nhận. Chúng ta không cần phải đi học ở Mỹ, ở châu Âu để có thể tiếp nhận các kiến thức mới của nhân loại, chỉ một cái kích chuột chúng ta có hàng khối thứ có thể tìm thấy trên internet. Hoặc một kênh khá hấp dẫn đối với mọi người đó là Tedx một trong những kênh trí thức, hội tụ rất nhiều diễn giả hay và thông qua các chia sẻ của họ thì chúng ta có thể hấp thu rất nhiều điều mới lạ.

Còn ở xứ sở chúng ta thì sao, có hay không những điều như vậy. Vô cùng nhiều, chúng ta có thể tham gia những trang chia sẻ những thông tin tích cực, mới lạ, góc nhìn khác biệt ở Tony Buổi Sáng hay Triết Học Đường Phố. Mỗi ngày một bài viết với một góc nhìn của một con người về những điều trong cuộc sống thì qua năm này tháng nọ chúng ta đã tích lũy thêm một lượng kiến thức vô cùng lớn, dần dần kiến thức đó sẽ béo hẳn ra.

Đấy chỉ là các kênh online thế thì còn các kênh offline thì sao, ở mỗi một nơi chúng ta sẽ có cách để tiếp nhận kiến thức khác nhau. Chúng ta đi đến trường học để được đào tạo, chúng ta tiếp xúc với những người giỏi và lắng nghe họ và ghi nhớ những điều họ nói. Chúng ta tự đọc sách hoặc tham gia các nhóm sinh hoạt offline như Spread Out Academic Club hoặc các câu lạc bộ sinh hoạt về sách. Ở các môi trường như vậy các bạn sẽ tiếp nhận lượng thông tin và kiến thức vô cùng lớn trong một thời gian ngắn. Khi đó các bạn trở thành những con người vô cùng thông thái, tài năng và thật “nguy hiểm”.

Tôi nói là nguy hiểm các bạn có ý kiến gì không?

Tại sao tiếp thu kiến thức nhiều sẽ làm cho chúng ta trở nên nguy hiểm. Có rất nhiều lý do để nói như vậy. Một trong các lý do đó là khi chúng ta bị béo phì trí thức chúng ta sẽ dễ trở thành những người “lưu manh trí thức”. Cũng dễ hiểu thôi, chúng ta biết nhiều, chúng ta ngộ ra nhiều điều khi đó chúng ta sẽ tỏ ra xem thường những người tầm thường khác. Chúng ta sẽ đặt vị trí của chúng ta là những người đứng trên người, và vai trò của những người đứng trên người là thúc đẩy tạo nên những cộng đồng tốt. Nhưng không chúng ta xem thường họ, chúng ta phê phán họ, chúng ta mặc định cho rằng chúng ta cái gì cũng biết, cái gì cũng đúng thì những tên lưu manh trí thức này còn nguy hiểm hơn cả những tên lưu manh bình thường khác.

Lưu manh trí thức nói cái gì cũng biết, hỏi cái gì cũng am tường về phương diện lý thuyết. Chúng ta sở hữu một lượng lớn các kiến thức từ kinh tế, văn hóa, khoa học, vũ trụ, kỹ thuật, kinh doanh hay y học sức khỏe,… nhưng chỉ dừng lại ở chỗ nắm rõ lý thuyết còn vận dụng những kiến thức này vào thực tế thì không mấy người làm được. Có người cả đời đọc, nghiên cứu rất nhiều về thương mại. Nếu bảo họ lặp một kế hoạch cho một dự án kinh doanh hay quản lý dự án, trên giấy họ làm rất giỏi nhưng mấy ai bắt tay vào thực hiện nó thành công. Có mấy ai vận dụng điều mình học để sử dụng chúng ngoài cuộc đời thực một cách mỹ mãn.

Khi chúng ta tiếp cận quá nhiều thông tin như vậy và chúng rất hay bị vướn các lỗi lý luận đại loại như thế này. Chúng ta nhận các thông tin từ môi trường là internet và thường xem đó là chân lý. Có lần mình trao đổi với bạn mình về một vấn đề thì bạn mình bảo và khẳng định chắt nịch với mình thông tin đó là đúng. Vì mới vừa đọc trên trang xyz.com nó nói thế. Hoặc một câu chuyện vui thế này:

Nobita: Nobita yêu Suka

Jaian: Jaian cũng yêu Suka nữa.

Nobita: Hay là mình yêu nhau đi Jaian.

Thế là họ nắm tay dắt tay nhau đi.

Đây là một câu chuyện thư giãn nhưng nó thể hiện được một lỗi lý luận trong câu chuyện này. Chúng ta những người tiếp nhận quá nhiều thông tin, kiến thức hằng ngày. Kiến thức nó không xấu, thông tin cũng không xấu. Biết nhiều kiến thức là điều mà mỗi chúng ta cần phải phấn đấu và nên làm. Vấn đề ở đây chúng ta sở hữu kiến thức thật nhiều thì hãy vận dụng nó vào cuộc sống của mỗi chúng ta, đừng nên khi có một bụng kiến thức rồi lại dùng nó để thách thức những người xung quanh, tỏ ra ta đây hơn người, tỏ vẻ chúng ta là thuộc tầng lớp trí thức để rồi xem thường những người khác. Đấy là béo phì trí thức và lưu manh trí thức, đừng cố gắng trở nên như vậy nhé tôi và các bạn.

