13.5 C
Da Lat
Thứ Bảy, 14 Tháng 3, 2026

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
Trang chủ Blog Trang 164

Kẻ 20 xem kịch 20

Ba tôi từng nói: “Đó giờ xem kịch chỉ Dạ Cổ Hoài Lang là hay nhất, ngay cả Bí Mật Vườn Lệ Chi hay Ngàn Năm Tình Sử có công phu mấy cũng không bằng. Đơn giản, nhẹ nhàng vẫn là nhất.” Còn những người trẻ như tôi, xem kịch phải xem hài vừa vui, vừa giải trí. Cả ngày mệt lắm rồi, dại gì rước thêm “bi” vào cho nặng mình, để dành nước mắt cho chuyện của mình còn hơn là chuyện của người.

Thế nên, khi “Dạ Cổ Hoài Lang” được dựng lại sau 20 năm ở sân khấu Idécaf thì tôi cũng không hào hứng lắm. Trong suy nghĩ của tôi thì chắc vở này nói về chuyện yêu đương những năm 30-40 thế kỷ trước, đúng như cái tên gọi của nó, chắc là hội đồng-tá điền-kép hát thôi… Nhưng không, bối cảnh câu chuyện diễn ra xuyên suốt ở nơi đất khách, lạnh lẽo, trống trải… nơi mùa đông tuyết che lấp đi mọi nẻo đường. Đó cũng là câu chuyện đầy tình cảm, nam có, nữ có, nhưng tuổi đời, lối sống, suy nghĩ của họ cách xa nhau cả 2 thế hệ.

Chú Thành Lộc vẫn hoạt ngôn, làm chủ vở kịch, một ông Tư già bị gia đình đứa con bỏ trong viện dưỡng lão (nơi mà ông hay gọi vui là “trại tâm thần”). Ông thèm được ở gia đình con, được sống cùng gia đình đứa con trai duy nhất, cùng đứa cháu nội tuổi mới lớn với những suy nghĩ bồng bột (mãi đến sau này tôi mới biết, hình tượng ông Tư được khắc họa trên chính hình tượng NS Thành Tôn – ba của chú).

Một ông Năm – Hữu Châu là người bạn thân nhất của ông Tư, hai người cùng làng, cùng lớn lên, cùng yêu một người, để rồi vì tài nghệ kép hát mà ông Tư lấy được bà Tư, còn ông Năm đành tức tưởi bấy nhiêu năm chỉ vì không biết hát. Họ gặp nhau ở trời Tây, trở thành đôi bạn mấy mươi năm, họ thèm quê hương, họ thèm được thấy lũy tre, bờ đê, con sông, thèm mùi đất của quê mình, thèm cả những trò “nghịch dại” mà khi nhỏ từng chơi.

Đúng ngày giổ của bà Tư, ông Tư trốn viện về nhà, định làm mâm cơm cúng bà Tư nhưng con trai đi làm quên giỗ mẹ, cháu nội thì lo cho người yêu nên ông phải lén “mượn” cái bánh kem của đứa cháu làm tặng bạn trai để cúng cho bà. Ông Năm là khách mời duy nhất của lễ giỗ, họ lại hát “Dạ cổ hoài lang”, họ trách quá khứ, họ khóc cười cùng kỷ niệm quê hương.

Đỉnh điểm cho bi kịch khi đứa cháu gái tức giận khi ông nội điên quấy phá gia đình, ông treo những tấm màn có lũy tre, con sông, bờ đê do chính tay ông vẽ nên trong những ngày ở viện. Nó gào khóc trút hết sự tức giận, sự sợ hãi lên đầu ông nội, nó sinh ra tại một đất nước xa xôi không biết quê hương là gì, chỉ thấy quê hương qua hình ảnh hai lão già điên lâu lâu lại lẩm bẩm một mình hay thậm chí leo lên mái nhà giữa trời tuyết, nó kinh sợ ông nội vì cho rằng ông quậy phá, điên khùng, bệnh hoạn, lén đọc nhật ký của ba nó, làm khổ gia đình, ông là gánh nặng khiến ba mẹ nó suốt ngày cãi vả, ông là người khiến ba nó phải làm việc suốt ngày mới đủ trang trải cho cuộc sống. Nếu quê hương là hình ảnh ông nội và ông Năm thì nó sẵn sàng chối bỏ và không cần cái quê hương đó.

Bao nhiêu hiểu lầm của đứa cháu gái được giải bày sau khi ông nội cùng ông Năm khoác tay nhau bước đi giữa trận bão tuyết. Nhờ người bạn trai khuyên bảo, đọc cho nó nghe cuốn nhật ký của ba nó, nó mới biết được sự thật.

Sở dĩ ba nó không muốn nhắc về Việt Nam vì ba má nó sợ nó bị trả thù. Bởi trong lần vượt biên ra đi, ba má nó lênh đênh trên biển, trôi dạt khắp các thuyền bè, hòn đảo. Ba nó nghe được âm mưu của nhóm người giả vờ nhân đạo nhưng thực chất là muốn cướp bóc, hãm hiếp rồi đục thuyền cho chìm giữa biển, nên chuyến đó ba má nó giả bệnh không lên thuyền. Chính nhờ vậy mà bảo toàn mạng sống và vượt biên thành công.

Từ đó, ba nó sợ, ba nó ám ảnh về sự hèn nhát của mình. Ba nó khát khao về quê hương nhưng lại sợ, ba nó nhớ quê hương da diết nhưng hình ảnh vượt biên năm nào lại làm ba nó sợ. Bằng cách nào đó, ba nó làm thật nhiều tiền mong rước ông bà nội nó qua, nhưng bà không kịp đi nên mãi mãi nằm lại trên quê hương, còn ông nội đó cũng không muốn rời khỏi quê hương, muốn bên cạnh bà, nhưng lời trăn trối trước khi chết bà muốn ông sang đoàn tụ gia đình.

Cũng chính bi kịch vượt biên đã khiến người cha ám ảnh về quá khứ, đứa con gái không hiểu chuyện nghĩ xấu về ông nội, gia đình, về quê hương. Nó chối bỏ quê hương bởi nó nghĩ ba nó cũng ghét quê hương nhưng thực ra đó là sự thèm khát được trở về nhưng không dám. Nhờ những dòng chữ, những bức ảnh người bạn trai chụp được trong chuyến về Việt Nam, nó mới thấy được quê hương của nó đẹp lắm.

Quê hương của nó là con sông ông nội đã chèo ghe ra giữa dòng để báo cho cả làng ngày nó ra đời. Quê hương của nó là cây khế trước sân mà bà nội đã chăm sóc, chờ nó về hái quả. Quê hương của nó chính là ông nội, là bà nội, là ông Năm… Khi nhận ra mọi thứ, nó chạy ra đường để tìm ông nội và ông Năm đang đứng trên nóc nhà giữa trời giá lạnh, nó muốn òa khóc xin lỗi, mong được tha thứ vì sự nông nỗi của mình

Ông Tư và ông Năm đi tìm quê hương trên những ống khói nhấp nhô như hình chiếc nón lá, tuyết phủ bao quanh làm hai ông gợi nhớ hình ảnh những nữ sinh mặc áo dài trắng thướt tha nón lá đến trường. Đó là quê hương, quê hương ở khắp mọi nơi nếu trong trái tim mình luôn khát khao, mong mỏi. Hai ông lại ngân nga “Dạ cổ hoài lang”, lần này ông Năm hát cho ông Tư nghe, tuyết vẫn rơi dầy. Ông Tư chết trên vai người bạn tri kỷ nên nóc nhà đầy tuyết, trong tiếng hát “Dạ cổ hoài lang” khàn đục của ông Năm, ông đã về với quê hương, khi đứa cháu gái chưa kịp nói lời xin lỗi.

Khán giả vỗ tay liên tục, khiến 4 diễn viên cúi chào rất nhiều lần, đâu đó sụt sịt tiếng khóc. Tôi thậm chí nhìn thấy dòng nước mắt hiện rõ trên gương mặt của Chú Thành Lộc, Chú Hữu Châu, Anh Lương Thế Thành và cả Chị Vân Trang. Có người nhớ quê hương, có người nghĩ phận đời, có người cảm thông cho người thân xa xứ, có người chua xót cho phận đời vượt biên…

“Chàng hỡi chàng có hay
Đêm thiếp nằm luống những sầu tây
Biết bao thuở đó đây sum vầy
Duyên sắc đừng lạt phai…
Thiếp nguyện theo chàng
Nguyện cho chàng hai chữ an bình an
Mau trở lại gia đàng
Cho én nhạn hiệp đôi…” – Đó là khi tôi thấm thía câu nói của ba.

 

Vy Nguyen

Tiếc nuối…

Featured Image: Vitaly & Julia Zaporozhenko

 

Cuộc đời con người là một chuỗi những điều tiếc nuối. Có những tiếc nuối mà qua thời gian có thể sửa sai được, tuy nhiên điều.. tiếc nuối nhất lại là có những sự việc, vấn đề đã qua đi mà khi nhìn lại dù có thời gian ta cũng không thể sửa chữa được. Với tôi, điều tiếc nuối nhất là đã… đi học đại học!

Nếu thời gian quay trở lại, nếu ngày xưa có nhiều thông tin như bây giờ? Nếu như trước kia có được những thông tin quý giá như… sự bỏ học giữa chừng của những thiên tài sáng tạo như Bill Gates, Steve Jobs… Nếu như ta biết được rằng, trước kia phải mất nhiều năm để đào tạo những tiến sĩ làm việc cho các công ty chứng khoán Mỹ giúp giải quyết những bài toán tích phân thì bây giờ để giải những bài toán như thế, những người trình độ bình thường chỉ cần tham gia một khóa học kỹ năng giải Toán cao cấp vài tháng là giải được (ý một bài viết trên báo TG & VN)!

Nếu như hiểu được sâu sắc câu nói của Albert Eistein: “Sự sáng tạo quan trọng hơn tri thức.” Nếu như được nghe sớm câu nói của Bố Già Vito Corleone với con trai Maicon: “Bốn năm học ở đại học của mày không bằng một đêm đi nhà thổ.“ (Bố già – Mario Puzzo). Nếu như ý thức được rằng “tự học, tự học mọi lúc mọi nơi, tự học suốt đời” mới là hình thức giáo dục cao nhất và đúng đắn nhất. Nếu như biết sớm rằng trong tình hình giáo dục khủng hoảng thì “tự giáo dục” là quan trọng nhất.

Dù biết “Tất cả những gì tôi có được là nhờ sự học tập” (Barack Obama); “Vấn đề giáo dục được coi là tuyệt đối trong mỗi gia đình Việt Nam” (trích bài phát biểu của GS Ngô Bảo Châu tại lễ chúc mừng nhân GS đoạt giải Field); “Tri thức là sức mạnh” (Francis Bacon) nhưng cũng chỉ nên đi học đại học khi nào nền giáo dục nước ta thực sự trung thực, thực sự phát triển. Còn nền giáo dục như hiện nay của chúng ta thì… không nên đi học đại học làm gì mà nên… tự học, tự nghiên cứu chắc sẽ tốt hơn là đi học đại học!

Không nên phí hoài thời tuổi trẻ sung sức nhất cả về sức khỏe lẫn open-minded (tâm hồn rộng mở), tiền bạc trong bốn năm đại học của mình trên giảng đường với những bài học vô bổ; những buổi học thụ động: thầy đọc, trò chép; những buổi học không có chút sáng tạo nào… Nhưng thời gian trôi qua mất rồi, biết làm sao được bởi tôi… đã đi học và đã học xong… đại học. Thật tiếc nuối nhưng… “C’est la vie” – Đời là thế!

Nếu thời gian quay trở lại, tôi sẽ… bỏ học ngay trong buổi đầu tiên bước chân đến giảng đường! “Trả lại cho em khung trời đại học, con đường đi học đầy hoa điệp vàng, đầy lá me bay, đầy hoa phượng đỏ…” để lao vào cuộc sống. Lao vào cuộc sống ở đây không phải là rồi sẽ đem tiền mua bất động sản để đầu cơ; khai thác tài nguyên rồi bán rẻ cho nước ngoài… – những cách làm ăn ít có tác dụng tích cực thậm chí chỉ làm hại trong việc thúc đẩy sự phát triển đất nước mà thôi.

Đó là những cách làm ăn ở tầm thấp: manh mún, tủn mủn mang tính chộp giật và nhất thời; là tư duy và suy nghĩ của nhân loại trăm năm về trước; là những lối mòn mà người ta đã đi mòn gót. “Việt Nam đang cố gắng học những gì chúng tôi đã bỏ đi” (Sao quê hương mình già nua đến vậy? – TS Alan Phan)… “Sao chúng ta không cạnh tranh sản xuất những sản phẩm kiểu như iPad, máy Photocopy… mà chúng ta lại chỉ đi cạnh tranh ở việc sản xuất những sản phẩm kiểu như thùng đựng rác…” (ý một bài viết trên Vietnamnet).

Tôi sẽ lao vào cuộc sống với tâm thế của một người trẻ có tri thức, nhiều khát khao cống hiến, open – minded… với hướng đi chắc chắn sẽ là tập trung vào nghiên cứu sáng tạo rồi thương mại hóa sản phẩm trí tuệ của mình (giống như các công ty sáng tạo). Nếu như đi theo hướng này thì sẽ gặp vô vàn khó khăn nhưng với nhiệt huyết của tuổi trẻ, và quan trọng nữa là có nhiều thời gian thì chắc chắn là sẽ có nhiều cơ hội để thành công, sẽ đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Mà thành công hay không thành công thì mình đã có thể phát triển tới giới hạn của mình (một ý trong tiểu thuyết siêu kinh điển Suối Nguồn), được là mình. Và đây mới là điều quan trọng nhất của cuộc đời!

Một phần khác của tâm trạng tiếc nuối là khi nghĩ đến nhiều bạn trẻ học sinh, sinh viên những thế hệ sau. Các bạn vẫn đi vào lối mòn mà nhiều thế thế hệ trước đã đi mòn gót, vẫn “cố gắng sáng tạo cái bánh xe”… Rất nhiều bạn học sinh, sinh viên vẫn đang từng ngày từng giờ phí hoài điều quý giá nhất của mình là tuổi trẻ. Bây giờ mà gặp một bạn trẻ say sưa đọc sách thì hiếm lắm. Hỏi các bạn trẻ có biết những tác phẩm kinh điển như Bố Già, Cuốn Theo Chiều Gió, Suối Nguồn, Số Phận Con Người, Bà Bôravy…hay không thì phần lớn câu trả lời là: không!

Bởi họ còn đang mải chạy theo các giá trị ảo với minh chứng là số hồ sơ vào các trường Kinh tế, Tài chính (những yếu tố liên quan đến phần ngọn của sự phát triển của quốc gia) tăng cao; trong khi số hồ sơ vào các trường KHKT, nghiên cứu cơ bản (những yếu tố liên quan đến phần gốc của sự phát triển của quốc gia) giảm. “Nhà đầu tư nước ngoài hấp dẫn bởi dân số trẻ trung của người Việt Nam nhưng sau khi họ đến họ đã thất vọng. ‘Những người trẻ suốt ngày coffee, nhậu nhẹt, bài bạc, thụ động sẽ không đồng nghĩa với sự sáng tạo. Những người này sẽ đóng góp gì cho sự phát triển của đất nước đây? Sao quê hương mình già nua đến vậy ?” (TS Alan Phan).