 

Mr Lias

Đừng sợ hãi những biến cố cuộc đời: tai nạn và tàn tật

Featured Image: Danielle Nelson

 

Cuộc đời chúng ta nhất định sẽ có lúc xảy ra những biến cố lớn hoặc nhỏ. Đó là điều không ai mong muốn, trông đợi hay thậm chí chỉ là nghĩ tới cả. Nhắc đến biến cố, trong ta chắc hẳn toàn dâng lên cảm giác sợ hãi, lo lắng và bất an khủng khiếp. Thay vì ngồi cầu nguyện biến cố đừng xảy ra, chúng ta hãy thử ngồi lại và nhìn thẳng vào chúng, như một bước chuẩn bị sẵn sàng để nếu chúng có xảy ra thật, ta sẽ không sợ hãi, ta sẽ không trốn tránh và than thở, mà sẽ đối mặt và đạp lên chúng để tiếp tục xây dựng một cuộc sống mới ngập tràn hy vọng.

Giống như câu chuyện, nếu tôi đưa bạn một tờ giấy bị nhỏ một giọt mực lên, và hỏi bạn thấy gì? Phần lớn mọi người sẽ trả lời, thấy giọt mực. Chỉ một số ít trả lời rằng họ thấy một giọt mực nhỏ trên tờ giấy trắng. Và càng ít hơn, người có thể thấy được bức tranh toàn cảnh: “Ồ, tôi thấy còn khá nhiều chỗ trống để sử dụng tờ giấy.” Đúng vậy, đó mới là câu trả lời chính xác và cần thiết đối với cuộc sống của chúng ta. Hãy tập trung vào những việc bạn có thể, thay vì không thể. Hãy để những biến cố cuộc đời trở thành những giọt mực nhỏ, trên một tờ giấy to, nó có thể không đẹp, nhưng chẳng ảnh hưởng gì mấy đến tác dụng của cả tờ giấy. Nếu như bạn cũng có thể đối xử với những biến cố cuộc đời như thế, bạn sẽ nhận ra, biến cố cũng không có gì quá đáng sợ

Có lẽ không ai muốn đọc điều này, nhưng, nếu như, chỉ nếu như một ngày, bạn trở thành một kẻ tàn tật, cơ thể không còn nguyên vẹn như lúc ban đầu. Hãy như anh chàng trong câu chuyện sau đây tôi từng được đọc.

Jack, một chàng thanh niên đẹp trai khỏe mạnh đã trở thành người tàn tật sau một tai nạn giao thông, anh không còn điều khiển hai chân của mình được nữa. Quá chán đời và thất vọng, anh giam mình trong bốn bức tường nhiều tháng trời. Đôi khi anh chỉ muốn chết đi cho xong. Lo sợ việc không hay xảy đến với con trai, mẹ anh đã đưa anh đến sinh hoạt tại một câu lạc bộ dành cho người khuyết tật. Tại đây, Jack đã gặp một người đàn ông trung niên, anh ta cũng như Jack, phải ngồi xe lăn suốt phần đời còn lại. Nhưng khác Jack ở chỗ, người đàn ông trung niên này trông tràn đầy sức sống và vô cùng tự tin.

Jack lấy làm lạ liền đến bên anh ta và hỏi: “Bị tàn tật thì có gì vui mà anh lại có thể vui vẻ như vậy?” Người đàn ông trung niên trả lời: “Này chàng trai, trước đây tôi cũng từng đau khổ và chán chường như cậu, thậm chí còn cố chết vài lần, nhưng ơn trời, tôi chỉ bị chết hụt.”- Anh ta cười lớn và nói tiếp – “Nhưng sau đó tôi đã nhận ra rằng, trước khi bị tai nạn, tôi có điều kiện và khả năng để làm 1000 việc, sau tai nạn, tôi chỉ còn khả năng làm 700 việc nữa thôi. Vậy nên, thay vì ngồi đó tiếc thương cho 300 việc không còn làm được nữa, tôi chọn cách làm hết 700 việc còn lại. Và giờ anh thấy đấy, tôi có thể chơi thể thao, tôi có thể kinh doanh tại nhà, tôi có thể ở bên và chăm sóc con cái nhiều hơn, thậm chí tôi còn viết sách nữa. Nói chung là tôi có thể làm rất rất nhiều những việc khác mà khi lành lặn tôi thậm chí còn không nghĩ tới.”

Nếu bạn là chàng Jack kia, khi nghe người đàn ông này chia sẻ như vậy, bạn có còn muốn ngồi một chỗ tiếc thương cho cuộc đời mình? Hay bạn sẽ bắt đầu suy nghĩ lại về cuộc đời và lên kế hoạch cho mọi việc bạn có thể làm mà không cần một đôi chân?

Tôi không nói đây là việc dễ dàng, nhưng chắc chắn nó là việc xứng đáng. Bạn cần có một nghị lực và bản lĩnh lớn lao. Bạn cần có trách nhiệm với chính cuộc đời mình thay vì bắt người khác phải ở bên hầu hạ. Bạn cần làm cho cuộc sống của bạn trở nên đáng giá. Một vài gợi ý thế này, bạn có thể trở thành giáo viên, bạn có thể viết sách hay tập trung nghiên cứu về lĩnh vực bạn yêu quý. Bạn có thể sáng tạo phát minh ra những thiết bị giúp ích cho mình và cho những người cùng cảnh ngộ như bạn. Và thậm chí, bạn có trăm ngàn công việc kinh doanh hấp dẫn khác để làm nữa. Như là nấu ăn, như là học ngoại ngữ và làm công việc dịch thuật, như là giữ trẻ hoặc làm về may vá, thiết kế thời trang. Thậm chí, khi bạn làm được điều này, bạn có thể mở những trung tâm dạy nghề khác cho người khuyết tật.

Hoặc chẳng may, một ngày đẹp trời, bạn phát hiện mình vô sinh. Không được làm cha mẹ là một thiệt thòi to lớn đối với bất cứ ai. Nhưng nếu bạn bình tĩnh nhìn theo một khía cạnh khác. Bạn sẽ nhận ra cuộc đời mình không thể vì thế mà kết thúc. Rằng bạn có thể làm những gì đối với biến cố này? Có thể bạn sẽ muốn yêu và cưới một người đàn ông/đàn bà đã có con riêng. Chắc hẳn bạn sẽ dành tình yêu thương cho nó thay vì mang lại nỗi sợ hãi “bánh đúc có xương” vào cuộc sống gia đình.