Nếu may mắn được đi học thì hãy học, hãy cháy hết mình. Ngược lại, nếu lười học, không đam mê ngành học… thì hãy dừng học ngay lập tức để cho không phí hoài tuổi trẻ bạn nhé. Người ta nói “những gì khi mất mới thấy tiếc” không sai. Hãy đừng để mất rồi mới hối hận, đừng lãng phí tuổi trẻ của mình nữa, tỉnh lại đi các bạn trẻ ơi, tỉnh lại đi trước khi quá muộn!

Là người đã có chút trải nghiệm trong cuộc sống nhưng nhiều lúc tôi vẫn chảy nước mắt vì tiếc nuối đã đi học đại học. Những lúc như thế tôi lại tự nhủ lòng mình: “Thôi mà, thời gian đã qua rồi, không thể lấy lại được.“ Để tự an ủi. Vả lại những suy nghĩ như trên cũng là do những sự trải nghiệm từ những năm học đại học, từ những… va đập (chữ của Nguyễn Trần Bạt) trong cuộc sống mới có được. Những suy nghĩ đó nhất định là sự định hướng cho mình những bước đi tích cực tiến tới tương lai! “Ta không đoán định được tương lai nhưng cuộc đời là kết quả của sự kết nối những gì ta nghĩ, ta làm…” (Steve Jobs).

Giờ đây, tôi sẽ bước vào cuộc sống với tâm thế của một người trẻ có tri thức và open-minded… “Nếu một khi Scalett này đã muốn là sẽ thực hiện được! Và ngày mai sẽ là một ngày mới.” (câu kết của tiểu thuyết Cuốn Theo Chiều Gió). Vâng đúng vậy, mà không phải ngày mai, hôm nay sẽ là một ngày mới…

 

Phạm AQ
(HN, 08-2014)

Văn hóa – Ước gì tôi có thể tự hào!

 

 

Lâu lắm tôi mới xem truyền hình, sáng hôm rồi, khi ở lại nhà cô bạn thân trong chuyến công tác. Chưa kịp mở mắt tôi đã nghe tiếng TV véo von cái gì đó, lặp đi lặp lại cụm từ “Tôi tự hào là người Việt Nam.” Bất giác tôi thở dài. Tôi ước chương trình đó được phát thật lâu, đủ cho những người có mặt trong clip, mỗi người đủ thời gian để nêu lên một lý do, rằng họ tự hào về điều gì, lý do gì khiến họ tươi cười rạng rỡ nói rằng “tôi tự hào là người Việt Nam”? Tôi thật sự muốn nghe, muốn biết những lý do đó? Tôi thật sự muốn biết nguyên do làm sao mà tôi lại không thể có được cái cảm giác như họ đang có, cái cảm giác tự hào, tươi cười nói với mọi người xung quanh rằng tôi tự hào? Nói như Bá Dương trong cuốn Cái Vại Tương: “Mỗi khi nghe những người Trung Quốc tự hào về những nét đẹp của người Trung Quốc, tôi bực bội vì cảm thấy không được dự chút phần nào vào cái niềm vinh dự và tự hào to lớn đó.”

Chẳng lẽ tâm hồn tôi chai đá không biết cảm nhận, hay do môi trường đã thay đổi mà tôi không kịp thích nghi? Ồ không, nhớ lại thì trước đây tôi cũng tự hào về nhiều điều lắm chứ. Tự hào về đất nước anh hùng, vì đã có được hai chiến thắng thần thánh đánh cho bọn đế quốc khổng lồ chạy té khói, tự hào về một đất nước giàu đẹp, đầy ú tài nguyên, đậm đà bản sắc văn hóa, tự hào về cái nguồn gốc con rồng cháu tiên dù chẳng tí nào tin mình có chút máu rồng tiên nào trong người cả. Rồi cụ thể hơn, tôi cũng từng tự hào lắm, rằng người Việt Nam được cả thế giới yêu mến, tự hào rằng có cả mớ các nước xếp hàng sau Việt Nam, tự hào là đất nước yên bình nhất, hạnh phúc nhất. Tự hào là nước xuất khẩu gạo hàng đầu, xuất khẩu cafe đứng thứ ba vân vân và vân vân. Ôi, nhớ lại những ngày xưa tôi có nhiều cái để tự hào thế cơ mà, thật là hạnh phúc.

Còn bây giờ. Tự hào ư? Tôi không thể. Tại sao tôi lại không được dự phần vào cái sự tự hào của mọi người như trước nữa? Tại sao? Có lẽ từ khi tôi biết rằng nước tôi xuất khẩu gạo nhiều nhất nhưng dân tôi vẫn còn người chết vì đói, tự tử vì không muốn con mình bị chết đói. Có lẽ từ khi tôi nhận ra nước tôi xuất khẩu cafe hàng đầu nhưng dân tôi uống cafe bẩn nhất. Có lẽ từ khi tôi biết rằng nước tôi 70% làm nông nhưng gà nhập, heo nhập, rau nhập, trái cây nhập, nói như Tony đến tăm xỉa răng cũng phải nhập. Trong khi ấy, người nông dân nước tôi đổ nông phẩm được mùa cho bò ăn, đổ hoa màu rau củ xuống sông vì không có người thu mua, vì bị ép giá, vì trăm ngàn lý do khác mà hàng ngàn thạc sĩ, cử nhân, tiến sĩ đang ngồi không đợi việc không mấy ai chịu tìm ra cách cứu vãn người dân nước mình, cữu vãn tình trạng thất nghiệp của mình. Từ khi tôi nhìn thấy hàng đoàn xe cơ giới nối đuôi nhau chở những thân cây khổng lồ, chở tài nguyên, quặng mỏ rời khỏi đất nước. Và lại chở về đây nào nội tạng thối, nào rác thải công nghiệp, quần áo si-da… Từ khi tôi được nghe rằng người dân tôi đi ra nước ngoài bị đối xử, bị ghét bỏ, bị xa lánh. Vì những người cùng dòng máu rồng tiên khác vì chút lợi hèn mọn mà đang tâm làm hoen ố hình ảnh của cả một quốc gia, khiến cả một dân tộc bị đối xử như những người tệ hại.

Tôi tự hào nổi không khi khắp phố xá nước tôi toàn bảng hiệu tiếng nước ngoài, còn tiếng nước tôi được trang trọng đặt trên những bảng cảnh báo, cảnh báo ăn trộm, cảnh báo trốn vé, cảnh báo lấy quá nhiều đồ ăn… Tôi tự hào được không khi những nước xuất phát sau nước tôi, như Cambodia, giờ đang vượt mặt nước tôi mọi lĩnh vực. Họ sản xuất được xe hơi riêng cho dân họ rồi, họ xuất khẩu gạo đi các thị trường khó tính nhất rồi, còn nước tôi, xe đạp xe máy đều nhập, xe hơi là thứ phương tiện an toàn, văn minh thì bị tìm mọi cách để hạn chế, bằng thuế phí, bằng hạ tầng còn gạo nước tôi xuất nhiều nhưng chỉ xuất đi các nước trong khu vực hoặc qua Châu Phi?

Tôi tự hào nổi không nền văn hóa ngàn năm văn hiến đậm đà bản sắc dân tộc đang ngày càng nát bét và xuống dốc thảm hại. Văn hóa ư? Văn hóa lúa nước, văn hóa xe máy, văn hóa lũy tre làng, văn hóa tiểu nông, nói toẹt như Đinh Tấn Lực đăng trên góc nhìn Alan, chúng ta là cường quốc văn hóa, văn hóa nhậu, văn hóa đi đêm, văn hóa tự xử, văn hóa phao, văn hóa mặc kệ… Chọn một cái để tự hào về văn hóa thì chọn cái nào đây? Cần cù chăm chỉ siêng năng ư? Thế mà tôi thấy bài viết Đất nước của những kẻ lười biếng của Lục Phong trên Triết Học Đường Phố được ủng hộ và chia sẻ nhanh quá quá chừng.

Hiếu học ư? Hiếu học mà không hiếu hành thì tác dụng gì? Hùng cường mạnh mẽ, hiên ngang bất khuất ư? Ngoại trừ những ngư dân đương đầu với tàu Trung Quốc ngoài biển để cố giữ biển, giữ nước thì còn ai làm được điều đó? Dũng cảm gan dạ ư? Đến nói không thích một thế lực hắc ám còn sợ hãi như sợ Voldermort thì dũng cảm chỗ nào? Chân Thiện Mỹ ư? Đâu, chỗ nào? Thật thà chân thực ư? Có không ở thời này, từ trung ương đến địa phương, từ sách vở tới đời sống? Đoàn kết ư? Nếu dân tộc tôi đoàn kết thì chẳng cần gì phải hô mãi khẩu hiệu “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”, thì bà chị Hoa chẳng thể dám mang một cái tăm qua nước tôi chứ đừng nói tới hàng hóa độc hại, cái học viện bị thế giới tẩy chay hay một cái hạm to chù ụ như cả hòn đảo vô tư đi lại trên biển nước tôi như đi bát cảnh như thế. Thì người dân nước tôi đã chẳng chửi bới nhau trên mọi diễn đàn, thì các thế lực hắc ám chẳng thể ngang nhiên lộng hành đến thế này…

Ông Dương Trung Quốc mới đây đã nói nền văn hóa này đang kéo dân tộc chúng ta tới bờ vực thẳm. Thế thì rõ ràng văn hóa không thể dùng làm lý do để tự hào rồi. Hòa bình và hạnh phúc nhất ư? Có đáng để tự hào khi số người chết vì tai nạn và bệnh tật hàng đầu thế giới, có đáng để tự hào khi ai mở miệng trình bày một quan điểm trái với sự định hướng là sẽ bị mọc đuôi hoặc quản chế liền? Sau cùng là hai cuộc chiến thần thánh, tôi cũng từng tự hào về nó đấy, nhưng là cái thời ngu muội chỉ biết nghe và tin thôi, còn khi tự mình tìm hiểu thì tự hào ư? Tôi không dám nhắc về hai chữ ấy.

Như một câu chuyện vui không biết có thật không mà tôi mới đọc đây sẽ giải thích điểm này cho những bạn vẫn chưa chấp nhận. Một vị lãnh đạo trong chuyến công tác ngoại giao đã nói: “Tôi tự hào dân tộc tôi đã giành chiến thắng lừng lẫy trong hai cuộc chiến với bọn đế quốc thực dân.” Đáp lại lời ông, vị lãnh đạo nước kia trả lời: “Tôi thì tự hào vì dân tộc tôi không phải trải qua cuộc chiến nào cả.”… Vậy thì, trong cái niềm tự hào to lớn được phát trên ti vi kia? Ai đó có thể cho tôi biết điều gì khiến họ tự hào?

Không biết mọi người đang nghĩ gì, dân tộc tôi đang cảm thấy sao, các bạn trẻ quanh tôi đang nghĩ như thế nào, còn tôi, tôi chán lắm rồi. Chán lắm lắm rồi.

Sống trong một thành phố nhỏ xinh đẹp trong lành, tôi chán nhìn những đoàn xe chở quặng boxit đi qua đây về Trung Quốc mỗi ngày. Tôi chán cảnh người ta đào tung nhổ hết những cột đèn giao thông vẫn hoạt động ngon lành để thay bằng những cột mới chẳng khác gì chỉ là to hơn một chút. Cả thành phố mấy chục cột như thế, để làm gì, tác dụng gì? Việc đó tốn kém bao nhiêu? Trong khi cũng khắp cả thành phố, tôi kiếm không ra một cái thư viện công cộng nhỏ? Tôi chán cái tuần lễ văn hóa trà không một hoạt động nào liên quan tới trà, ngoài một bài hát có tên đi hái trà gì đó trong đêm văn nghệ, một vài gian hàng bán đồ phong thủy tiểu cảnh và đèn đóm thắp nhiều hơn một chút cùng tấm bảng chào mừng rất to. Tôi chán những cái cổng khu phố văn hóa, bản làng văn hóa, gia đình văn hóa ở khắp mọi nơi. Chán những câu biểu ngữ phát động phong trào hết sức ngô nghê, sai chính tả, vô nghĩa hoặc không tác dụng gì với ai cả treo khắp mọi ngóc ngách phố phường… Đấy là mới ở cái thành phố nhỏ này thôi.

Rộng hơn ư? Tôi chán những công trình ma, công trình dang dở hay những công trình chưa xong đã sập ở khắp mọi nơi. Chán sự lười biếng của tuổi trẻ. Chán thứ tình yêu mù quáng của những phụ huynh. Chán nền giáo dục. Chán những câu hứa lèo, những phong trào sớm nở tối tàn, những phát ngôn của người nổi tiếng. Chán từ giá cả xăng dầu, giá trị đồng tiền Việt cho tới cái đường truyền internet tệ hại chỉ cần một con cá mập để đổ lỗi là xong. Tôi chán sự thờ ơ của mọi người đối với đồng bào, đối với dân tộc. Chán cả ngành truyền thông chỉ biết đến chiêu trò và quảng cáo. Truyền hình thì toàn cảnh lố lăng, báo chí thì cướp hiếp giết tin sốc, lộ hàng. Âm nhạc phim ảnh nước ngoài được giới trẻ yêu mến gấp vạn lần trong nước. Nghệ sĩ thì chiêu trò. Kinh tế thì tụt dốc. Chán cái nợ công, cái chính sách nhún nhường, cái văn hóa xe máy. Chán những “đầy tớ giàu sụ” và những “người chủ sống bần cùng”. Chán cái trang Chân Dung Quyền Lực dám bóc mẽ những sự thật xấu xa. Chán khủng khiếp nhất là thái độ của mọi người về tất cả những thứ đó, một sự cam chịu, thờ ơ, câm lặng hoặc bàng quan đến rợn người… Kể cho hết những cái chán thì không biết bao giờ mới hết được đây.

Này, đừng ai nói rằng vẫn có chỗ tốt, rằng không phải ai cũng xấu, rằng có người này người kia… Chả lẽ tôi lại không biết à? Nhưng rồi sao? Một vài người không như thế có làm cho cả xã hội không như thế? Xã hội mà chỉ có một điều tốt bị vây quanh bởi một trăm điều xấu vẫn đáng để tự hào ư? Một ai đó đang cố gắng thì liệu có tạo nên thay đổi gì cho cả xã hội?

Tôi chán lắm rồi khi cầm hộ chiếu du lịch bị giữ lại rất lâu ở hải quan, tôi còn nghe kể có những trường hợp chỉ cần là con gái Việt qua Sing sẽ bị từ chối ngay không cần lý do nữa. Tôi chán lắm rồi khi nghe chính bạn tôi sống tại Hàn kể về cách thức người Việt tại đó trộm đồ siêu thị rồi vội vàng phi tang khi bị kiếm tra. Tôi chán lắm rồi khi nghe nói người Cambodia xa lánh người Việt, một hội chợ bên Âu từ chối người Việt tham quan, hải quan Thái tỏ thái độ với hộ chiếu Việt, người Hàn người Đài xem nước Việt như cái chợ chọn vợ khi họ không thể lấy ai ở chính nước của họ. Tôi chán kinh khủng khi đọc những dòng cảnh báo bằng tiếng Việt trên khắp thế giới. Có lẽ nào địa vị nước tôi, văn hóa nước tôi lại tồi tệ đến như thế sao?

Tôi thèm được ngẩng cao đầu khi ra nước ngoài, thèm được cầm hộ chiếu một cách nâng niu, tôi thèm tên Việt Nam được vinh danh trên các đấu trường, người Việt được yêu quý và tiếng Việt được nhiều người muốn học. Thèm lắm chứ. Nhưng tại sao tôi không thể? Có cách nào để tôi cùng được dự phần tự hào với những người đang tươi cười trên tivi kia không?

Sẽ có người cho rằng tại sao tôi không nhìn vào mặt tốt mà chỉ nhìn vào mặt xấu, rằng than thở thì có ích gì, rằng tôi đã làm được gì cho đất nước chưa? Tôi xin trả lời rằng tôi phát chán luôn cả họ.

Đến bao giờ người ta mới chịu nhìn vào lỗi để mà sửa, nhìn vào nhược điểm để mà thay đổi, nhìn vào yếu kém để mà đấu tranh? Đến bao giờ mọi người mới chịu thôi tự hào để thay vào đó là trạng thái xấu hổ để mà tiến lên? Đến bao giờ người ta mới chịu bắt bệnh để mà chữa bệnh chứ không đợi bệnh quá nặng mới vội vàng chạy chữa trong vô vọng? Đến bao giờ người ta mới nhận ra văn hóa của chúng ta đang đậm mùi chứ không phải đậm đà? Đến bao giờ người ta mới chủ động tìm kiếm giải pháp và thực hiện thay vì chỉ trích nhau, chỉ trích những người dám đứng ra chỉ trích?

Mỗi ngày được tiếp xúc với thông tin, kiến thức về thế giới ngoài kia bao nhiêu tôi lại càng chán bấy nhiêu. Bạn có thật sự vui không khi nghe báo chí hôm nay ca tụng văn hóa Nhật Bản, ngày mai tôn vinh những gì Israel làm được, ngày mốt ngợi khen thành quả của Singapore, Hàn Quốc hay thậm chí cả bạn hàng xóm Cambodia. Bạn có hạnh phúc không khi một bản nhạc hot Hàn Quốc vang vọng khắp hang cùng ngõ hẻm, những bà nội trợ khóc lên khóc xuống cùng những đau khổ của các nhân vật trong phim Hàn, phim Đài? Giới trẻ hiểu lịch sử Trung Quốc hơn lịch sử nước nhà. Và mới đây là facebook ngập tràn người muốn hóa thân thành Võ Tắc Thiên… Nói về đất nước mình chán một thì khi nghe về sự tiến bộ của nước người tôi lại càng chán hơn. Nếu văn hóa nước tôi đủ đậm đà, đủ đẹp và đủ mạnh liệu nó có dễ dàng để cho văn hóa ngoại len lỏi vào từng ngóc ngách cuộc sống và được người dân tôi yêu mến đến thế?

Bạn nghĩ tôi bi quan ư? Không, bạn không biết được cuộc sống riêng của tôi đang ổn và lạc quan đến mức nào. Đặc biệt từ khi tôi từ chối xem các chương trình truyền hình, từ chối các kênh tin tức nóng mỗi ngày, từ chối dự phần các trào lưu của giới trẻ. Tôi đang sống rất hạnh phúc. Vậy mà vẫn không cảm thấy tự hào, là nghĩa làm sao? Vì tôi không muốn sống mãi trong cái xã hội như thế, tôi không muốn bạn bè tôi, anh em tôi không được hạnh phúc như tôi vì họ vẫn mê mải trong cái ma trận văn hóa giả tạo. Tôi không muốn dân tộc tôi suốt ngày đi ca tụng văn hóa nước ngoài, dù chính tôi cũng ca tụng nó. Tôi không muốn con cái tôi sống trong bối cảnh văn hóa tệ nạn mục nát như thế này. Tôi thật sự không muốn. Tôi cũng chắc chắn rất nhiều người cũng không muốn những điều đó như tôi, nhưng làm sao đây?

Tôi ước gì mình có thể tạo ra sự thay đổi chỉ bằng cách vào tủ điện thoại yêu cầu của Doremon. Tôi ước mình có đủ sức mạnh và tài trí để tác động lên ý thức của mọi người. Tôi ước mình tài giỏi và xinh đẹp như người nổi tiếng để lời nói của tôi được quan tâm hơn. Tôi ước mình là một thương nhân giàu có để thật nhiều người vì thích tài sản của tôi mà lắng nghe tôi nói. Tôi ước gì mình có đủ thời gian để thuyết phục từng người một. Ước gì mình không cứ mãi ngô nghê thế này để mong mỏi một điều vô tưởng xảy ra. Ấy vậy mà tôi vẫn mong, tôi vẫn ước.

Tôi ước cả dân tộc tôi đồng lòng tạo ra sự thay đổi. Vì tôi biết rằng sự thay đổi được tạo ra từ chỉ ba yếu tố thôi: Một ý tưởng lớn, thật nhiều người cùng đồng lòng tham gia và hành động. Không thể thiếu một trong ba. Không thể. Nhưng nếu đủ cả ba yếu tố, nhất định một sự thay đổi lớn sẽ xảy ra. Vậy thì, ý tưởng thay đổi, cải tổ văn hóa, làm sống lại cái hồn dân tộc liệu có đủ lớn? Nếu đủ rồi thì bao nhiêu người sẵn sàng tham gia cuộc cải tổ này. Đồng ý tham gia rồi đấy nhưng mọi người có sẵn lòng hành động? Mọi người có sẵn sàng đánh đổi những giờ đọc tin tức, xem gameshow để đọc sách? Mọi người có sẵn sàng bỏ thời gian làm việc kiếm tiền để dạy dỗ giáo dục con cái mình thay vì nhường mọi trách nhiệm cho nhà trường? Mọi người có sẵn lòng cư xử lịch thiệp với nhau. Sẵn lòng cảm ơn và xin lỗi ngay trước khi người kia mở lời? Mọi người có dám đánh đổi những giờ nhậu nhẹt, buôn dưa để tăng gia sản xuất. Mọi người có sẵn sàng tiêu thụ nông sản Việt thay cho nông sản Tàu? Mọi người có chịu tuyên truyền những giá trị tốt đẹp của cuộc sống thay vì tuyên truyền rầm rộ cho những tin tức hở ngực lộ hàng? Mọi người có đủ sức rời xa những trang tin lá cải tiêu cực, có chịu giữ lại rác bên mình cho tới khi kiếm được thùng rác, có rủ nhau tham gia những hội trồng cây, hội đọc sách thay vì rủ nhau đi chơi game hay cafe tán gẫu? Mọi người có chịu nói về ý tưởng và tương lai thay vì chuyện yêu đương, trai gái và chuyện quá khứ ngàn đời? Mọi người có chịu tăng hiểu biết của mình về thế giới thay vì hiểu biết về cô này anh kia trên facebook?

Tôi ước chúng ta có một hệ thống quy chuẩn đạo đức, cách thức ứng xử đầy tiến bộ và nhân văn để mỗi người dân Việt Nam đều biết, đều ghi nhớ và quyết tâm làm theo. Một kiểu quy tắc hành xử rõ ràng kiểu “không xả rác nơi công cộng, không nói quá to, xin lỗi ngay cả khi lỗi vô tình…” thay vì những lời hô hào sáo rỗng như “văn minh, đoàn kết, yêu thương…”

Mỗi ngày trăm ngàn cái hội ghét người này, yêu cái kia lập trên facebook, thiết nghĩ nếu như có một nhóm lập hội những người quyết tâm hành động xây dựng một nền văn hóa mới, đi đầu trong việc làm gương, chịu phần thiệt ban đầu về mình nhằm lan truyền cái tinh thần tốt đẹp này thì tôi tin mọi thứ sẽ dần thay đổi thôi. Không có gì là không thể khi ý chí con người đủ lớn mạnh và được hỗ trợ bằng sự đồng lòng. Có lẽ tôi còn quá trẻ, đủ để vẫn còn trí tưởng tượng phong phú tới mức dám mơ ước về một thế giới như thế. Thế giới mà đa phần người ta không thể hình dung chứ đừng nói tới việc mình là một phần trong nó.

Thậm chí tôi còn tưởng tượng thêm nữa, về một biểu tượng kiểu dấu ấn về những người văn hóa mới. Để chỉ cần nhìn thấy dấu ấn đó trên ai, thì người ta biết ngay rằng đó là người văn minh lịch sự, người có thể tin tưởng được. Như Tony Buổi Sáng hay Alan Phan đã gần như trở thành những dấu ấn kiểu mới. Bạn trẻ nào yêu thích và làm theo lời Tony thì rất có thể người đó sẽ có một lý tưởng sống tốt đẹp, thích hành động cụ thể hơn chỉ nói. Bạn trẻ nào là tín đồ của Alan thì rất có thể sẽ là những người hiểu biết và yêu thích kiến thức hơn thông tin hổ lốn trên thế giới mạng. Tôi mong muốn có một kiểu dấu ấn như thế cho những người thật tâm mong muốn thay đổi nền văn hóa này, xã hội này, dân tộc này. Họ sẽ nhận ra nhau và có thể cùng nhau chung sức tạo nên một xã hội mới nhân văn với đầy đủ ba yếu tố chân thiện mỹ.

Đa phần mọi người sẽ cho rằng đây là chuyện nhảm nhí, viễn vông. Đa phần mọi người có thể sẽ cho rằng thay đổi văn hóa là việc họ không liên quan, không thể làm gì, không thể mong chờ gì hoặc chưa đến lúc. Này, bạn đừng quên, một cái đập cánh của con bướm ở Brazil có thể gây bão lớn ở Texas, đừng quên sức mạnh của ý chí và quyết tâm là điều có thể nhìn thấy được, hoàn toàn cảm nhận được và chính xác là đã được ghi lại rất nhiều lần trong lịch sử loài người. Israel đồng lòng xây dựng đất nước từ hỗn loạn và chia ly. Nhật Bản đồng lòng góp sức xây dựng nền văn hóa cả thế giới ngưỡng mộ. Cambodia đồng lòng phát triển đất nước từ một xuất phát điểm thua cả chúng ta… Thế thì tại sao dân tộc ta không thể đồng lòng làm nên điều tương tự?

Văn hóa là cái hồn của dân tộc, là thứ làm nên dân tộc tính, là thứ quyết định hình ảnh, thể diện của quốc gia và tạo thành nhân sinh quan cho mỗi người sống trong nó. Văn hóa là thứ định hình lối sống, phong tục và tạo ra các nền văn minh. Văn hóa thì có thể thay đổi chứ không vĩnh cữu và bất biến. Văn hóa tạo nên con người nhưng cũng chính con người kiến tạo ra nền văn hóa. Văn hóa không phải khi nào cũng đáng được tự hào. Đặc biệt là khi nó đã xuống cấp, không phù hợp với thời đại, cản trở sự phát triển, sự tiến bộ và con đường đi đến văn minh.

Một người trẻ nông cạn như tôi còn nhận rõ điều đó chẳng lẽ lại không ai khác nhìn ra sao? Hay mọi người đều nhìn ra nhưng không một ai thèm nhắc đến vì chưa phải lúc, vì không phải chuyện của mình? Cứ cho cuộc đời mỗi chúng ta chưa cần hay chẳng mong được sống trong một nền văn hóa tốt hơn. Vậy con cái chúng ta thì sao? Bạn đang tâm để nó sống trong cái xã hội tệ nạn từng ngóc ngách như thế này à? Bạn mặc kệ nó cầm tấm hộ chiếu in cờ dân tộc mà cúi gằm mặt xuống hay sao? Hay bạn lại cũng như bao nhiêu thế hệ đi trước, cho rằng: Tương lai đất nước này phụ thuộc cả vào con. Trọng trách này ta không chịu nổi xin giao lại cho con… Nếu như thế hệ nào cũng đùn đẩy cho nhau chỉ bằng một câu nói giản đơn như thế, thì cái giả thiết dân tộc ta bị đày có lẽ cũng là có cơ sở.

Nãy giờ ước nhiều quá rồi. Nhưng nếu chỉ cho thêm một điều cuối cùng, tôi ước một ngày kia tôi chính là người đang cười toe miệng trên tivi và hét thật to với thế giới rằng: TÔI TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM.

 

 Phi Tuyết

 Bài liên quan

 

 

 

[Phỏng vấn] Nah, một du học sinh, rapper bất đồng chính kiến

Photo: Từ Nah’s fanpage

Một thử thách lớn cho tương lai

Mới đây một du học sinh đang theo học tại Oklahoma tung lên mạng ca khúc thể loại Rap và một bức thư có nội dung chống lại độc tài hà khắc của cộng sản Việt Nam. Nhạc phẩm này được cư dân mạng dè dặt lẫn bỡ ngỡ đón nhận vì nó được sáng tác theo phong cách rap của những nghệ sĩ đường phố, cách thể hiện có vẻ dung tục vì nhiều tiếng chửi thề kèm theo. Tuy nhiên không ít người thích thú cho rằng đây là một cách tiếp cận mới của người trẻ đối với hiện tình đất nước theo cách nhìn của họ.

Điều khá đặc biệt người trẻ này là một du học sinh và cả gia đình anh đều còn ở lại Việt Nam. Việc trở thành người đấu tranh tại nước ngoài là một thử thách lớn cho tương lai của anh.

Người nhạc sĩ sinh viên ấy là Nguyễn Vũ Sơn với bút danh khi sáng tác là Nah Sơn có những thổ lộ với chúng tôi về bản thân anh và nguyên nhân khiến anh chấp nhận từ bỏ mọi thứ để tiên phong làm một du học sinh bất đồng chính kiến, trước tiên anh chia sẻ:

Nah Sơn: Em tên đầy đủ là Nguyễn Vũ Sơn em sang đây học hồi cuối năm 2013. Hè vừa rồi em có về Việt Nam. Học thì đi du học thôi chứ không có ý định ở lại nhưng khi qua đây học rồi thấy nó có nhiều khác biệt với mình quá. Cách giảng dạy rất mới và đây là lần đầu tiên đi học mà em thấy thích. Em học những vấn đề xã hội, chính trị, lịch sử… nó làm cho mình nhận ra, mình ngộ ra được nhiều thứ hay lắm. Em tự tìm hiểu thêm trên Google, tự mình đúc kết lại và thấy rõ ràng là đất nước mình đang lâm nguy và nó có quá nhiều vấn đề nên em làm những điều này mong góp phần thay đổi đất nước.

Thật sự cái nền văn hóa của mình, mình đã sống với nó từ nhỏ rồi, nó làm thành tình yêu nhiều khi mình nhớ nó, trăn trở về nó có thể do đó nó cũng là một động lực.

Mặc Lâm: Khi còn ở trong nước Sơn có bao giờ để ý tới những người hoạt động tranh đấu cho tự do dân chủ nói chung là những hình thức chính trị hay không?

Nah Sơn: Thật ra về cái chuyện chính trị khi qua tới đây em mới có được rõ ràng như vậy. Ở Việt Nam em chỉ cơ bản có tính hơi phản kháng với chính quyền nhưng em không cập nhật về chính trị hay bất cứ gì hết. Khi qua đây và đọc nhiều thông tin hiều được nguồn gốc cội nguồn của tất cả vấn đề của bộ máy thì mình mới hiểu à thì ra đây là cốt lõi của mọi vấn đề.

Mặc Lâm: Qua bản nhạc rap mà Sơn vừa giới thiệu thì cách dàn dựng hay mix nó có thể nói là hấp dẫn tuy nhiên rất nhiều người cho rằng những tiếng chửi tục trong bản nhạc đã làm cho nó mất giá trị, nó có vẻ đường phố, bụi đời và dung tục quá… là một sinh viên Sơn có ý đồ gì khi xây dựng tác phầm trên cái nền rất bụi bặm như vậy?