Có thể bạn sẽ muốn làm việc nhiều hơn tại các tổ chức từ thiện, trại trẻ mồ côi. Có thể bạn sẽ mang bản năng làm cha mẹ cùng tình thương của mình đến những mảnh đời bất hạnh ngoài xã hội đang cần đến nó. Có thể bạn sẽ muốn thành lập một chức phi lợi nhuận chuyên quyên góp hiện vật và tình yêu thương cho các bé mồ côi hoặc kêu gọi thành lập hội những người bảo vệ quyền trẻ em cũng là một việc không tồi đúng không?

Cuộc đời bạn sẽ rẽ theo hướng khác, tuy không tuyệt vời như khi bạn lành lặn, nhưng có thể, ý nghĩa hơn nhiều. Sống một cuộc đời ý nghĩa, ai lại không muốn chứ?

Thất nghiệp, thất tình, ngoại hình không nổi bật, tàn tật… là điều không ai muốn được trải nghiệm. Vì nó chỉ toàn gây ra những cảm giác tiêu cực, những phản ứng xấu xí. Vậy nên, nếu bạn có thể mở lòng mình ra và nhìn vào một bức tranh toàn cảnh, tôi tin bạn sẽ không còn sợ hãi chúng nữa. Bạn sẽ sẵn sàng đón nhận chúng theo cách người bình thường khó có thể làm được. Đó cũng chính là khi bạn vượt qua được giới hạn “bình thường” của bản thân để tiến lên một con người mới: mạnh mẽ, tươi mới và đầy lạc quan trước mọi biến cố cuộc đời.

Một tờ giấy bị cắt một góc, thay vì ngồi tiếc thương cho góc giấy bị cắt, bạn hãy tìm cách để sử dụng chỗ giấy còn lại một cách tối ưu. Một ly nước bị đổ phân nửa hãy nhớ rằng mình vẫn còn phân nửa để cám ơn. Một người tàn tật có thể không làm được 1/3 những việc anh ta có thể làm khi lành lặn. Nhưng thay vì tập trung vào 1/3 việc anh ta không thể làm nữa, điều tốt nhất là anh ta nên tập trung làm tất cả 2/3 có thể còn lại. Với niềm tin sắt đá, bản lĩnh và sự lạc quan không giới hạn, trong mắt nhiều người, anh ấy không còn là kẻ tàn tật nữa.

Bạn cũng vậy, nếu biết tập trung khi xảy ra những biến cố không mong muốn trong cuộc đời. Bạn sẽ nhận ra mình có thể làm được nhiều việc thế nào nếu có thể thay đổi cách nhìn nhận sự việc và tận dụng những ưu thế của những biến cố đó. Nếu như bạn có thể để không một giây phút nào trong đời dùng cho việc đau buồn, tiếc thương, trách móc… Thì cuộc sống của bạn, là một cuộc sống tuyệt vời. Mai này khi già cả và hồi tưởng về nó, bạn hẳn sẽ tự hào.

 

Phi Tuyết

Hai căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam: nói trễ và nói dối

Featured Image: Noah Weiner

 

Giới thiệu: Tuổi trẻ Việt Nam chậm tiến về nhận thức chính trị hơn các tuổi trẻ các nước khác. Đó là sự thật. Nhưng không phải tại các em. Nhận thức của các em sinh ra là những tờ giấy trắng, xã hội Việt Nam (trong trường hợp này là cơ chế CS) qua các phương tiện tẩy não đã viết lên đó một màu đen lạc hậu. Bài viết dưới đây, viết 9 năm trước, để phân tích bệnh “nói trễ và nói dối” tại Việt Nam. Phần sau của bài viết tôi dành phê bình các chi tiết sai của nhà văn Lê Lựu khi viết về thành phố Boston, nơi tôi đang sống, trong tác phẩm Một thời lầm lỗiTrở lại nước Mỹ của ông.

Tác phẩm Một thời lầm lỗi Trở lại nước Mỹ đã được đăng báo nhiều kỳ và xuất bản nhiều lần tại Việt Nam. Ngày nay, sở dĩ đa số tuổi trẻ Việt Nam còn “hát như vẹt”, sống như “chim công nghiệp” cũng tại vì những cây bút “chống Mỹ cứu nước” như thế này. Những “nhà văn” “nhà thơ” này là dầu, nhớt, mỡ của bộ máy độc tài toàn trị CS. Một khi họ trở thành cặn bã, bị cơ chế đào thải, bỏ rơi, lại có một lớp khác lên thay tiếp tục là nô bộc cho chế độ. Nhân việc so sánh tuổi trẻ Hong Kong và tuổi trẻ Việt Nam, xin chia sẻ bài viết với các bạn để thấy tai họa của cây bút vô trách nhiệm, thiếu tư cách đạo đức, đang sống trong thời đại toàn cầu hóa nhưng tư duy vẫn còn ở trong rừng:

Hai căn bệnh trầm kha của giáo dục Việt Nam: nói trễ và nói dối

Sinh viên, học sinh Việt Nam vẫn nghĩ khẩu hiệu: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người.” Là câu nói bất hủ của ông Hồ. Thật ra, câu nói đó lấy ý từ câu: “Nhất niên chi kế, mạc như thọ cốc, thập niên chi kế, mạc như thọ mộc, bách niên chi kế, mạc như thọ nhân.” Nghĩa là: “Kế hoạch cho một năm, không gì bằng trồng lúa, kế hoạch cho mười năm, không gì bằng trồng cây, kế hoạch cho trăm năm, không gì bằng trồng người.” Trong văn học Trung Quốc.