Nah Sơn: Dạ em cũng biết trước là có nhiều người hơi phản cảm đối với những tiếng chửi thề nhưng mặc dù em xuất thân gia đình trung lưu gia đình ba mẹ em cũng dạy dỗ em đàng hoàng nhưng khi đi học thì bạn bè chửi thề rất nhiều. Ngay cả mấy chú xe ôm hồi đó chở em đi học cũng chửi thề… nói chung tiếng chửi thề riết rồi thấy nó cũng bình thường.

Thêm nữa nhạc rap nó giống như loại hình nghệ thuật hiện thực không thể nào viết nó quá bóng bẩy mà đôi khi cũng phải dùng những từ nó dùng trong đời sống mình đem vô. Ngoài ra theo em khi người ta có một cái gì đó khi mà người ta khó chịu, phản cảm thì người ta chú ý tới nó hơn.

Nếu nhìn ra thì cả Việt Nam bây giờ người ta chú ý tới Kenny Sang hay những scandal, những tin đồn này nọ người ta chú ý nhiều hơn. Em dựa vào những suy nghĩ như vậy cho nên em sáng tác bài hát có nhiều tiếng chửi tục nhưng nó là cảm xúc tức giận, nó là cảm xúc thật.

Vượt qua nỗi sợ hãi

Mặc Lâm: Là một du học sinh Sơn nhận xét thế nào về những du sinh từ Việt Nam sang Mỹ cũng như giới trẻ trưởng thành tại Mỹ về những hoạt động mang tính chính trị của họ?

Nah Sơn: Em nghĩ đối với du học sinh thì ai cũng có nỗi sợ mang từ Việt Nam qua. Ai cũng rất sợ vấn đề chính trị nên không ai dám nói điều gì liên quan tới chính trị hết. Đó là những vấn đề nhạy cảm. Giống như được dạy từ nhỏ là không được chơi ma túy vậy.

Bạn bè em hầu như không có ai nghĩ về chính trị hay có tư tưởng về xã hội lắm chỉ là đi học, đi chơi vậy thôi. Ngay cả giới trẻ Việt kiều, nói chung là cũng có người ghét cộng sản, muốn thay đổi nhưng em thấy giới trẻ Việt kiều thì một là họ không quan tâm còn nếu có quan tâm thì họ rất cực đoan. Họ hay đặt mối thù dân tộc khi Việt Nam Cộng hòa bị thất bại thì họ coi như một mối hận lớn. Em thấy cái chuyện đó nó hơi không phù hợp vì nó là chuyện quá khứ có đem ra nói đi nói lại nó cũng không tác dụng lắm. Em nghĩ bây giờ nên tập trung vào hiện tại, cộng sản ngay lúc này nó sai cái gì. Mối thù đó mình nên dẹp qua một bên.

Thí dụ như có nhiều người ghét người Bắc nhưng người Bắc lúc này họ cũng đã nhận ra nhiều vấn đề của cộng sản và rất muốn thay đổi chỉ có điều là bộ máy họ không muốn thay đổi thôi.

Mặc Lâm: Là một du học sinh dù sao khi học xong thì cũng phải về nước, khi ấy thì đón Sơn tại phi trường Tân Sơn Nhất hay Nội Bài không những là thân nhân, gia đình mà còn cả cán bộ an ninh của bộ máy cầm quyền. Sơn đã nghĩ tới những viễn ảnh như thế hay chưa?

Nah Sơn: Em cũng suy nghĩ vấn đề đó rất kỹ trước khi em làm. Nếu như mọi chuyện đi theo hướng tốt thì biết đâu mình có thể làm được những ý tưởng thay đổi gì đó trong giới trẻ. Có thể vài năm thì mình lại có thể về. Nếu trong trường hợp đi theo hướng xấu thì em sẽ tìm cách ở đây để tiếp tục tranh đấu.

Một khi đã quyết định làm thì phải chấp nhận hậu quả, em nghĩ vậy. Nếu em như những bạn du học sinh khác, sợ không về được thì nó sẽ không đi tới đâu hết tại vì em cảm thấy mình cũng có một chút tiếng nói trong giới trẻ vì nhiều bạn trẻ có nghe nhạc của em mình nên dựa vào điều đó để làm việc gì tốt hơn chứ suốt ngày cũng chỉ đi học, rồi về, đi chơi hay làm nhạc linh tinh thì nó phí hoài cái tuổi trẻ, khả năng và một chút tên tuổi của mình.

Mặc Lâm: Sau khi biết Sơn chọn con đường tranh đấu tại hải ngoại gia đình, bạn bè người thân của Sơn có phản ứng ra sao và những phản ứng ấy có làm Sơn đau buồn lắm hay không?

Nah Sơn: Ba mẹ em khi thấy em có những cái chuyển biến mang tính chính trị thì ba mẹ em có vẻ rất tức giận, như cảm thấy là mình mất một đứa con vậy. Ba mẹ em la em dữ lắm. Ba em có nói nếu bây giờ con còn tiếp tục làm chính trị như vậy thì cắt đứt mọi liên hệ gia đình. Em cũng trăn trở vì chuyện đó nhiều lắm.

Mặc dù em thích nhạc ráp em chơi với bạn bè đường phố nhưng em cũng rất thích học. Em đã có một bằng cử nhân bên Singapore học trường RMIT cũng do muốn đi nhiều nước học hỏi thêm nên ba mẹ cho đi Mỹ học. Em học cũng rất tốt em lấy điểm A không, từ khi qua Mỹ tới giờ không có lúc nào bị B hết em chỉ lấy A thôi vì em rất thích học. Cũng vì tính thích học nó làm cho em muốn tìm tòi cái này cái kia, càng tìm càng thấy bất mãn.

Em rất trăn trở, bây giờ mình học tiếp mình có tấm bằng, đi ra đi làm rồi mọi thứ cũng như cũ nó chẳng thay đổi được gì, nó cứ bế tắt. Còn nếu bây giờ mình làm chuyện này mình phải đánh đổi nhiều thứ. Bạn em thấy em cũng liều! (đúng là em làm chuyện này cũng hơi điên thiệt) Sau khi đắn đo em nghĩ nếu bây giờ mình không làm thì cũng không ai làm. Không bao giờ có ai làm chuyện này hết thành ra có được thì mừng còn nếu không được thì coi như mình đã cố gắng rồi, nếu không cố gắng làm sao biết được hay không? Vì vậy em cứ làm còn ba mẹ có nói thì em cũng… phải nói là em rất buồn, em rất là buồn nhưng mà biết sao được?

Người thân của em, bạn gái em, gia đình bạn gái em, rồi bạn bè em những người chơi với em 7 – 8 năm luôn vẫn quay lưng với mình.

Mặc Lâm: Sơn đã từng trình diễn trong một live show tại Hà Nội và nhiều bạn trẻ bây giờ vẫn còn nhắc đến trên Facebook. Chương trình ấy diễn ra vào lúc nào và do ai tổ chức vậy?

Nah Sơn: Cái show đó tên là CAMA Festival của Đại sứ quán Mỹ tổ chức ở Hà Nội hàng năm, nó mới bắt đầu mấy năm thôi. Hằng năm họ mời nhạc sĩ ca sĩ từ nhiều nước Đông Nam Á lại biểu diễn ở Hà Nội. Đầu năm 2013 em có ký hợp đồng với công ty Làng Văn bên Cali lúc họ về Việt Nam họ mở chi nhánh thì họ có ký hợp đồng với em nên em được đi diễn chương trình đó ở Đại sứ quán Mỹ. Em diễn ba bài, em remix bài “Sài gòn đẹp lắm” của nhạc sĩ Y Vân. Em diễn bài Đi bụi… Sau khi em diễn xong có một tờ báo tên Lao Động Online có đăng một bài rất dài chửi em và bạn em đã diễn những bài mang tính kích động, nói chung là lời lẽ phản cảm kích động phê phán xã hội ở ngay giữa đất Hà Nội và rất là buồn cười là lại được giới trẻ hưởng ứng trong khi những tiết mục khác của các nhóm nhạc khác thì ít được hưởng ứng hơn.

Nói chung là em thấy mình làm được những chuyện ấy thì mình vui thôi chứ em không nghĩ nó có yếu tố chính trị gì. Bây giờ nghĩ lại thấy có sự sắp xếp sao đó, cái duyên nên chuyện đó nó chọn mình… em cũng không biết…

Mặc Lâm: Cám ơn Sơn.

 

Mặc Lâm – RFA

Đâu rồi khát vọng tuổi trẻ Việt

Featured Image: John Holcrof

 

Đánh thức một thế hệ trẻ đang ngủ quên…

5 năm kể từ ngày bắt đầu cuộc sống tự lập xa nhà. Cách đây 5 năm tôi chưa có gì cả. Bây giờ nhìn lại, tôi cũng vẫn không có gì cả. Nếu được hỏi về điều mà tôi làm được lớn nhất trong vòng 5 năm qua, có lẽ nó giống như hình ảnh những cầu thủ U19 Việt Nam khi họ thất bại: những giọt nước mắt.

Trải qua nhiều cung bậc cuộc sống, có khi hạnh phúc thăng hoa, có khi thất bại đau đớn ê chề, đằng sau đó, có một thứ tài sản quý giá vô cùng đối với tôi là những giọt nước mắt: nước mắt khi thất bại khó khăn, nước mắt khi thành công, hạnh phúc. Bởi đó là dấu hiệu của sự trưởng thành.

Tôi là một người trẻ. Với những kinh nghiệm và vốn sống ít ỏi của mình, tôi chưa đủ tầm để đưa ra những phán xét, đánh giá. Tôi chỉ đơn giản là đưa ra những góc nhìn để hy vọng rằng bạn cũng như tôi – thế hệ trẻ của Việt Nam, nếu còn đang “ngủ quên” vào một số thực trạng thì hãy làm ơn cùng nhau tỉnh giấc để sống, để cống hiến, để làm nhiều điều ý nghĩa, để có thể thực sự trưởng thành, cho dù có phải khóc, cho dù có phải mất nhiều nước mắt khi nhìn về thực trạng tuổi trẻ bây giờ.

Tuổi trẻ bây giờ đang bị ngủ quên khi quá tập trung vào những khó khăn trong cuộc sống của mình.

Tuổi trẻ bây giờ đang bị ngủ quên khi quá thờ ơ và vô cảm vì quá nhiều người được đầy đủ dẫn đến việc không biết trân trọng những gì xung quanh.

Tuổi trẻ bây giờ ngủ quên khi đã quá lãng phí thời gian vào những việc vô bổ, tào lao như suốt ngày ngồi lỳ bên máy tính, la cà các quán nhậu.

Tuổi trẻ bây giờ ngủ quên khi ít người dám nghĩ lớn mà chỉ mơ ước những hiện thực vật chất tầm thường.

Tuổi trẻ bây giờ ngủ quên khi chẳng mấy người dám cống hiến sức trẻ mà đám đông chỉ để ý đến lợi ích cá nhân nhỏ nhoi cho riêng mình.

Tuổi trẻ bây giờ còn đang bị mắc kẹt trong cái tư duy “mì ăn liền”

Cái gì cũng muốn nhanh, muốn gọn, muốn rẻ. Tuổi trẻ bây giờ muốn làm giàu nhanh chóng, không mất sức nhưng mù quáng về hiểu biết và thiếu bản lĩnh, thế nên mới có chuyện bao nhiêu sinh viên bị lừa vào đường dây bán hàng đa cấp. Tôi không phản đối bán hàng đa cấp. Tôi là dân luật, tôi chỉ nói lên những điều mà pháp luật quy định. Ở Việt Nam bán hàng đa cấp được pháp luật chấp nhận bởi hình thức bán hàng này có những ưu điểm của nó.

Hành vi bán hàng đa cấp bất chính chủ yếu nằm ở hai chỗ: cách thức bán hàng và cách thức trả thưởng. Trong đó có một hành vi vi phạm phổ biến như bắt người tham gia phải nộp một khoản tiền đầu tư để trở thành thành viên, một món hàng nhưng bán đi bán lại nhiều cấp để lấy phần trăm; trả hoa hồng chủ yếu từ việc dụ dỗ, giới thiệu người khác vào mạng lưới mà không dựa trên kết quả bán hàng thực sự, thu phí từ việc đào tạo người trong hệ thống…

Bản chất bán hàng đa cấp là tốt, vì nó tiết kiệm chi phí khi phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất. Nhưng khi triển khai thì nhiều cái tốt bị biến tướng, và đặc biệt là nó đánh vào khát vọng làm giàu nhưng mù quáng về kiến thức và thiếu bản lĩnh của các bạn trẻ. Khi bạn còn trẻ, bạn không bao giờ thành công được nếu không xây dựng nền tảng kiến thức và kinh nghiệm vững chắc cho mình. Cứ đứng núi này trông núi nọ, làm nhiều thứ nhưng chẳng giỏi thứ gì thì làm sao mà đi xa được.

Bạn thường chỉ có thể tích lũy nhiều kinh nghiệm đủ để trơ và có bản lĩnh khi làm việc trong một lĩnh vực ít nhất từ 3 năm – 5 năm, không bao giờ có cái gì là nhanh, là gọn cả. Và như nhiều người nói, để trở thành chuyên gia trong bất kỳ lĩnh vực gì, bạn phải có 10,000 giờ cho nó. Thế nhưng, là chuyên gia thì phải là chuyên gia đúng nghĩa, và quan trọng nhất là phải có chữ TÂM. Khi có TÂM, có TÀI, chắc chắn sẽ có TẦM ảnh hưởng.

Tôi ngỡ ngàng khi được nghe chia sẻ thực trạng sinh viên Việt. Rằng Việt Nam mình bây giờ không phải là thừa thầy thiếu thợ, mà là thừa BẰNG nhưng thiếu cả thầy và thợ giỏi. Thực trạng đám đông: việc chân tay thì lười không muốn làm, việc chất xám thì không đủ trình độ để làm được. Tìm đâu một giải pháp?

Tuổi trẻ bây giờ lười học quá

Tôi dự một hội nghị tầm cỡ quốc tế được tổ chức ở Hà Nội – đại hội quảng cáo châu Á – Adasia 2013. Tôi ngỡ ngàng vì trước đây cá nhân tôi lúc nào cũng thoái thác việc học ngoại ngữ trong khi mọi giờ giải lao của hội nghị hôm đó, người ta đều chủ yếu nói hai thứ ngoai ngữ là Tiếng Anh và Tiếng Trung. Ngơ ngác chẳng hiểu gì, tôi thấy hổ thẹn, thấy mình kém cỏi và nhỏ bé. Tôi giật mình khi nghe câu chuyện của một đại biểu với lời khuyên về một thứ rất nhỏ, gần gũi thôi nhưng mà mình quá vô tình không để ý.

Đó là bài học về việc tiết kiệm nước bởi vì trên thế giới có hàng tỷ người không có nước sinh hoạt mỗi ngày trong khi bao lâu nay mình chẳng thèm quan tâm và cứ sử dụng một cách xả láng. Những bài học cho dù là nhỏ như vậy, cũng cần phải học. Lười đọc, lười học, lười phát triển bản thân. Cứ như vậy bao giờ mới lớn lên được? Nếu bạn 30 tuổi mà bạn không chịu học hỏi, phát triển bản thân mình cho tốt đẹp lên thì chẳng khác gì bạn chỉ là một đứa trẻ 1 tuổi sống cuộc đời mình lặp đi lặp lại 30 lần.

Tuổi trẻ bây giờ ít người “dám bước đi”

Nói đúng hơn là ngại bước đi. Tuổi trẻ bây giờ thích ngồi quá. Thích ngồi trong phòng trọ, ngồi trong lớp học, ngồi trong quán ăn, ngồi trong hàng net. Và đặc biệt là ngồi trong những cái sai lầm của tư tưởng. Có phải tự nhiên không khi mà Chế Lan Viên từng than rằng: “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp – Giấc mơ con đè nát cuộc đời con?” Thơ ông sâu xa, nhiều tầng ý nghĩa. Nhưng có thể thấy một điều hiển nhiên rằng, cái sự không dám bước đi là ở chỗ mắc kẹt vào “những giấc mơ con” một cách quá sâu, quá lâu mà không tách ra được. Cứ mắc kẹt trong những cái giấc mơ tầm thường trong suốt cả cuộc đời mà không dám nghĩ lớn, không dám làm việc lớn.

Có lần được hỏi về điều trăn trở của vua cà phê Việt Đặng Lê Nguyên Vũ, ông trả lời rằng:

“Điều trăn trở của tôi còn là sự day dứt của nhiều bạn trẻ đang mặc cảm của sự nghèo khó, của lòng tự ti. Nhưng tiền bạc vốn không phải là vấn đề mà điều quan trọng là phải có những ước mơ lớn lao. Hiện nay, có nhiều bạn trẻ đang mang trong lòng những ước mơ rất hạn hẹp về những giá trị vật chất mà thiếu đi “chất lửa” của tuổi trẻ khát khao được cống hiến, được chia sẻ và tâm huyết với những thay đổi lớn lao của dân tộc, của đất nước – đó cũng là một phần lỗi không nhỏ ảnh hưởng của nền giáo dục hiện nay đang làm bào mòn đi tính sáng tạo trong suy nghĩ của họ.”

Đâu rồi khát vọng tuổi trẻ Việt?

Lịch sử ghi nhận vô cùng nhiều con người trẻ nhưng thực sự tài năng, không chỉ có bài học ở người Việt, mà còn trên cả thế giới. Năm 27 tuổi, Gia Cát Lượng đã trở thành quân sư của Lưu Bị đi xây dựng mộng phục hưng nhà Hán sau 10 năm tu luyện ở Long Trung, là một “đứa con nít” trong mắt Tào Tháo nhưng đã làm kinh thiên động địa đánh tan 830,000 quân Ngụy sau trận Xích Bích.

Năm 37 tuổi, Võ Nguyên Giáp – một vị tướng không qua bất kỳ trường lớp quân sự chính thống nào được phong hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, làm cả thế giới bất ngờ và khâm phục khi chỉ huy các chiến dịch và các chiến thắng lớn đánh bại thực dân Pháp, đánh tan Mỹ thống nhất đất nước, dẹp loạn quân Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc.

Chẳng có gì là diễn ra tự nhiên cả, những con người đó, họ cần rất nhiều yếu tố để làm được những việc đó, nhưng khởi đầu là họ phải có tư duy lớn, khát vọng lớn chứ không chấp nhận mơ những giấc mơ tầm thường.

Cuộc sống chỉ bắt đầu khi thực sự tỉnh giấc. Tuổi trẻ là thế hệ quan trọng của đất nước. Tự tin quá không tốt, bi quan quá cũng không tốt, hãy là một người thực tế biết hy vọng. Cuộc đời này ngắn ngủi, đừng lãng phí cuộc đời vào những giấc ngủ quá lâu.

Tự vấn bản thân mình, rằng mình đã làm điều gì khác biệt trong chính cuộc sống mình? Mình đã làm điều gì ý nghĩa cho cuộc sống của mình? Mình đã mang đến những giá trị gì cho cuộc sống của người khác? Mình đã tạo ra những giá trị gì cho cuộc đời? Mình đã cống hiến được những gì cho đời? Bởi những gì bạn làm được cho bản thân sẽ ra đi cùng bạn, những gì bạn để lại cho đời sẽ ở lại mãi mãi.

Để làm được những điều đó, thế hệ trẻ – quan trọng là phải DÁM BƯỚC ĐI.

 

Đỗ Việt Cường

Em có mệt không em? (Phần 3)

 Featured Image: Elizabeth Gadd

 

Em có mệt không em?
Khi em cứ yêu cầu mình là người giỏi nhất
Khi em cứ yêu cầu mình phải là người xuất sắc
Rằng em phải là người đặc biệt nhất cuộc đời.

Này em ơi
Xin em đừng tự giày vò mình như thế
Để tôi nói em nghe điều này nhé
Mỗi chúng ta đều là một người đặc biệt rồi đó em!

Em hãy nhìn chiếc lá rơi bên thềm
Đó chỉ là một chiếc lá nhỏ nhoi, không có gì đặc biệt
Nhưng chắc chắn em sẽ không tìm được chiếc lá nào giống như thế
Nên em hãy sống thật sự là chính mình!

Này em xinh!
Chỉ cần em cố gắng hết mình, làm những gì em có thể
Và em hãy mỉm cười để đón nhận kết quả
Vì đó là tất cả những gì em cố gắng, em à…

Đừng tự yêu cầu mình là người giỏi nhất nữa nhé em!
Sẽ khiến em vô cùng mệt mỏi…

Một Đời Quét Rác

Peter St. Onge – Cách mạng bạo lực thường ăn thịt những người sinh của nó

Featured image: the impossible cool

 

 

Lời người dịch: Đây có thể được coi là lời bạt cho những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày, Bên Thắng Cuộc, Đèn Cù, Giai Cấp Mới… và nhiều tác phẩm khác nữa.

********

Cách mạng cánh tả* là một trong những cú lừa lớn nhất trong lịch sử. Cả các nhà trí thức, những người khao khát bắn phá lẫn những người bị thiệt thòi, những người bị đưa vào trại tập trung chứ không phải vào thiên đường trên cõi thế, đều được hứa như thế cả.

*THĐP: Cánh tả trong chính trị có nghĩa là những tư tưởng thiên về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Cánh hữu là thiên về chủ nghĩa tư bản.

“Cách mạng thường ăn thịt những đứa con của mình.” Nhận xét này, do một nhà báo đưa ra trong cuộc Cách mạng Pháp, chỉ đúng một phần. Trên thực tế, các cuộc cách mạng ăn thịt chính những người sinh ra nó. Cụ thể là, các cuộc cách mạng tả khuynh trong lịch sử ăn ngay những trí thức cánh tả, tức là những người tạo điều kiện cho cách mạng xảy ra. Tôi dùng từ “cánh tả” ở đây là để chỉ những cuộc cách mạng có mục tiêu rõ ràng là sử dụng sức mạnh của chính phủ nhằm cải tạo xã hội. Để cải tạo xã hội cho phù hợp với cách hiểu về “công lý” mà những người cổ động cho nó coi là hấp dẫn.

Tất nhiên, trong những cuộc cách mạng mang tính cải cách như thế, các nhà trí thức chỉ là một món khai vị mà thôi. Những cuộc cách mạng mang tính cải cách của lịch sử chuyển thẳng vào món chính: nó bắt đầu ăn xơi những người bị thiệt thòi và những người thiểu số, tức là những người ủng hộ cách mạng nhiệt tình nhất.

Tất cả những cuộc cách mạng cánh tả trong thế kỷ XX đều theo mô hình này: được những nhà trí thức không tưởng trợ giúp, quyền lực nhanh chóng bị các nhà chính trị chuyên nghiệp – những kẻ luôn luôn lợi dụng những bản năng thấp kém nhất của những người bình thường – chiếm đoạt. Ngay cả ở những nơi “văn minh” nhất, như nước cộng Weimar ở Đức hay “sân chơi của những ngôi sao” Cuba trong những năm 1950, những kẻ vừa mới được đưa lên ngai vàng đều lấy làm sung sướng khi nhìn thấy những nhà trí thức và những bạn bè “đã thoái hóa” của họ bị bỏ tù, bị tra tấn và bị treo cổ trên những cột đèn.
Nhắc lại chỉ thêm buồn. Nhất là đối với những người cấp tiến muốn lấy tiền của người đóng thuế để cổ vũ cho bạo lực. Mao nổi tiếng khi khoe rằng đã “chôn sống 46.000 trí thức”, ý là ông ta đã đưa tất cả bọn họ vào các trại tập trung để họ ngậm miệng và chết ở đó. Phong trào cộng sản cực đoan của Pol Pot nổi tiếng vì đã giết hàng ngàn trí thức, đến mức tất cả những người đeo kính đều bị giết. Ngay cả các chế độ được cho là “mát mẻ”, ví dụ như của Fidel Castro, cũng lập ra các trại tập trung dành cho cho người đồng tính, trong khi Liên Xô cấm đồng tính luyến ái trong hơn năm mươi năm, vượt cả Putin.

Khôi hài nhất là, từng là ngôi sao sáng trong trường đại học, nhưng người hùng cực đoan Che Guevara đã tỏ ra vui sướng và tự mình giết những người đồng tính, những người mà ông ghét cay ghét đắng, trong khi giúp xây dựng hàng loạt trại tập trung của Fidel trên khắp cả nước để tra tấn những người đồng tính và những người đàn ông biến thái nhằm buộc họ phải từ bỏ điều được coi là trụy lạc, được coi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản suy đồi về mặt đạo đức.

Tại sao các cuộc cách mạng mang tính cải cách đều thích giết cả những người trí thức cánh tả và những “nhóm dễ bị tổn thương” vốn gần gũi như thế với trung tâm của cánh tả? Bởi vì quyền lực có logic riêng của nó. Bởi vì tất cả các chính phủ dựa vào bạo lực đều phải thường xuyên ngó lại phía sau. Và điều đó có nghĩa là nó phải kêu gọi những bản năng thấp kém nhất của quần chúng. Nếu quần chúng ghét người đồng tính, hay người Do Thái, hay các nhà trí thức thì chính phủ sẽ làm những gì nó nói, nó sẽ đưa những người đồng tính, người Do Thái và trí thức vào trại khổ sai. Những người thấp hèn nhất ghét cái gì thì chính phủ toàn trí toàn năng ghét cái ấy.

Tại sao các nhà trí thức lại không nhìn thấy mô thức hành động khủng khiếp này? Có lẽ, họ hy vọng rằng lần này khác và lần này những người cấp tiến trong các trường đại học và các chính trị gia sa lông của họ sẽ nắm được dây cương. Nếu lịch sử là người dẫn đường thì những người đó sẽ không giữ được dây cương. Không những thế, những nhà chính trị chuyên nghiệp sẽ giật mất cuộc cách mạng của họ và biến nó thành cơn ác mộng khủng khiếp nhất đối với họ: biến thành cuộc cách mạng phản-trí-tuệ, chống người đồng tính, phân biệt chủng tộc và bài Do Thái. Dù khởi nguồn của cách mạng có trong sạch đến đâu thì lịch sử cũng cho thấy kết quả tất yếu là như thế.

Chẳng có gì vui cả. Không ai trong chúng ta muốn những người cánh tả cấp tiến bị treo lên cột đèn hay bị giết trong văn phòng của Che cho ông ta xem. Chúng ta muốn là những nhà cải cách ủng hộ bạo lực sẽ phải có thái độ thận trọng hơn nữa với mồi lửa mà họ đang nhóm lên. Họ nên nghiên cứu thêm một chút về lịch sử. Để hiểu lý do tại sao, lúc nào và ở đâu nó cũng như thế, để hiểu cưỡi lên con hổ mang tên chính phủ có quyền lực không hạn chế là việc nguy hiểm đến mức nào.

Những người cánh tả nghĩ rằng họ có thể kiểm soát được con hổ mang tên quần chúng đã được phá cũi sổ lồng. Nhưng họ không thể kiểm soát được và trên thực tế, họ sẽ là người đầu tiên bị treo lên cột đèn. Và đấy là điều rất đáng buồn cho tất cả chúng ta, cả những người tả khuynh lẫn hữu khuynh.
[themify_box style=”yellow rounded” ]Peter St. Onge là Phó giáo sư tại Taiwan’s Fengjia University College of Business.[/themify_box]

 

 

Dịch: Phạm Nguyên Trường

Nguồn: https://mises.org/library/revolutions-eat-their-parents

Kenny Sang: thiên tài hay kẻ tâm thần?

Featured Image: Ibal

 

Mình thì trước nay không để ý đến Kenny Sang cho lắm, nhưng mấy hôm nay muốn học qua marketing nên nhớ đến những nhân vật scandal nổi cộm lên. Cái tên gần nhất hiện lên là Kenny Sang, thế là cũng tò mò vào page Kenny Sang tìm hiểu kỹ hơn. Hồi xưa toàn nhìn ảnh cái rồi tắt đi luôn.

Điều mà chắc ai cũng biết về Kenny Sang là những phát biểu “quái đản” như thách ai phát hiện phấn trên mặt, sẵn sàng trả 10 tỷ cho người đó hay những hành động “quái dị” như hóa thân thành Võ Tắc Thiên. Nhưng điều khá đặc biệt là khi vào trong page, bạn sẽ thấy hầu hết những comment ủng hộ hay thể hiện sự yêu quý Kenny Sang nhận được rất nhiều like và sự hưởng ứng (20-50 likes).

Trong đó những comment đả kích thường nhận được số likes khiêm tốn (4 -10 likes). Mình nhớ lần đầu tiên mình vào page, những comment chửi bới hay mắng nhiếc thường dài đến nửa trang A4 và nhận được rất rất nhiều sự ủng hộ. Toàn bộ những comment phản đối đều được highlight và đưa lên đầu. Vậy điều gì đã thay đổi?

Có lẽ là con người ta chửi mãi cũng chán. Những ai ghét từ cứ ghét, chửi thì cứ chửi nhưng dường như tất cả những tiếng chửi đó đều đi vào lỗ chân không: tan biến theo mây khói.

Giữa người với người luôn tồn tại sự khác biệt giữa suy nghĩ. Khi bạn thể hiện bất kể điều gì, dù điên cuồng đến mấy luôn luôn có những người ủng hộ bạn. Nếu như sự nổi tiếng của Kenny Sang có thể chạm tới 10 triệu người trên facebook, thì con số 500k người like fan page cũng sẽ không quá khó hiểu.

Có những người nghĩ hành động của Kenny Sang là gàn dở, nhưng tồn tại những người nghĩ đó chỉ là hình thức giải trí, mua vui. Cuộc sống sẽ thú vị hơn nếu có những câu chuyện “gàn dở” như thế để thảo luận!? Sự chọn lọc tự nhiên khiến những ai yêu thích Kenny Sang ở lại page, còn những ai chửi mãi không được cũng chán mà bỏ đi. Sự chán nản thể hiện rõ trong độ dài comment, với sự sụt giảm từ nửa trang A4 xuống còn một câu.

Dạo gần đây Kenny Sang có xuất hiện trên báo chí với những hình ảnh làm từ thiện. Sự thay đổi từ một kẻ “gàn dở” đến một người biết giúp đỡ người khác cũng thay đổi suy nghĩ của một bộ phận nào đó.