Dù sao, sau hơn nửa thế kỷ trồng người, nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, ngoài việc sinh ra các tình trạng mà Giáo sư Hoàng Tụy gọi là “nguy kịch” như chạy theo bằng cấp, bằng giả, học giả, làm luận án thuê v.v.., còn gây ra hai căn bệnh rất phổ biến trong xã hội Việt Nam, theo tôi, còn trầm trọng và khó chữa trị hơn nhiều, đó là bệnh nói trễ và nói dối.

Trẻ con trung bình vào khoảng hai, ba tuổi là bắt đầu tập nói. Nếu đến bốn tuổi mà chưa nói được, đứa bé sẽ bị xem như mắc triệu chứng nói trễ. Theo các tài liệu y khoa, đây không phải là căn bệnh làm chết người nhưng vẫn là một mối lo canh cánh bên lòng các bậc cha mẹ khi nghĩ đến việc con mình không biết nói. Chúng ta không hiểu được nỗi lòng của các em bé, nhưng chắc các em cũng khổ tâm ghê lắm khi không nói được một cách bình thường như những đứa trẻ khác.

Tôi không biết Việt Nam có bao nhiêu em bé bị mắc phải triệu chứng nói trễ, tuy nhiên, phát biểu trễ, trong đó tính chung cả nói và viết, thì rất đông. Ðông đến nỗi, khi có một em phát biểu được những gì em suy nghĩ, ai nấy đều xem đó như một hiện tượng lạ, không những cha mẹ em mừng, anh chị của em mừng, bà con em mừng, mà tám chục triệu đồng bào trong nước và cả hai triệu người Việt ở hải ngoại cũng mừng theo.

Ðó là trường hợp của em Nguyễn Phi Thanh, học sinh lớp 11A18 trường THPT Việt Ðức, Hà Nội. Trong lúc Autism Spectrum Disorders là do sự phát triển chậm của khu vực nói trong hệ thần kinh trẻ em, bệnh nói trễ ở Việt Nam là do nền giáo dục xã hội chủ nghĩa gây ra và tồn tại không chỉ trong trẻ em mà cả trong nhiều người lớn tuổi.

Nhận xét của em Phi Thanh về đề thi “Giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc” đã được báo chí trong và ngoài nước đăng tải khá nhiều, tôi chỉ trích một đoạn ngắn:

“Em nghĩ, đứng trước một tác phẩm văn học bao giờ cũng có ý kiến trái ngược khen–chê, hay-dở nhưng dường như học sinh bọn em chỉ có quyền thích, chỉ có quyền khen hay mà không có quyền nói lên chính kiến của mình, và việc phê bình văn học hình như chỉ là việc của các nhà phê bình. Phải chăng vì tư tưởng bảo thủ này mà suốt 63 năm qua, văn thơ của chúng ta chưa được “mới”? Nhìn ra, chỉ ra cái hay của một tác phẩm văn học đã khó, nhưng chỉ ra cái hạn chế, thiếu sót của tác phẩm ấy còn khó hơn nữa, vậy mà chưa bao giờ bọn em được tỏ rõ chính kiến của mình trong một bài thi cả, tất cả chỉ vì áp lực điểm số.”

Sự đồng tình của nhiều người, nhiều giới, trong đó có một số người đang làm công tác giáo dục, về bài viết của em Phi Thanh, chứng tỏ sự khát khao, chờ đợi của người dân dành cho một tiếng nói trung thực, một phản ứng tích cực thay vì rập khuôn một cách thụ động theo dấu chân của đảng trên con đường mòn giáo dục xã hội chủ nghĩa như năm chục năm qua.

Nền giáo dục vẹt tồn tại trong xã hội Việt Nam từ bao nhiêu năm qua đã giết chết mọi mầm mống sáng tạo tự nhiên trong con người. Không một giáo án, giáo trình, diễn văn, tham luận, tuyên ngôn, tuyên cáo nào mà không trích dẫn vài “lời dạy” của các lãnh tụ cộng sản. Sự nô lệ trí thức như là một loại vi trùng sinh sôi và lan rộng trong từng con người, qua nhiều thế hệ, xói mòn và tàn phá tính khai phóng, làm thui chột tính sáng tạo trong con người.

Trong lúc bệnh nói trễ dù sao cũng tùy trường hợp mỗi người, bệnh nói dối là cả một hệ thống, dối có chủ trương, dối có sách vở, dối có tổ chức. Ðó chính là một hậu quả tai hại khác của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam nói riêng và các nước xã hội chủ nghĩa nói chung.

Vì hoàn cảnh, con người phải lừa dối nhau để tồn tại. Ðiều đó đôi khi còn có thể thông cảm. Thế nhưng một tác phẩm văn học xây dựng trên sự lừa dối và nhằm mục đích lừa dối người khác là một điều không thể chấp nhận được. Rất tiếc, việc hình thành một đội ngũ của những người viết dối để phục vụ cho chế độ, cũng là một trong những đặc điểm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa.

Ðể chứng minh cho tính nói dối trong văn học Việt Nam, tôi xin giới thiệu đến độc giả một đoạn văn của nhà văn Lê Lựu viết về thành phố Boston, nơi tôi đang sống, trích trong tác phẩm Một thời lầm lỗiTrở lại nước Mỹ của ông, do nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản năm 2000.

Trước khi đánh máy lại đoạn văn của nhà văn Lê Lựu, tôi xin giới thiệu vài dòng về Boston, để độc giả chưa đến hay chưa biết nhiều về thành phố lịch sử này của nước Mỹ, có một khái niệm tổng quát về thành phố. Boston là trung tâm lịch sử và một trong những thành phố trù phú nhất của liên bang Hoa Kỳ. Nơi đây, từ bốn trăm năm trước đã có những di dân đầu tiên trên chiếc tàu Mayflower giong buồm tiến vào vịnh Provincetown, Cape Cod. Tên tuổi và địa danh của những quận như Concord, Lexington, Bunker Hill đã đi vào lịch sử vẻ vang của cuộc chiến tranh giành độc lập từ tay đế quốc Anh.

Boston cũng là thành phố kỹ thuật lớn, với hàng trăm công ty kỹ thuật cao cấp nằm hai bên các xa lộ chung quanh thành phố, và là trung tâm giáo dục hàng đầu thế giới với Đại học Harvard, Học viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT), Đại học Boston, Đại học Massachusetts và hàng chục trường đại học tên tuổi khác.

Theo thống kê năm 1990 (thời gian nhà văn Lê Lựu đến thăm), Boston có dân số là 574.282 người, với lợi tức trung bình của một gia đình Boston khoảng 40 ngàn Mỹ kim một năm. Giống như các thành phố lớn khác của Mỹ trong xã hội tư bản, bên cạnh sự thịnh vượng của thành phố, Boston cũng có những người không nhà. Hai lý do chính của tình trạng không có nơi ở (homelessness) là lợi tức tăng chậm hơn tiền mướn nhà và giá nhà ở tại Boston quá cao. Mỗi năm, Thị trưởng Boston công bố một thống kê chính thức về tình trạng không nhà của người dân Boston và các biện pháp ngăn ngừa. Năm 1992, Boston có 4411 người không có nơi riêng để ở và phải ở trong các khu nhà tạm trú (shelter) do chính phủ cung cấp với điều kiện sống chật chội và thiếu tiện nghi hơn ở nhà riêng.

Và sau đây là đoạn văn tả thành phố Boston của nhà văn Lê Lựu sau chuyến viếng thăm Boston của nhà văn vào năm 1989:

“Boston, thủ đô của nền văn hóa sang trọng, lịch lãm nhất nước Mỹ. Nhìn về Boston, người Mỹ có thể vênh vang ngửa mặt ra bốn phương mà kiêu ngạo, mà tự tin chỉ cần mặc chiếc quần soóc, chiếc áo may ô, bất kể đàn ông hay đàn bà có thể nghênh ngang đi khắp trái đất, không thèm nhìn ai. Vậy mà giữa bão tuyết của đêm mùa đông ngoài trời có hơn 130 ngàn người không cửa, không nhà.

Chị Liliên (bạn của nhà văn và là người làm việc ở trung tâm cứu trợ người nghèo) nói: Con số này tự tôi và đồng nghiệp của tôi đã đi đếm suốt đêm. Bằng mọi cách phản đối, kiến nghị lên chính phủ địa phương, chính phủ liên bang và kêu gọi lòng từ thiện của nhân dân, đến nay mới kiếm được chỗ ở cho 54 ngàn người, còn 77.600 người vẫn đêm đêm nằm lại vườn hoa và hè phố. Nhưng trong thực tế sẽ lớn hơn nhiều so với 77.600 vì mùa đông năm ngoái chúng tôi chưa đếm lại.”

Và trong đoạn sau, nhà văn Lê Lựu so sánh Boston và Hà Nội:

“Ở đất nước ta nghèo túng là thế, ở thủ đô có số dân bằng số dân Boston, mà đã ai trông thấy, đã ai đếm được con số một nghìn người đêm đêm lăn lóc ở lề đường, trong các vườn hoa Hà Nội! Sự giàu sang ở Hà Nội không thể đem so sánh với Boston. Ai làm công việc đó được coi như kẻ mắc bệnh tâm thần, kẻ dở hơi. Nhưng sự vất vưởng của con người Boston đem so sánh với Hà Nội cũng là giữa trời và vực.”

Nếu những dữ kiện của nhà văn Lê Lựu viết ra là đúng thì Boston, thành phố đầy kiêu hãnh của nước Mỹ, trong mùa đông đã có gần một phần tư dân số phải chịu cảnh màn trời chiếu đất.

Số người do chị Liliên nào đó và các bạn chị đếm cao hơn con số do Thị trưởng Boston công bố gấp 30 lần! Con số của chị Liliên chỉ cần đúng một nửa thôi, chẳng những Thị trưởng Boston mất chức, Thống đốc bang Massachusetts mất chức, mà cả Tổng thống Mỹ cũng phải từ chức vì nạn đói năm Ất Dậu ở Việt Nam hình như đang tái diễn ngay tại quốc gia cường thịnh nhất thế giới này. Chị Liliên (tạm cho là một nhân vật có thật), trong tư cách là người làm việc cho một cơ quan xã hội và hẳn nhiên am tường tình trạng không nhà, đào đâu ra con số vô cùng khủng khiếp và phi lý đến thế?

Hình ảnh 130 ngàn người lay lắt trong một thành phố với diện tích 125 cây số vuông như Boston, ngay cả đạo diễn các phim chiến tranh thế giới, chắc cũng không nghĩ ra. Boston, nếu quả thật như vậy, không còn là thành phố cảng tuyệt vời và là quê hương của John F. Kennedy, George Herbert Walker Bush, Quincy Adams, John Quincy Adams, Henry Wadsworth Longfellow, Ralph Waldo Emerson, Emily Dickinson mà là Rwanda, Bangladesh, Ethiopia.

Và cho dù chị Liliên là người có thật và thích bịa chuyện đi nữa, trong tư cách một nhà văn đã viết nhiều tác phẩm, không phải lần đầu tiên viếng thăm Mỹ, nhà văn Lê Lựu cũng nên có một thái độ nghi ngờ dữ kiện cần thiết, một lý trí trưởng thành để cân nhắc và đánh giá những gì nhà văn nghe, nhà văn thấy, trước khi cầm bút viết lại câu chuyện và in thành sách.