Con người luôn có sự thiên vị. Chỉ cần bạn đưa cho họ một lý do, họ sẽ bảo vệ ý kiến của mình đến cùng. Sau khi xem xong những hình ảnh làm từ thiện của Kenny Sang, rất nhiều comment phản đối, đề cập tới đạo đức giả của Kenny Sang, trong khi đó vẫn có nhiều comment bênh vực Kenny Sang với những lý lẽ khó phản đối như: “Người ta thể hiện sự khác người cũng chửi, giúp người cũng chửi, thế các bạn muốn gì.” Hay “Đã mấy bạn ở đây làm được việc tốt như Kenny Sang mà vào nói người ta.” Sự ủng hộ Kenny Sang có vẻ càng ngày càng gia tăng (ít nhất là ở trên page)

Kenny Sang có thể rất lạ đời hay hơi “điên điên” trên page Kenny Sang (được xếp vào mục giải trí), nhưng lại rất nghiêm chỉnh trên trang shopkennysangvest với những hình ảnh hotboy và ăn mặc chỉnh tề. Những status thì tương đối nghiêm túc. Dường như có một sự rạch ròi giữa page giải trí và page bán hàng.

Có vẻ như Kenny Sang là một con người bình thường, chỉ “giả điên” để có thể PR cho bản thân và shop quần áo. Nhưng có lẽ, người có thể chịu đựng hàng tấn gạch đá của dư luận như thế cũng không bình thường chút nào.

Như nhiều trang báo đã nêu ra, sự nổi tiếng của Kenny Sang đến từ những anh hùng bàn phím. Hành động của Kenny Sang dù có “tệ hại” đến đâu cũng không ảnh hưởng tới sức khỏe, tiền bạc hay sự nghiệp của những người khác. Chỉ có những ai thích lo chuyện bao đồng hay thừa thời gian mới ngồi “chửi” nửa trang giấy với hy vọng Kenny Sang sẽ thay đổi.

“Chào anh Kenny Sang, tôi không hiểu tại sao tôi đã del và chặn đủ thứ nhưng thông tin của anh vẫn hiện trên facebook của tôi. Tôi không ấn like với trang fanpage này! Cảm phiền anh hãy chặn tôi với những thông tin của anh. Tôi biết là cha mẹ đẻ con mà đứa con đó có tật thì cha mẹ là người có lỗi, con cái buồn hơn cha mẹ! Chia buồn với anh! Tôi biết anh không muốn như vậy đâu nhưng do bẩm sinh thôi. Cảm phiền anh chặn tôi dùm ạ! Cảm ơn anh, xin lỗi làm phiền.”

Mình đã cười sặc sụa khi đọc comment trên. Trên phương diện truyền thông, mình thấy Kenny Sang quá giỏi.

 

Nguyễn Đình Tùng

Di sản của sự ích kỷ

Featured Image: Thằng Bé

 

Tự nhiên lại cảm thấy, mình chẳng còn đứa bạn nào cả. Đứa nào cũng đang chạy đua cho một mục đích cao đẹp nào đó, đứa nào cũng bảo mình hãy làm gì đó. Mình thì nghĩ rằng, khi đã chẳng có cam kết hay động lực để làm hoàn thiện một điều gì thì tốt nhất, đừng bắt đầu nó.

Những điều mà mình đang trải qua, có lẽ đó chỉ là câu chuyện của riêng mình mà chẳng ai chia sẻ được

Câu chuyện của một đứa không thích loài người. Một đứa vì sợ, và chán mới ngồi đọc sách. Phải, mình chỉ đọc sách như thói quen, từ rất nhỏ. Khi mà sự ám ảnh trong ngôi nhà của mình và cảm giác cô độc khi không có một người bạn nào để chia sẻ thì sách – thứ lặng im ấy, thứ đang trò chuyện mà không bao giờ bắt mình phải tạo ra một mối quan hệ nào giữa mình và tác giả ấy khiến mình cảm thấy an tâm. Ít nhất, mình có thể đọc những gì tác giả viết, chê bai, tán thưởng… nhưng chẳng cần phải quen biết tác giả.

Mình không phải là một người quá cuồng nhiệt cho bất kỳ ý tưởng nào, dự án nào nhằm giải quyết những vấn đề của con người. Mình mới bắt đầu nhìn con người như con người thôi. Mình còn chẳng biết đến cái lúc nào thì mình mới thấy rằng mình mới cảm thấy có trách nhiệm, hay yêu quý, hay muốn thay đổi điều gì ở cuộc sống này.

Có điều, mình đang sống, như thể ngày mai mình sẽ xuống mồ. Người ta, khi mà sắp chết ấy, nghĩ đến điều đó, thường mơ tưởng tới những thứ xa vời, tạo ra một thứ gì đó cho cuộc đời này, một sự thay đổi, một di sản nào đó để để lại. Còn mình, chỉ nghĩ đến việc là chính mình, giải quyết vấn đề của bản thân.

Mình ghét cảm giác những người đang làm từ thiện hoặc phi chính phủ khoác lên mình tấm áo của cái đúng hay là của chính nghĩa. Chính nghĩa hay cái đúng chẳng thuộc về ai cả. Họ cũng đang bước đi với sự hoài nghi của mình, đánh đổi rất nhiều thứ của những người có liên quan cho niềm tin ấy của họ. Họ đang ích kỷ chứ. Ích kỷ thì có gì sai. Chỉ là ích kỷ theo cách này hay cách khác. Cách của mình, cho đến tận bây giờ, mình vẫn không thấy nó sai.

Là một người bình thường thôi mà. Mình chỉ muốn là một người bình thường. Nhưng mọi người mong chờ một sự “bình thường” khác mà mình không có. Tại sao lại hỏi mình đọc sách để làm gì mà không hành động. Họ thích hành động thì hành động, mình đâu ngăn cấm cũng chưa chắc đã chỉ trích. Tại sao cứ phải trình bày cho người khác biết mình nghĩ gì, tại sao cứ phải đọc sách và thay đổi thế giới. Tại sao đọc sách là để thay đổi thế giới.

Ôi, cái cụm từ tạo ra di sản mới thật là buồn cười. Tạo ra “di sản”? Cho ai? Chắc gì cái thế giới kề cận bởi những con người mới kia đã nhìn nhận những gì anh tạo ra như một sự đóng góp. Anh chỉ đang làm việc cho anh. Tạo ra con đường của anh, hy vọng những người sau sẽ tiếp tục xây cái đường đó hoặc ít nhất, đi lại trên nó chứ không bỏ phí.

Nhưng mà. Tệ thật. Viết đến đây buồn ngủ quá quên mất mình nghĩ gì rồi. Tóm lại thì dù người khác có được hưởng lợi từ anh hay không thì vẫn là anh đang thỏa mãn anh, làm việc vì lý tưởng của anh, suy nghĩ của anh. Đừng nói anh làm việc cho thế giới nữa. Anh có phải là nô lệ của thế giới đâu mà khi sinh ra đã bắt anh phải tạo ra một cái gì đó cho thế giới rồi? Chẳng biết anh nghĩ thế thì khác gì anh nghĩ là con cái thì phải làm những gì bố mẹ nói, phải nghe lời bố mẹ.

Trách nhiệm với cộng đồng được tạo ra khi anh ký một cái gì đó với thế giới này. Sao anh phải phóng đại nó lên thành cái gì đó cao vời vĩ đại thế? Chẳng qua là một bản hợp đồng đôi bên cùng có lợi.

 

Thằng Bé

Ludwig von Mises (1881-1973) – Chủ nghĩa tự do truyền thống

 

Lời người dịch: Đây là một trong những tác phẩm hay nhất mà tôi từng được đọc trong suốt cuộc đời đọc sách của mình và theo thiển ý, tất cả những người quan tâm tới xã hội, những người muốn thảo luận những vấn đề mà xã hội của chúng ta đang phải đối mặt hiện nay đều nên đọc cuốn sách này.


 

Lời giới thiệu cho lần xuất bản bằng tiếng Anh năm 1985

Thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” có xuất xứ từ tiếng Latin: “liber”, nghĩa là “tự do”, khởi kỳ thuỷ là để nói đến triết lý tự do. Ở châu Âu, khi tác phẩm này được chấp bút (1927), nó vẫn còn có nghĩa như thế, vì vậy độc giả của nó đã hy vọng là sẽ tìm được ở đây lý giải về triết lý tự do truyền thống. Đáng tiếc là trong mấy chục năm gần đây thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” đã có ý nghĩa hoàn toàn khác.

Thuật ngữ này đã bị những nhà triết học theo đường lối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là ở Mĩ, sử dụng để nói về chủ nghĩa can thiệp của chính phủ và những chương trình “nhà nước phúc lợi” của họ. Một trong rất nhiều thí dụ có thể dẫn ra ở đây là ông cựu thượng nghị sĩ Mĩ, Joseph S. Clark con, khi ông này còn làm thống đốc bang Philadelphia, đã mô tả lập trường “tự do” của ông ta bằng những từ như sau:

“Xin làm rõ ngay từ đầu và loại bỏ mọi sự mù mờ vể mặt ngữ nghĩa, người tự do được hiểu là người tin vào việc sự dụng mọi lực lượng của chính phủ nhằm thúc đẩy sự công bằng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội trên bình diện địa phương, bang, quốc gia và quốc tế… Người tự do tin rằng chính phủ là công cụ tốt cho việc phát triển xã hội, người muốn đưa những nguyên tắc của đạo Thiên chúa giáo vào đời sống.” (Tờ Atlantic, tháng 7 năm 1953, trang 27)

Quan điểm như thế về “chủ nghĩa tự do” đã giữ thế thượng phong vào năm 1962, tức là năm tác phẩm này được dịch sang tiếng Anh, Mises tin rằng dịch sát nghĩa tên gọi ban đầu của tác phẩm là Liberalismus có thể sẽ gây ra hiểu lầm. Vì vậy mà ông đền nghị gọi bản tiếng Anh là Cộng đồng tự do và thịnh vượng (The Free and Prosperous Commonwealth). Nhưng năm sau ông quyết định không nhường thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” cho các triết gia xã hội chủ nghĩa nữa.

Trong lời giới thiệu cho lần xuất bản thứ hai và thứ ba tác phẩm Hành vi của con người, tác phẩm quan trọng nhất của đời ông, Mises viết rằng những người ủng hộ cho triết lý tự do cần phải giành lại “thuật ngữ ‘chủ nghĩa tự do’ .. vì đơn giản là không có thuật ngữ nào thể hiện được đúng đắn phong trào trí thức và chính trị vĩ đại đó”, một phong trào dẫn đến nền văn minh hiện đại bằng cách thúc đẩy thị trường tự do, chính phủ hạn chế và tự do cá nhân. Thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” được dùng trong tác phẩm này theo nghĩa đó.

Nhằm giúp những độc giả mới làm quen với các công trình của Ludwig von Mises (1881-1973), xin nói thêm rằng ông đã là người phát ngôn nổi bật của Trường phái kinh tế Áo. Trường phái này được gọi như thế vì Mises và hai vị tiền bối nối tiếng của ông là Carl Menger và Eugen von Behm Bawerk đều là những người sinh trưởng ở nước Áo.

Hòn đá tảng của Trường phái kinh tế Áo là lý thuyết về cách đánh giá chủ quan về giá trị hữu dụng cận biên. Lý thuyết này chỉ ra rằng tất cả mọi hiện tượng kinh tế, cả đơn giản lẫn phức tạp, đều là kết quả của những đánh giá mang tính chủ quan của từng cá nhân. Mises giải thích và phân tích phương pháp luận, giá trị, hành vi, giá cả, thị trường, tiền tệ, tập đoàn độc quyền, sự can thiệp của chính phủ, tăng trưởng nóng và sụp đổ kinh tế… trên cơ sở của lý thuyết đánh giá chủ quan đó và đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực tiền tệ và tính toán kinh tế.

Mises bảo vệ luận án tiến sĩ ở trường đại học tổng hợp Vien vào năm 1906. Đề tài luận văn của ông, Lý thuyết về tiền tệ và tín dụng, được xuất bản ở Đức vào năm 1912 và ở Anh vào năm 1934, là tác phẩm đầu tiên trong rất nhiều công trình lý thuyết của ông về kinh tế học

. Trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến, ngoài những tác phẩm và bài báo viết về kinh tế, trong đó có tác phẩm tạo được tiếng vang như Chủ nghĩa xã hội, Mises còn là cộng sự của Phòng thương mại Áo (cố vấn về kinh tế cho chính phủ Áo) và giảng dạy bán thời gian tại trường tổng hợp Viên. Ông còn hướng dẫn những buổi thảo luận của các nhà nghiên cứu kinh tế, nhiều người trong số họ đã trở thành những học giả có ảnh hưởng quốc tế. Năm 1926 ông thành lập Viện nghiên cứu chu kỳ kinh tế ở Áo, Viện này vẫn còn cho đến ngày nay.

Ngay sau khi Hitler giành được chính quyền ở Đức, Mises đã nhìn thấy rằng nước Áo sẽ gặp rắc rối. Cho nên năm 1934 ông đã chuyển sang làm việc cho Viện nghiên cứu quốc tế ở Thụy Sĩ. Ở đây, ông bắt đầu chấp bút tác phẩm Nền kinh tế quốc dân (Nationaloekonomie-1940). Mặc dù ở châu Âu xã hội chủ nghĩa quốc gia hồi đó chẳng có mấy người biết tiếng Đức đọc tác phẩm này, nhưng cách lý giải những nguyên lý kinh tế sâu sắc của Mises đã tìm được nhiều độc giả qua bản dịch tiếng Anh, và sau đó được Mises viết lại cho độc giả Mĩ dưới nhan đề Hành vi của con người (Human Action – xuất bản lần đầu năm 1949)

Nhằm chạy khỏi châu Âu lúc đó đã bị phát xít Hitler chiềm đóng, Mises và vợ đã rời khỏi Thuỵ Sĩ và đến định cư ở Mĩ vào năm 1940. Tiếng tăm của ông đã vang dội ở châu Âu, nhưng ở Mĩ thì chưa mấy người biết. Vì vậy mà ông phải bắt đầu gần như từ con số không.

Những tác phẩm bằng tiếng Anh bắt đầu xuất hiện dưới ngòi bút của ông: Chính phủ toàn trí toàn năng và Bộ máy quan liêu, cả hai đều được xuất bản vào năm 1947. Sau đó là tác phẩm Hành vi của con người, một tác phẩm quan trọng nhất của cuộc đời ông, được xuất bản vào năm 1949. Và những tác phẩm khác: Kế hoạch hóa vì tự do (1952), Tâm lý bài tư bản (1952), Lý thuyết và lịch sử (1957), Những nguyên lý căn bản của kinh tế học (1962), lần luợt xuất hiện. Tất cả đều là những tác phẩm cực kỳ quan trọng về lý thuyết kinh tế.

Năm 1947 Mises giúp thành lập hội Mont Pelerin Society. Ông giảng dạy tại nhiều trường đại học Mĩ và Mĩ Latin và tiến hành những buổi hội thảo về kinh tế học tại trường đại học tổng hợp New York trong suốt 24 năm. Ông còn là cố vấn cho Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia và Quỹ giáo dục kinh tế.