Và “một thời lầm lỡ” in thành sách rồi, khi tái bản vào năm 2000, nhà văn cũng nên xét lại những đoạn viết dối quá lố lăng để khỏi làm trò cười cho độc giả, nhất là các em du học sinh đang theo học tại Boston. Nhưng không, nhà văn vẫn nghĩ rằng những dữ kiện lạ lùng đó là sự thật và in lại mà không cần cắt bỏ. Nếu tác phẩm hay đoạn văn đó được dịch sang tiếng Anh, độc giả Mỹ sẽ nghĩ sao về tư cách và trình độ kiến thức phổ thông của một nhà văn Việt Nam?

Chắc chắn họ sẽ vô cùng thất vọng

Người Mỹ bỏ tiền mua vé máy bay cho nhà văn, lo chỗ ăn chỗ ở, đưa đón, hướng dẫn tham quan, tiếp xúc, thảo luận, không phải để nhà văn ca ngợi nước Mỹ hay chửi cha mắng mẹ họ, nhưng chính là để nhà văn được thấy sự thật và mang về lại Việt Nam sự thật của đời sống Mỹ, con người nước Mỹ, và qua trung gian nhà văn, các thế hệ trẻ Việt Nam có cơ hội hội nhập vào thế giới trong tinh thần cảm thông và đối thoại.

Nhà văn may mắn được đi tham quan nước ngoài, lẽ ra nên mang về lại nhà những tin tức khách quan, những cái mới, cái hay cái đẹp đang xảy ra phía bên kia ô cửa của ngôi trường nhỏ hẹp, để giúp cho sinh viên học sinh cơ hội được nhìn xa hơn, rộng hơn đến những chân trời văn minh của nhân loại. Nếu không được như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, thì nhà văn cũng không nên đào sâu thêm hận thù, ganh ghét trong lòng người dân hai nước.

Ðọc xong tác phẩm Một thời lầm lỗiTrở lại nước Mỹ, các em học sinh Việt Nam có thể nghĩ rằng không chỉ Việt Nam nghèo nàn, mà ngay cả một siêu cường cỡ Mỹ cũng đang khốn đốn vì miếng cơm manh áo; không phải chỉ Việt Nam có những kẻ khố rách áo ôm, mà nước Mỹ cũng đầy những cảnh đầu đường xó chợ.

Thưa nhà văn, thời đại của “trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ, đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sĩ” đã qua xa rồi. Hãy để cho các em có cơ hội được thấy những đổi thay bên ngoài đất nước. Không có sự so sánh thì làm sao các em biết nỗ lực để vươn lên.

Nhà văn cũng không cần phải bôi đen thành phố lịch sử Boston của Mỹ chỉ để chứng minh cho cái nghèo nhưng sạch, rách nhưng thơm của Hà Nội như là “giữa trời và vực”. Kỹ thuật tự khen mình bằng cách bêu xấu đối phương không phải tư cách của một người lương thiện, và tương tự, hạ thấp giá trị của thành phố nhà văn đang thăm viếng chỉ để biện hộ cho cái mặc cảm nghèo nàn của một thành phố Việt Nam không phải là cách viết của một nhà văn trưởng thành và thái độ của một con người lịch sự.

Hà Nội không cần nhà văn ca ngợi hay binh vực bằng phương cách đó. Trong trái tim của mỗi người Việt Nam, dù trong nước hay ngoài nước, Hà Nội tuy nghèo, Hà Nội tuy xưa, Hà Nội tuy cũ, nhưng Hà Nội vẫn uy nghi như một trung tâm văn hóa lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Nếu ai nói khác hay khinh thường Hà Nội, không đợi đến nhà văn đứng ra bảo vệ mà tám chục triệu người, trong đó có kẻ viết bài này, sẽ làm công việc đó. Ca ngợi Hà Nội như cách của nhà văn chẳng khác gì trét bùn lên một bức tranh tuyệt mỹ.

Ðộc giả sẽ thắc mắc, làm thế nào một nhà văn như đại tá Lê Lựu lại có thể viết những chuyện xa vời thực tế như thế. Câu trả lời chắc sẽ dành cho nhà văn mặc dù những tham luận, bút ký có khả năng giết người vẫn nhan nhản trong xã hội cộng sản, sá chi là chuyện vài con số tuyên truyền. Với tôi, câu trả lời rơi vào một trong hai trường hợp, nếu chị Liliên không nói thì chính nhà văn đã viết dối và nếu chị Liliên không biết đếm thì nhà văn là người không có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa giả dối và thành thật.

Chúng ta thường lo âu về những tình trạng chậm tiến về khoa học kỹ thuật, nghèo nàn lạc hậu về kinh tế, nhưng nghĩ cho cùng, cái nghèo đói trí thức, nghèo đói tinh thần, nghèo đói đạo đức tại Việt Nam còn trầm trọng và thúc bách hơn nhiều.

Với óc cần cù, thông minh của người Việt và cơ hội học hỏi khắp năm châu, chúng ta không phải quá lo lắng về một nền khoa học hiện đại, một nền kỹ thuật hiện đại. Ðiều đáng lo lắng nhất vẫn là làm thế nào để có những con người Việt Nam biết sống lương thiện và thành thật, làm thế nào có được một nền giáo dục biết đặt cơ sở trên tinh thần nhân bản, dân tộc và khai phóng thật sự làm nền tảng cho một xã hội dân chủ pháp trị tiên tiến trong tương lai. Ðó là một cuộc cách mạng tư duy và tâm thức lâu dài.

Mới chỉ năm mươi năm thôi mà các giá trị luân lý, đạo đức Việt Nam đã suy đồi và băng hoại đến thế này, nếu đợi đúng “một trăm năm trồng người” xong thì đất nước sẽ ra sao?