Mises nhận được nhiều danh hiệu như: tiến sĩ danh dự của trường các Grove City College (1957), đại học tổng hợp New York (1963),và đại học tổng hợp Freiburg ở Đức (1964). Thành tựu của ông được trường học cũ, tức trường đại học tổng hợp Viên, công nhận và theo truyền thống châu Âu, trường này đã kỷ niệm lần thứ 50 ngày ông nhận bằng tiến sĩ và “tái” cấp bằng cho ông. Năm 1962, đến lượt chính phủ Áo vinh danh ông. Hiệp hội các nhà kinh tế học Mĩ bầu ông làm hội viên danh dự vào năm 1969.

Ảnh hưởng của Mises vẫn tiếp tục mở rộng. F. A. Hayek, người học trò nổi tiếng nhất của ông từ những ngày ông còn giảng dạy ở châu Âu, cũng là người từng được giải Nobel về kinh tế học, viết: “Ảnh hưởng của Mises đã vượt qua khuôn khổ cá nhân… Ngọn lửa mà ông thắp lên đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho một phong trào mới, một phong trào ngày càng có thêm sức mạnh.” Còn Giáo sư Israel Kirzner của trường đại học tổng hợp New York, một trong những người học trò nổi tiếng nhất của ông ở Mĩ, thì mô tả ảnh hưởng của ông đối với sinh viên hiện nay như sau: “Sự quan tâm đầy nhiệt tình và hăng hái đang tái xuất hiện đối với trường phái Áo mà ta chứng kiến hiện nay có đóng góp mang tính quyết định của Mises.

Mises là một lý thuyết gia sắc bén và rất thận trọng, nhưng ông không phải là lý thuyết gia ngồi trong tháp ngà. Được dẫn dắt bởi lý luận khoa học rằng xã hội tự do với nền kinh tế thị trường là con đường duy nhất đưa đến sự hài hoà và hoà bình cả trong nước lẫn trên trường quốc tế, Mises cảm thấy trách nhiệm phải áp dụng những lý thuyết mà ông trình bày vào lĩnh vực chính sách của chính phủ.

Trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do, Mises không chỉ giải thích một cách ngắn gọn nhiều hiện tượng kinh tế quan trọng mà còn trình bày một cách rõ ràng quan điểm của ông về chính phủ và vai trò, tuy hạn chế nhưng vô cùng quan trọng, của chính phủ trong việc bảo đảm sự hợp tác của xã hội, chỉ có như thế thì thị trường tự do mới có thể hoạt động được. Quan điểm của Mises vẫn rất mới mẻ và hiện đại và độc giả sẽ thấy rằng ngày hôm nay lý giải của ông vẫn còn nguyên giá trị.

Thông điệp của Mises: tư tưởng cai trị thế giới, là điệp khúc được nhắc đi nhắc lại trong tất cả các tác phẩm của ông. Nhưng tư tưởng này được thể hiện rõ nhất trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do. “Kết của cuối cùng của cuộc đấu tranh”, giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa toàn trị, “sẽ không được giải quyết bằng vũ lực mà bằng tư tưởng. Chính tư tưởng đưa con người vào các nhóm đấu tranh và đặt vũ khí vào tay họ, tư tưởng quyết định vũ khí sẽ được dùng để chống lại ai và vì ai. Cuối cùng, chính tư tưởng chứ không phải vũ khí sẽ quyết định kết quả”, ông đã viết như thế vào năm 1927.

Trên thực tế, chính hy vọng giữ cho thế giới không tiếp tục lao vào hỗn loạn và xung đột đã thuyết phục người ta từ bỏ chủ nghĩa can thiệp của chính phủ và chấp nhận chính sách tự do.

 

Bettina Bien Greaves, tháng 8 năm 1985.

Ludwig von Mises


Lời giới thiệu bản dịch tiếng Anh

Trật tự xã hội hình thành từ triết lý của thời Khai Sáng khẳng định vai trò tối thượng của người dân “thường”. Trong vai người tiêu dùng, người dân bình thường trở thành người đưa ra quyết định cuối cùng về việc cái gì sẽ được sản xuất, với số lượng là bao nhiêu, chất lượng như thế nào, ai sản xuất, sản xuất thế nào, sản xuất ở đâu; trong vai người đi bỏ phiếu, người dân bình thường có toàn quyền quyết định đường lối của chính sách quốc gia.

Trong xã hội tiền tư bản “ông trùm” là những kẻ có đủ sức buộc những người yếu hơn phải quy phục. Cái cơ chế bị nhiều người chỉ trích của thị trường tự do chỉ để ngỏ duy nhất một con đường dẫn tới thịnh vượng, đấy là phục vụ người tiêu dùng một cách tốt nhất và rẻ nhất có thể. Trong lĩnh vực công việc quốc gia, hệ thống chính phủ đại diện là hệ thống phù hợp nhất với “nền dân chủ” như thế của thị trường tự do.

Sự vĩ đại của giai đoạn giữa những cuộc chiến tranh của Napoleon và Chiến tranh thế giới thứ nhất chính là lý tưởng xã hội: tự do buôn bán trong thế giới của những dân tộc hoà bình, một nền tự do mà những người kiệt xuất nhất đang đấu tranh để biến nó thành hiện thực. Đấy là thời đại mà đời sống của người dân được cải thiện với tốc độ chưa từng có. Đấy là thời đại của chủ nghĩa tự do.

Hiện nay người ta gần như đã quên hết các nguyên tắc của chủ nghĩa tự do thế kỷ XIX rồi. Ở châu Âu lục địa chỉ còn vài người nhớ mà thôi. Ở nước Anh, thuật ngữ “tự do” được đa số người sử dụng nhằm ám chỉ cái cương lĩnh mà thực ra chỉ khác chủ nghĩa toàn trị của những người xã hội chủ nghĩa ở những tiểu tiết. Hiện nay ở Mĩ, từ “tự do” lại được dùng để chỉ một tập hợp các ý tưởng và định đề chính trị trái ngược hẳn với cách hiểu về chủ nghĩa tự do của các thế hệ tiền bối. Người tự do kiểu Mĩ là người ủng hộ chính phủ toàn trí toàn năng, là kẻ thù không đội trời chung của tự do kinh doanh và là kẻ ủng hộ cho kế hoạch hoá mọi mặt của đời sống, tức là ủng hộ chủ nghĩa xã hội.

Những người “tự do” này vội vã nhấn mạnh rằng họ phản đối chính sách độc tài của nước Nga không phải là vì tính chất xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa của những chính sách đó mà vì chúng có xu hướng đế quốc chủ nghĩa. Tất cả các biện pháp nhằm tịch thu tài sản của những người giàu có và hạn chế quyền của những người có tài sản đều được coi là tự do và tiến bộ cả.

Các cơ quan của chính phủ nắm được quyền lực hầu như không hạn chế, toà án không có quyền phán xét quyết định của họ. Một vài công dân trung thực, những người dám phê phán xu hướng độc tài, bị coi là những kẻ cực đoan, phản động, bảo hoàng về kinh tế và phát xít. Người ta cho rằng đất nước tự do không thể dung thứ hoạt động chính trị của những “kẻ thù xã hội” như thế.

Đáng ngạc nhiên là ở đây người ta coi những quan điểm này là hoàn toàn của Mĩ và là sự tiếp tục của các nguyên tắc và triết lý của những người định cư đầu tiên (Pilgrim Father) ở Mĩ vào năm 1620, của những người đặt bút ký vào bản Tuyên ngôn độc lập, những tác giả của bản Hiến pháp và tờ Federalist. Chỉ một ít người biết rằng những chính sách được coi là tiến bộ này có xuất xứ từ châu Âu và trong thế kỷ XIX người đại diện tiêu biểu nhất của trường phái này chính là Bismarck, chẳng có người Mĩ nào lại coi chính sách của ông ta là tiến bộ và tự do hết.

Chính sách Sozialpolitik của Bismarck xuất hiện vào năm 1881, tức là hơn nửa thế kỷ trước khi bản sao của nó là New Deal của tống thống F.D. Roosevelt được thi hành ở Mĩ. Theo sau sự vùng dậy của Đế chế Đức, hầu hết các nước phát triển, tất cả các nước công nghiệp châu Âu, nơi nhiều nơi ít, đều áp dụng hệ thống làm như là mang lại lợi ích cho quần chúng bằng cách tước đoạt quyền lợi của thiểu số những kẻ “cá nhân chủ nghĩa thâm căn cố đế”. Thế hệ những người đến tuổi bầu cử vào giai đoạn cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất coi việc dựa vào nhà nước là đương nhiên và khinh thường tự do, cho rằng đấy là “định kiến mang tính tư sản”.

Ba mươi lăm năm trước, tôi đã từng cố gắng viết một tác phẩm ngắn, trình bày tóm tắt những tư tưởng và nguyên tắc của môn triết lý xã hội từng có tên là Chủ nghĩa tự do. Tôi không nghĩ rằng cuốn sách của mình có thể ngăn chặn được những thảm hoạ mà chính sách của các nước châu Âu đang đưa tới. Ước muốn duy nhất của tôi là tạo cơ hội cho một nhóm nhỏ những người ưu thời mẫn thế tìm hiểu mục đích của chủ nghĩa tự do truyền thống và những thành tựu của nó, và bằng cách đó, chuẩn bị cơ sở cho việc tái lập tinh thần tự do sau vụ sụp đổ đang đến gần.

Ngày 28 tháng 10 năm 1951, Giáo sư J. P. Hamilius từ Luxembourg hỏi nhà xuất bản Gustav Fischeri ở Jena (thuộc lãnh thổ Đức nhưng do quân đội Liên Xô chiếm đóng) để mua một cuốn Chủ nghĩa tự do. Ngày 14 tháng 11 năm 1951 nhà xuất bản trả lời rằng không còn cuốn nào và nói thêm: “Theo quyết định của chính quyền, tất cả các bản in cuốn sách này đều đã bị tiêu huỷ”. Bức thư không nói chính quyền ở đây là nước Đức quốc xã hay nhà nước “dân chủ” Đông Đức.

Trong những năm kể từ ngày xuất bản tác phẩm Chủ nghĩa tự do tôi đã viết rất nhiều về những vấn đề được nói tới trong tác phẩm này. Tôi đã nghiên cứu nhiều vấn đề mà lúc đó tôi không thể trình bày trong tác phẩm này vì không muốn làm cho độc giả chán nản vì quá dài. Mặc khác, lúc đó tôi đã xem xét một số vấn đề mà hôm nay thấy là không còn quan trọng nữa. Tuy nhiên, chỉ có thể hiểu và đánh giá đúng cách xem xét nhiều vấn đề thuộc về chính sách trong hoàn cảnh kinh tế và chính trị khi tác phẩm này được chấp bút mà thôi.

Tôi không sửa chữa bất kỳ điều gì và không can thiệp vào quá trình dịch do tiến sĩ Ralph Raico thực hiện cũng như quá trình biên tập do ông Arthur Goddard tiến hành. Tôi xin cám ơn hai nhà khoa học này vì công sức họ đã bỏ ra để tác phẩm có thể đến tay bạn đọc rộng rãi bằng Anh ngữ.

 

Ludwig von Mises, New York, tháng 4 năm 1962.


 

Lời giới thiệu của Louis M. Spadaro

Tôi cho rằng cuốn sách tương đối mỏng này có tầm quan trọng gấp nhiều lần sức tưởng tượng nếu chỉ nhìn vào độ dày và ngôn ngữ khiêm nhường của nó. Đây là tác phẩm bàn về xã hội tự do, bàn về điều mà hiện nay có thể được gọi là “chính sách” đối nội và đối ngoại cho xã hội như thế; và đặc biệt là bàn về những trở ngại và khó khăn, cả thực tế lẫn tưởng tượng, trên con đường thiết lập và giữ gìn hình thức tổ chức xã hội như thế.

Trong khi tất cả những vấn đề này đều không có gì đặc biệt thì điều đáng ngạc nhiên là hầu như tất cả những người ủng hộ cho bất kỳ một hình thức tổ chức kinh tế thay thế nào khác đều không đưa ra được cách lý giải tương tự như thế về những đề nghị của họ. Ngay cả hiện nay, khi càng ngày càng có nhiều người tham gia vào việc cung cấp cho chúng ta những lời phê bình rất chi tiết về chủ nghĩa tư bản và những lời tiên đoán về sự cáo chung không thể nào tránh được của nó thì họ lại tỏ ra kín tiếng đến khó hiểu trong việc “xử lý” những mâu thuẫn hoặc những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình vận hành cái hệ thống mà họ bảo vệ hoặc tiên đoán.

Tuy nhiên, dễ dàng bỏ qua thái độ phớt lờ như thế vì rằng người ta thường gán trách nhiệm cho những người đáng ra là không phải chịu. Lên án Marx, đây là thí dụ dễ gặp nhất, rằng trong Tư bản luận, ông ta không chỉ ra được cách thức hoạt động cụ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa, là việc làm không thể chấp nhận được; vì tác phẩm này nhằm đúng mục tiêu mà nó được trù liệu: nghiên cứu với tinh thần phê phán hoạt động của chủ nghĩa tư bản như Marx mường tượng.

Lên án Mises vì trong tác phẩm Chủ nghĩa xã hội ông đã không thảo luận những nguyên tắc của hệ thống tự do cạnh tranh cũng là việc làm vô nghĩa như thế. Điều quan trọng là Mises đã dành hẳn một cuốn sách để thảo luận bài toán này trong khi Marx thì không bao giờ làm như thế. Đấy là tác phẩm mà Marx không thể viết, còn những đồ đệ của ông cũng như những người phê phán chủ nghĩa tự do thì không thèm viết.

Nhưng giá trị thực sự của tác phẩm này không nằm ở ý nghĩa hạn hẹp và còn nhiều tranh cãi đó, nó có tính chất xây dựng và quan trọng hơn nhiều. Dù ngắn gọn, nhưng tác phẩm cố gắng giải đáp hàng loạt vấn đề, đánh tan những mối ngờ vực và lầm lẫn mà nhiều người gặp phải khi họ tìm cách giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, tình cảm còn nhiều tranh cãi. Ưu điểm đặc biệt của nó là đối với mọi vấn đề được bàn thảo Mises đều đưa ra được những nhận thức thấu triệt và những quan điểm để người ta có thể lựa chọn, và đấy là điều rất bổ ích.

Vì chắc chắn là độc giả muốn tìm hiểu ngay những vấn đề đó cho nên tôi sẽ không đưa những nhận xét riêng của cá nhân mình, ngoại trừ một vài suy nghĩ bắt buộc phải có. Thay vào đó chúng ta sẽ lựa ra những câu hỏi và những ý kiến sẽ nảy ra trong tâm trí độc giả khi họ xem xét những vấn đề còn gây tranh cãi được Mises nói đến ở đây và đáng được người đọc chú ý. Để tiện cho việc theo dõi, xin liệt kê chúng theo trình tự như được trình bày trong tác phẩm.

1. Hệ thống thị trường tự do đã tồn tại trong một thời gian dài, nhưng cũng đã chứng tỏ rằng đây là hệ thống kém hiệu quả.

2. Chủ nghĩa tự do bị phê phán vì chỉ tập trung chú ý vào ước muốn gia tăng sản xuất và thoả mãn nhu cầu vật chất và bỏ qua những đòi hỏi về mặt tinh thần của người dân.

3. Vì không phải lúc nào người ta cũng hành động một cách hoàn toàn hợp lý, có lẽ đối với một số vấn đề nên tin vào trực giác, xung lực và cái gọi là “tâm thức” thì sẽ tốt hơn là lý luận chặt chẽ?

4. Không thể phủ nhận sự kiện là chủ nghĩa tư bản thực chất là hệ thống có lợi cho người giàu và những người có tài sản và bất lợi cho những tầng lớp khác.

5. Tại sao lại phải bảo vệ cái hệ thống xã hội không tạo điều kiện cho mỗi người thực hiện ước mơ của người đó hay giành được kết quả mà anh ta cống hiến?

6. Quyền tư hữu tư liệu sản xuất có phải là món đồ lỗi thời trong cái “đồ thừa” của thời đã qua mà những những người cảm thấy khó chấp nhận và khó thích nghi với những điều kiện đã thay đổi phải mang trên lưng hay không?

7. Tự bản chất, nền kinh tế thị trường cạnh tranh, trong trường hợp tốt nhất, có chống lại nền hoà bình giữa các dân tộc và trong trường hợp xấu nhất, có gây ra chiến tranh hay không?

8. Lấy gì biện hộ cho cái hệ thống kinh tế-xã hội gây ra quá nhiều bất công trong thu nhập và tiêu thụ đến như thế?

9. Nếu để chủ nghĩa thực dụng sang một bên thì về mặt đạo đức, ta có thể biện hộ cho quyền sở hữu tư nhân được hay không?

10. Chống lại chủ nghĩa can thiệp của nhà nước, chủ nghĩa tự do có vô tình biện hộ cho một số biểu hiện của tình trạng vô chính phủ hay không?

11. Chưa có gì chứng tỏ rằng xã hội dân chủ và ổn định lại dễ dàng trở thành hiện thực trong hệ thống lập kế hoạch và ra quyết định phi tập trung hơn là trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.

12. Vì sao lại cho rằng xã hội tư bản nhất định sẽ có thái độ khoan dung đối với bất đồng chính kiến hơn là xã hội xã hội chủ nghĩa?

13. Chủ nghĩa tư bản tạo ra và tiếp tục bảo vệ địa vị ăn trên ngồi trốc cho “giai cấp ăn không ngồi rồi”, những kẻ nắm được nguồn lực nhưng không làm và không có đóng góp gì đáng kể đối với xã hội.

14. Quyền tư hữu có có thể tốn tại lâu như thế là vì nó được nhà nước bảo vệ; thực ra, như Marx khẳng định, nhà nước chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là bảo vệ quyền tư hữu.

15. Luận cứ cho rằng chủ nghĩa xã hội không thể hoạt động được vì nó không có phương tiện để thực hiện những tính toán kinh tế cần thiết là luận cứ rất đáng quan tâm, nhưng có chứng cớ cụ thể hay không?

16. Giả thiết cho rằng việc can thiệp của chính phủ vào hoạt động của doanh nghiệp tư nhân nhất định sẽ dẫn đến lệch lạc và vì vậy mà có tính phá hoại cũng là giả thiết hay, nhưng có thể chứng minh bằng thí dụ cụ thể rằng điều đó chắc chắn sẽ xảy ra hay không?

17. Không phụ thuộc vào những bằng chứng chứng tỏ rằng những hệ thống được đề nghị nhằm thay thế cho chủ nghĩa tư bản đều thua kém hơn, có những lý do trực tiếp và chắc chắn biện hộ cho hệ thống tự do kinh doanh hay không?

18. Muốn hoạt động được, tất cả các hệ thống tự do cạnh tranh đều cần phải có rất nhiều công ti nhỏ, liên tục cạnh tranh với nhau, liệu hệ thống đó có teo đi khi các đại công ti và các cơ sở độc quyền phát triển hay không?

19. Vì ban quản trị các công ti lớn cũng có xu hướng trở thành bộ máy quan liêu, việc đặt bộ máy kiểm soát tư nhân đối lập với bộ máy quản lý công cộng có phải là vấn đề giả tạo hay không?

20. Có phải là trong chế độ tự do việc phối hợp giữa chính sách đối nội và đối ngoại dễ thực hiện hơn và nhất quán hơn là trong các hệ thống khác hay không?

21. Có phải sự tồn tại và việc bảo vệ quyền sở hữu tư nhân là cản trở chứ không phải là tác nhân cho việc giành và giữ hoàn bình và sự thông cảm giữa các dân tộc hay không?

22. Có vẻ như rõ ràng là chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc chỉ có thể xuất hiện trong chế độ tư bản chủ nghĩa.

23. Quyền lợi ích kỷ của các doanh nhgiệp tư nhân là trở ngại chính cho sự luân chuyển một các tự do hơn hàng hoá và con người giữa các vùng trên thế giới.

24. Vì là người đại diện và cổ vũ cho quyền lợi đặc biệt của một giai cấp – giai cấp những kẻ nắm được các nguồn lực hay giai cấp tư sản – Chủ nghĩa tự do đã có một sai lầm chiến thuật ngớ ngẩn nghiêm trọng khi không tự mình tạo ra một chính đảng và không theo đuổi mục tiêu của mình bằng cách thoả hiệp và phù hợp với thủ đoạn chính trị.

Bất cứ ai từng có điều kiện quan sát một cách trực tiếp cách thức những quan điểm có sẵn trong đầu, những nửa sự thật và những “giá trị” dường như hiển nhiên thường ngăn cản, không cho người ta xem xét một cách toàn diện và công bằng đối với những quan điểm xa lạ hoặc những quan điểm làm cho người ta khó chịu trong môn kinh tế học sẽ nhận ra ngay nhiều điểm vừa được liệt kê.

Câu trả lời của Mises cho mỗi điểm vừa nêu sẽ giúp độc giả bình thường (và những người mới bắt đầu nghiên cứu) có một cái nhìn toàn diện hơn đối với những vấn đề xã hội và lý giải được những mối ngờ vực của chính mình. Dễ hiểu vì sao Đông Đức lại cấm tác phẩm này – như Mises nhắc tới trong phần giới thiệu – và đấy là một bằng chứng nữa, tuy người ta không cố ý, chứng tỏ rằng đây là tác phẩm quan trọng.

Cuối cùng, xin được bình luận ngắn về hai điểm nữa. Điểm thứ nhất đã được nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm, nhưng được nói trong ngữ cảnh rất phức tạp và ở những chỗ cách xa nhau cho nên độc giả có thể không nhận ra tính phổ biến và vai trò quan trọng của nó.

Ý tưởng này – một ý tưởng cực kỳ quan trọng trong lập luận của Chủ nghĩa tự do chân chính – đấy là thường thường ta phải làm cái mà Mises gọi là “hy sinh tạm thời”, một việc làm cực kỳ cần thiết và hữu ích. Giành ngay những lợi ích trước mắt, tuy có vẻ là việc làm hấp dẫn, những sẽ là việc làm ngu xuẩn, nếu trong khi làm như thế ta tự tuớc mất lợi ích lớn hơn nhiều lần trong tương lai; tức là tước mất cái lợi ích lớn đến mức có thể bù đắp được lợi ích hiện tại và những phiền phức trong quá trình chờ đợi.

Dĩ nhiên là ít người khôn ngoan, trong khi “tính toán” với những điều kiện như thế, lại ngả về phía lợi ích trước mắt. Nhưng đấy chính là khó khăn lớn nhất, không phải lúc nào người ta cũng tính toán một cách thận trọng, họ cũng không được khuyến khích phải làm như thế. Sai sót như thế thường xảy ra trong những hoàn cảnh rất khác nhau và không chỉ xảy ra với những công dân hay người tiêu thụ “bình thường”.

Nó có thể xảy ra với những doanh nhân săn tìm lợi nhuận ngắn hạn hoặc lợi thế tương đối; nó có thể xảy ra với những nhà làm luật ủng hộ cho việc nâng ngay lập tức tiền tương tối thiểu, trả bảo hiểm xã hội, đặt ra thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế khoá khác; nó có thể xảy ra với những nhà kinh tế học khuyến cáo nới lỏng tín dụng hoặc tái phân phối thu nhập; và biết bao nhiêu người khác nữa. Trên thực tế, tìm ra những thí dụ nữa trong tác phẩm và đặc biệt là trong khi suy nghĩ về những vấn đề và những cuộc tranh luận hiện nay sẽ là một bài tập tuyệt vời đối với độc giả tập sách này.

Cuối cùng, xin được nói đôi lời về tên gọi của tác phẩm. Cuốn sách này được xuất bản lần đầu vào năm 1927, với nhan đề Chủ nghĩa tự do và là tác phẩm bổ xung, như đã nói bên trên cho tác phẩm của Mises viết về chủ nghĩa xã hội. Sự kiện là khi dịch tác phẩm này trong tiếng Anh người ta đã muốn hoặc thấy cần phải đổi tên thành Xã hội thịnh vượng và tự do (Free and Prosperous Commonwealth), đã thể hiện rõ điều mà tôi tin là bi kịch trong lịch sử tri thức: đánh tráo thuật ngữ Chủ nghĩa tự do.

Vấn đề không chỉ là thuật ngữ, cũng không thể coi nó là một thí dụ đơn giản của sự thoái hoá ngôn ngữ – thường gọi là entrôpi từ ngữ – ý nghĩa và giọng điệu cũ biến mất cùng với thời gian. Ở đây chúng ta bắt gặp không chỉ sự mất giá của thuật ngữ, dù thuật ngữ ấy có quan trọng đến mức nào. Đây là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về tri thức lẫn thực tiễn.

Trước hết, từ “tự do” (liberal) có nguồn gốc từ nguyên rõ ràng, thể hiện trong lý tưởng về tự do cá nhân. Nó còn có gốc gác mang tính lịch sử đầy giá trị trong truyền thống và kinh nghiệm, cũng như được kế thừa di sản văn hoá sâu rộng trong những lĩnh vực như triết học xã hội, tư tưởng chính trị, văn học ..v.v.. Vì lý do đó và nhiều lý do khác nữa, thật không thể tưởng tượng được rằng quan điểm mà tác phẩm này trình bày lại không có độc quyền và tư thế không thể tranh cãi để tự nhận danh hiệu là Tự do.

Nhưng, mặc cho tất cả những điều đã trình bày, thuật ngữ Chủ nghĩa tự do, sau khi ra khỏi thế kỷ XIX và vượt qua Đại Tây Dương, đã mang một ý nghĩa khác, không phải khác một chút mà là trái ngược hoàn toàn với ý nghĩa vốn có của nó! Kết qủa là người ta đã lầm lẫn và mơ hồ đến nỗi ngay cả khi có hẳn một kế hoạch thì cũng khó mà tưởng tượng nổi làm sao mà nội dung và ý nghĩa của nó lại có thể bị xuyên tạc đến mức như vậy.

Nhưng đáng buồn nhất là hai điểm sau đây. Thứ nhất, đấy là sự đồng thuận đáng kinh ngạc của những hậu duệ chính hiệu của chủ nghĩa tự do không chỉ trong việc để cho thuật ngữ này tuột khỏi tay mình mà trên thực tế còn khước từ nó bằng cách sẵn sàng sử dụng nó như một từ thoá mạ những người có cảm tình với đảng xã hội chủ nghĩa, thế mà thuật ngữ phù hợp hơn với họ đã tồn tại từ trước rồi. So với nó thì câu chuyện ngụ ngôn về con lạc đà và túp lều còn có vẻ nhẹ nhàng hơn.

Thứ hai, là việc đánh mất thuật ngữ “Chủ nghĩa tự do” đã buộc người ta phải sử dụng một số thuật ngữ thay thế hoặc những cách nói quanh co như “người tự do” (libertarian), “Chủ nghĩa tự do thế kỷ XIX (nineteenth century liberalism) hay Chủ nghĩa tự do “cổ điển” (“classical” liberalism). Liệu có ai đã tuyên bố rằng mình là người thuộc phái tự do “tân-cổ điển” vừa nảy nòi ra hay không?

Chả lẽ chúng ta đã vĩnh viễn đánh mất thuật ngữ chủ nghĩa tự do rồi ư? Trong phần phụ lục cho nguyên bản tiếng Đức (có đưa vào bản dịch này), Mises đã bàn về ý nghĩa của thuật ngữ và nói đến khả năng tái lập lại ý nghĩa cũ cho nó. Nhưng vào năm 1962, trong lời giới thiệu tác phẩm, có vẻ như ông đã không còn bất kỳ hy vọng nào nữa.

Tôi không nghĩ như thế. Vì, cho dù có nói thế nào đi nữa thì Chủ nghĩa tự do vẫn là của chúng ta, tôi tin là chúng ta có trách nhiệm khôi phục lại ý nghĩa ban đầu của nó, ít nhất thì đấy cũng là vấn đề nguyên tắc. Nhưng còn có những lý do khác nữa. Thứ nhất, như Mises từng chỉ ra, Chủ nghĩa tự do có ý nghĩa rộng hơn là tự do kinh tế, đây là thuật ngữ cần thiết vì nó là thuật ngữ phù hợp nhất và thể hiện được rõ nhất bản chất của vấn đề.

Ngoài ra, để có thể nói chuyện một cách cởi mở và thẳng thắn với dân chúng – sự ủng hộ của họ là yếu tố cực kỳ quan trọng – chúng ta cần một thuật ngữ đơn giản và dễ hiểu chứ không phải là một từ mới “khó lọt tai” đối với người bình dân. Hơn nữa, thời đại và hoàn cảnh đang có nhiều thuận lợi – dân chúng đang ngày càng bất mãn với những hành động can thiệp của chính phủ và nhận thức về quyền tự do lựa chọn của cá nhân có thể sẵn sàng đồng nhất với một cái tên vốn được mọi người tôn trọng và bao bao hàm được trọn vẹn ý nghĩa của tự do.

Muốn giành lại tên, chúng ta phải làm gì? Chắc chắn là chúng ta phải phuc hồi lại chính quá trình mà chúng ta đã đánh mất nó. Trước hết là không sử dụng nó theo nghĩa sai kia nữa, sau đó là tái khẳng định ý nghĩa đúng đắn của nó (thuật ngữ này vẫn đang được sử dụng ở một số nơi trên thế giới). Và cuối cùng là không cho những kẻ không có quyền sử dụng thuật ngữ này tiếp tục chiếm đoạt nó, họ phải tìm một nhãn hiệu phù hợp với quan điểm của họ cũng như Chủ nghĩa tự do là tên gọi phù hợp với chúng ta vậy.

Một số người cảm thấy băn khoăn một cách vô lý về việc nhập nhằng không thể tránh khỏi của các học thuyết – tôi ngờ rằng đấy một phần là do trước đây chúng ta đã rời khỏi lều của mình một cách vội vã – nhưng đấy là cái giá mà bây giờ chúng ta phải trả. Thứ nhất, hiện nay sự nhập nhằng cũng vẫn còn, nhưng tạm thời thì điều đó có thể chấp nhận được. Ngoài ra, sự nhập nhằng làm cho cả hai bên đều cảm thấy khó chịu, bên kia cũng phải trả giá và có thể lần này sự bất tiện sẽ làm cho con lạc đà rút lui.

Như vậy là, lần in này đã trở lại với tên gọi ban đầu của tác phẩm. Hy vọng rằng những người kia cũng đồng tình sử dụng thuật ngữ này mà không cần phải xin lỗi hay giải thích gì hết – không cần bất kỳ cái gì như thế cả – để cho Chủ nghĩa tự do trở về với ý nghĩa đúng đắn và phù hợp với truyền thống của nó.

 

Louis M. Spadaro
Trường đại học tổng hợp Fordham (Fordham University), Tháng 8 năm 1977

Phạm Nguyên Trường dịch
Nguồn: http://mises.org/liberal.asp