 

Trần Trung Đạo

Hố sâu kề bên vườn xoan nhà chú ếch con

Featured Image: Lora-Zombie

 

Nhân tình cờ đọc bài “Biến trẻ thành cụ non”[1] của cô Hoàng Xuân, một bài viết được chia sẻ khá nhiều trên mạng xã hội gần đây. Nói một cách tóm lược, theo như cô Hoàng Xuân, thứ nhất là trẻ con “trong trẻo, hồn nhiên”, thứ hai là chúng ta không thiếu bài hát hay cho thiếu nhi, nên đừng bắt trẻ con phải gắng gượng hát những bài ca của người lớn. Về phần mình, tôi cũng muốn chia sẻ một số ý kiến cá nhân, với những ví dụ minh họa gần gũi nhất có thể với tất cả mọi người, đồng thời phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại.

Thế nào là trong sáng?

Ta thường nói những đứa trẻ sơ sinh là hiện thân của sự thánh thiện, bởi ở chúng không có bất cứ suy nghĩ xấu xa nào. Đúng hơn, chúng chưa có bất kỳ suy nghĩ nào. Và ta gọi đó là sự trong sáng. Vậy khi lớn dần lên, chúng va vấp nhiều với cuộc sống, thấy những điều bất công, tâm trạng thường xuyên ưu tư, trí óc nhiều khi trăn trở, như thế là không còn trong sáng? Dù cho chúng vẫn là người lương thiện hết mực?

Tôi quan niệm “trong sáng” ở thời đại này theo cách khác. Cái trong sáng của trẻ sơ sinh, ấy là bởi chúng chưa biết gì. Quan niệm trong sáng của tôi ở đây là biết tất cả, nhưng không làm điều xấu.

Thứ nhất, bởi ngày nay thông tin đã được truyền tải và cập nhật đến từng nhà, từng người, một cách “quá nhanh, quá nguy hiểm”, thì một đứa trẻ năm tuổi cũng đã được tiếp xúc rất nhiều thông tin. Làm thế nào trong tình cảnh đó, chúng ta có thể ép chúng phải trong sáng theo kiểu “chưa biết gì”? Điều đó là bất khả.

Thứ hai, với một khối óc không có nhiều hiểu biết sớm về thế giới bên ngoài, liệu khi lớn lên chúng có đủ khả năng để đối phó và tự bảo vệ mình trước những hiểm họa của cuộc sống bên ngoài? Tội phạm ở độ tuổi trẻ em ngày càng gia tăng, nếu không có hiểu biết, chúng làm sao tránh được sa ngã?

Ai đã xem bộ truyện tranh “Bảy viên ngọc rồng” đều biết đến đám mây “cân đẩu vân”, nó chỉ cho những ai có tâm hồn trong sáng ngồi lên. Và Songoku đã ngồi lên nó từ khi còn là cậu bé ba tuổi đến năm sáu mươi. Một người đã làm ông nội, chiến đấu chống bao kẻ âm mưu làm bá chủ thế giới, thâu tóm vũ trụ, chẳng lẽ lại không biết đến điều xấu? Ông biết rõ cái xấu, nhưng tránh xa cái xấu, đấu tranh tiêu diệt cái xấu, và “cân đẩu vân” mãi luôn chào đón ông.

Nhà khoa học máy tính Lý Khai Phục cũng đã từng chia sẻ trong bài “Đàn ông, nếu đã hai mươi, nếu chưa hai lăm” rằng: “Em không có quyền ngồi trong cái tháp ngà của trường học, rồi bảo em yêu thế giới này tươi đẹp. Tôi muốn em phải nhìn thấy cái đen tối của thế giới, sự bẩn thỉu của cuộc đời, sự xấu xa của con người, sau đó mới nói rằng em vẫn yêu thế giới này, em vẫn yêu cuộc sống và em sống.”[2] Theo thiển ý của tôi, câu này dành cho mọi lứa tuổi.

Thiết nghĩ, đó mới là cái trong sáng tối thượng.

Cái hố sâu làm gì trong vườn nhà chú ếch con?

Tuy nhiên, hầu hết mọi bậc phụ huynh đều muốn ngăn chặn con cái tiếp xúc với cái xấu. Nhân cô Hoàng Xuân nói về các bài hát thiếu nhi, tôi cũng muốn kể một chuyện, chuyện thằng em hàng xóm hay qua nhà tôi chơi, lúc nó còn nhỏ xíu, độ hơn bốn tuổi. Có lần đang nghe bài hát “Chú ếch con” của nhạc sĩ Phan Nhân, nó đột ngột hỏi tôi: “Sao mẹ nói với em là con còn nhỏ phải đi học, mà chú ếch lớn rồi, làm chú rồi, mà vẫn còn phải ngồi học bài vậy anh? Mà sao kế bên vườn xoan lại có cái hố sâu kỳ vậy anh?”

Câu đầu làm tôi phì cười, nhưng câu sau tôi hơi thấy lạ. Tua lại cuốn băng, tôi nghe thấy đúng là cô bé trong băng đang hát: “Chú ngồi học bài một mình bên hố sâu kề vườn xoan.” Ngày xưa khi tôi học hát bài này thì phần lời đó là “hố bom kề vườn xoan”. Bài hát được viết trước 75, thời mà hố bom nhà nào cũng có. Tôi không thể giải thích cho một thằng bé bốn tuổi về sự hãi hùng của chiến tranh, nhưng bom thì nó biết, là cái “đụng là nổ cái bùm, chết liền”, nên nó có thể hiểu vì sao lại có hố bom.

Đây chỉ là một ví dụ, có thể bài hát sau khi truyền miệng thì trở thành một dị bản vô tình. Nhưng trên thực tế, chuyện những bài hát thiếu nhi bị sửa lời không hiếm (ví dụ như bài “Khăn quàng thắp sáng bình minh” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người ta vẫn ghi “Nhạc và lời: Trịnh Công Sơn”, nhưng bao nhiêu phần còn lại trong đó thực sự là bút tích của Trịnh?), đa phần là vì quan niệm: “Những cái đó, để trẻ con biết sớm làm gì?” Cái tâm lý né tránh đó chẳng đưa đến đâu cả, nó chỉ kéo dài cái quãng thời gian “không biết gì”, và “không có phương pháp phòng vệ” của trẻ em. Điều đó rất nguy hiểm. Nếu chúng không biết thế nào là tốt xấu, làm sao chúng tránh xa những đứa bạn xấu ở trường? Nhất là trong bối cảnh trẻ con thời nay lớn rất sớm, tiếp xúc rất nhiều thông tin. Cha mẹ cấm cản thì chúng thỏa trí tò mò ở bạn bè, và không hề phòng vệ.

Vẽ đường cho hươu chạy, có gì sai?

Ngày nay cha mẹ không có nhiều thời gian bên con cái, nhất là đối với những gia đình ở thành phố. Chúng đa phần được đưa đến nhà trẻ, hoặc do những cô giúp việc chăm nom. Chúng bắt gặp rất nhiều khái niệm mới từ nhỏ. Và hiểu theo cách riêng của mình. Chúng học hỏi theo cách ấy: thu thập những ý niệm, hình dung về nó, và đến khi lớn lên, một ngày đẹp trời chúng sẽ thốt lên: “À, thì ra chính xác nó là như thế.”

Còn về nhạc, chúng sẽ được nghe nhiều lắm. Hàng xóm bật loa to ầm ầm, các cửa hàng buôn bán ngoài đường, thậm chí các xe bán kem hay kẹo kéo dạo vẫn mở băng “cho cả xóm cùng thưởng thức”. Chúng nghe nhiều như vậy, hằng ngày như vậy, bắt chúng đừng nhập tâm, suốt ngày phải “hổng dám đâu”, là vô lý!

Chúng ta không cho chúng hát những bài hát của người lớn, nhưng chúng ta vẫn kể chuyện cổ tích cho chúng nghe. Chúng đã nghe chuyện “Hòn Vọng Phu”, thì chúng sao lại không thể hát “Đá trông chồng”? Chúng không biết những cảm giác yêu đương “gặp nhau là say, say ngất say ngây”, nhưng chúng biết rằng tình cảm gia đình, bố mẹ yêu thương nhau là có thật. Chúng không biết thế nào là chiến tranh, nhưng chúng biết rằng nó đáng sợ lắm, ghê gớm lắm, và cầu trời đừng để nó diễn ra. Còn về chi tiết hơn, lớn lên chúng sẽ nghiệm ra.

Thứ đến, chúng nghe nhạc người lớn, đâu có nghĩa là chúng không nghe nhạc thiếu nhi? Chúng nghêu ngao về tình yêu thì đâu phải là chiều chiều chúng không còn thơi thả diều? Cứ để chúng thấy tất cả và tự do lựa chọn cho mình.

Hơn nữa, chúng ta là người lớn, đều từng qua thời trẻ con, đều từng thấm thía một điều rằng: những cái thuộc về thế giới người lớn, những điều người lớn vẫn bảo “tụi con còn nhỏ lắm, lớn lên rồi ba mẹ nói”, đối với trẻ còn luôn hấp dẫn khôn cùng. Ta càng cấm cản, chúng càng tìm mọi cách để biết. Lấy gì đảm bảo chúng sẽ không hiểu sai, lệch lạc vấn đề?

Ông cụ non hay “mãi mãi tuổi sơ sinh”?

Trẻ con hát nhạc tình yêu người lớn không xấu, tôi chỉ phản đối nếu chúng say mê những bài hát ủy mỵ, trầm cảm, chán đời, nói khái quát là những loại tình cảm tiêu cực. Để chúng có ý niệm rằng tình yêu thật đẹp, có vui có buồn, có yêu thương, có chia tay, có hết thảy mọi cung bậc, thậm chí đễn nỗi đau chia ly do tình yêu đem lại cũng đẹp khôn cùng, để rồi khi lớn lên chúng tự trải nghiệm và cảm nhận, vẫn hơn là để chúng coi tình yêu luôn là điều gì đó ướt át, và thất tình thì thật là sầu đời, mọi thứ chẳng còn nghĩa lý gì cả.

Các nền giáo dục tiên tiến luôn cố gắng tập cho trẻ tiếp xúc với thực tế sớm. Lớp học vốn dĩ là xã hội thu nhỏ đủ mọi tính cách tốt xấu. Những đội hướng đạo sinh được lập ra với mục đích trang bị cho trẻ những biện pháp đối đầu với mọi tình huống trong cuộc sống. Chúng ta thì ngược lại, muốn trẻ em “chỉ biết học thôi, chẳng biết gì”. Vậy việc học còn có ích gì mấy? Mỗi lần cãi nhau với bạn, chúng không thể tự mình tìm cách xử lý tranh chấp, mà luôn kết thúc bằng câu “mày chờ đó, tao về méc má”, không phải là điều hay. Chúng ta quan sát để can thiệp kịp thời, nhưng nếu chưa có gì nghiêm trọng, thì cứ để trẻ con tự xử lý với nhau, rồi sau mỗi mâu thuẫn, chúng lại trưởng thành hơn. Đó là giáo dục thời hiện đại.

Trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, để trẻ con làm ông cụ non thì an toàn và vững vàng hơn nhiều so với việc để chúng “mãi mãi tuổi sơ sinh”, và kết thúc bằng việc “chết vì thiếu hiểu biết”.

Thà chúng ta tìm cách để bầy hươu đừng chạy sai đường, còn hơn để chúng tự mò mẫm rồi lạc lối, vô phương cứu vãn. Nếu không thì có khi chúng lại thắc mắc: “Cái hố sâu đào bên vườn xoan đó để làm gì? Chuẩn bị ngâm rượu ếch à?”

 

Trần Sơn Huy

Tham khảo: