17.4 C
Da Lat
Thứ Bảy, 14 Tháng 3, 2026

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
Trang chủ Blog Trang 157

Những ngày tù chung với ông Đạo Dừa

Featured Image: Wikipedia Commons

 

Tôi biết về ông Đạo Dừa rất ít.

Trước kia, có một dạo tôi hiểu lầm ông. Nói hiểu lầm thì không đúng lắm, tôi đã đánh giá sự đấu tranh của ông một cách phiến diện, hời hợt. Tôi được biết ông tên Nguyễn Thành Nam, một nhà trí thức tân tiến, đỗ bằng kỹ sư Canh Nông ở Pháp, có tinh thần ái quốc cao. Ông thành tài về nước, không làm việc cho Pháp, dấn thân vào cuộc cách mạng dân tộc.

Vào thuở tôi còn mài đũng quần nơi những lớp trung học Pháp, tên tuổi của ông đã lẫy lừng, tương lai rạng ngời hào quang. Người Pháp ở Đông Dương rất ưu đãi dân thuộc địa thông thạo Pháp ngữ. Từ các công sở đến tòa án, hễ ai nói thông được tiếng Pháp kể như nắm được chiếc chìa khóa vàng trong tay, vào cửa nào cũng thông cũng lọt. Huống chi đối với những nhà khoa bảng xuất thân từ những đại học ở “chánh quốc” áo gấm về nước! Với cái tài ấy, cái thế ấy, giá khéo luồn lọt một tí, làm gì chẳng thừa miếng đỉnh chung?

Nhưng ông kỹ sư Nam ấy lại không đem cái tài học của ông làm việc cho Pháp. Ông cũng không dùng cái vốn liếng văn hóa Tây phương gây lợi cá nhân, cho có được vợ đẹp con ngoan, cho có trang trại giàu sang trưởng giả, hoặc khai khẩn dinh điền màu mỡ cò bay thẳng cánh… Ông đã rũ bỏ cảnh phồn hoa quyến rũ, dứt lìa văn minh vật chất ông có thể thụ hưởng thừa thãi, để về một cồn vắng… trèo lên ngồi trên ngọn cây dừa mà tu, và thành là ông Đạo Dừa!

Tôi từng nghe mấy người anh bà con, cùng ở Pháp về chuyến tàu với ông, không ngớt bàn tán về hành động ấy của ông:

– Kỹ sư Nam ở Bến Tre tính gì thế? Toan làm chính trị? Hay muốn chóng nổi danh?
– Hắn bất hợp tác với nhà cầm quyền ư? Chủ trương tranh đấu bất bạo động như thánh Gandhi bên Ấn Độ à? Bối cảnh chính trị ở Việt Nam khác xa với bên ấy lắm cơ mà!
– Hay hắn lập dị? Cũng muốn tỏ ra ta đây anh hùng cách mạng?

Tôi nghe nói mà chán ngắt cho mấy ông anh họ ấy. Họ còn ham thụ hưởng, có dám dấn thân như thế đâu. Cũng có kẻ xu thời, làm chính trị sa lông. Thứ chánh trị không tốn kém gì, không hy sinh nguy hiểm gì, mà lại được tiếng là kẻ thức thời.

Tôi là lớp trẻ vừa trưởng thành, vừa mới hiểu biết, trong thập niên 30-40. Chúng tôi thường thao thức theo tiếng gọi thức tỉnh của hồn nước, của các bậc tiền bối yêu nước như cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ… Và cái chết oanh liệt của các bậc anh hùng Yên Bái Nguyễn Thái Học, Ký Con… đã khơi dậy lòng yêu nước khắp nơi.

Chúng tôi sống trong ký túc xá, giữa bốn bức tường kín học đường, song cũng biết được đại khái những hoạt động của các ông Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thạch, Phan Văn Hùm, Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Hồ Văn Ngà… và vô số nhà trí thức Trung Nam Bắc… đã không chạy theo vinh hoa phú quý thuở bấy giờ mà lại dấn thân làm quốc sự. Những quyển sách quốc cấm như Phan Đình Phùng, Con hùm Yên Thế Hoàng Hoa Thám, Giặc Cờ Vàng… được chúng tôi lén lút chuyền tay nhau, nửa đêm chun vào cầu tiêu, xem mê mệt không thôi.

Phong Trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục với những tổ chức đưa thanh niên du học nước ngoài, những trường bí mật đào tạo nhân tài đất nước đã nhiều đêm là mộng trắng canh trường của lòng trai háo hức dấn thân vào phiêu lưu của chúng tôi. Chúng tôi không còn lòng học hành nữa. Cái học trong nước, dẫu đến cao đẳng, cũng chỉ để làm nô lệ. Chúng tôi từng chứng kiến, căm hờn và ứa lệ, khi trông thấy đang trong giờ giảng bài, vị giáo sư đáng kính mến bỗng bị lính kính, mật thám Pháp vào lớp, xích tay lại dẫn ra xe…

Giữa cái buổi giao thời đặc biệt ấy của đất nước, bọn thực dân cai trị cố tình bên trên đè ép xuống, dân chúng ở dưới ngộp ngạt trôi mình, có một số thanh niên Tây học, đâm ra hoang mang mất hướng. Một số bỏ sở làm lương to, đi lên núi Cấm tu hành, hoặc toan luyện bùa phép chống lại súng đạn, hoặc toan tìm hậu duệ các tiền bối kháng Pháp thời xưa? Một số lại ủy mị hơn, tìm quên lãng hận mất nước trong làn khói phù dung! Một số tìm đường trốn ra nước ngoài, cố sao móc nối được một anh thủy thủ ngoại quốc có tàu buông neo ở Nhà Rồng, năn nỉ sao cho anh ta thương tình dấu dưới hầm tầu để đi được thoát. Nếu rủi ra khơi rồi mà thuyền trưởng hay được, bất quá hắn xiềng chân lại, chờ đến một bến cảng nào đó thì tống khứ lên bờ, miễn đừng trong thuộc địa của Pháp thôi, là cũng sướng đời rồi!

Tuy không nói nhiều ngoại ngữ, chỉ biết tiếng Pháp rất hạn chế trong thương trường quốc tế, nhưng những thanh niên mạo hiểm vẫn tin tưởng ở sức lực và bàn tay tháo vát của mình để có thể kiếm được cái ăn qua buổi, miễn không ngửa tay xin ăn. Mà dù không kiếm sống được, chết đói xứ lạ là cùng, còn hơn sống nô lệ nơi quê nhà vốn nổi tiếng vựa lúa Châu Á!

Tôi có một số bạn bắt mối được với một bạn thủy thủ tàu buôn Pháp, bọn này đòi 50 đồng mới cho xuống tàu. Ba đứa đều là học sinh, còn trong cảnh cơm cha áo mẹ, làm sao có đến một số bạc to lớn như thế? Bán cả đồ đạc, quyên góp khắp bạn bè mãi mới được 40 đồng, định sẽ năn nỉ xin bớt, chắc bọn chúng cũng chịu, nhưng khi đem tiền ra bến, hỡi ôi, con tàu buôn hôm nọ đã nhổ neo, ra lòng sông Sài Gòn rồi!

Sở dĩ tôi nói lên việc này là để cùng quý bạn hình dung lại thời điểm ấy của những công dân Việt Nam, như dòng sông Cửu Long đợt sóng này nối tiếp đợt sóng khác, đã ý thức được những việc cần phải làm của người bị trị. Quyền yêu nước không phải ở một người, ở một đảng phái nào. Bây giờ, người ta tha hồ tô hồng, chuốt lục lịch sử đảng họ. Bẻ cong cả lịch sử. Phủ nhận công ơn của những người ngoài đảng ta!

Các văn sĩ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa tán tụng tận mây xanh về việc đi tìm đường cứu nước của “bác”, làm như chỉ có “bác” của họ mới độc đáo đi nước ngoài. Ở Sài Gòn, có một dinh thự to tát và tráng lệ của thực dân Pháp bỏ lại bến Nhà Rồng, đáng lẽ thuộc về nhân dân đang thiếu nhà ở, thì đảng lại làm thành ngôi nhà kỷ niệm nơi xuất xứ đi ra nước ngoài của lãnh tụ. Để thờ những vật vớ vẩn! Sao không thờ bao nhiêu bậc tiền hiền cách mạng trước “bác” hoặc đồng thời với “bác”, tài ba hơn và sự hy sinh cống hiến nhiều hơn?

Cổ nhân bảo: luận anh hùng, chớ luận vào thành công hay thất bại, phải luận vào sự tiên phong khởi đầu. Những người thắp sáng, những nhà khai hoang, trong lãnh vực thương nước yêu nòi mới thực hiển hách. Cũng như nơi tuyến đầu, người lính trước tiên nhận diện được quân thù mà cảnh giác cho bạn đồng ngũ, dù có bị bắn ngã chết, vẫn giữ công đầu! Tổ quốc Việt Nam không quên ơn những người con ấy. Dầu hiện nay, họ bị bôi nhọ, hay xuyên tạc. Trong số đó có ông Đạo Dừa. Với một năm ở tù chung ở khám Cần Thơ, tôi mới thật sự biết ông. Khâm phục ông nhẫn nại, kiên quyết và bất khuất hơn người.

Trước kia, tôi chỉ biết ông có chí hướng hơn người. Ông tìm con đường tranh đấu riêng. Ông không theo phe này, lập hội kín nọ. Ông làm cách mạng quần chúng. Lấy số đông dân chúng làm hậu thuẫn. Ông pha màu tôn giáo vào chính trị, và ông đã khởi xướng lên một mình. Một loại tôn giáo hòa đồng. Thực chất là lấy tình thương bao la để khuyến dụ và cảm hóa mọi người. Ông đã gặt hái ít nhiều thành công. Lúc bấy giờ, tôi vẫn còn cho ông là một con người đáng tôn kính, song có phần lập dị.

Nhân một dạo, tôi có dịp đi đò máy từ bến bắc Rạch Miễu sang tỉnh lỵ Bến Tre, khi con đò chạy ngang qua một cái cồn đất nọ, người đi đò cùng trầm trồ trỏ tay bảo:

– Ông Đạo Dừa ngồi trên đọt dừa đó, thấy không? Ổng ngồi mấy năm nay rồi. Mặc nắng mưa, trưa tối!
Một bà lão già nói bằng giọng cung kính:
– Ai cũng tưởng ổng chịu không nổi, mà chết rồi! Nhưng người ta vẫn thấy ông ngồi trơ trơ đó. Mà ông phải nhà nghèo hèn gì, con nhà giàu sang, danh giá. Vậy mà ông lại đi tu. Nói là để độ đời!
Tôi hỏi lại:
– Tây để cho ông làm như vậy sao? Ông ra vẻ chống đối như vậy, bỉ mặt cho người Pháp ở Đông Dương lắm.
– Mèn ơi, họ bắt ổng giam vô tù mấy lần. Ổng tịnh khẩu, không thèm nói chuyện. Nhưng viết giấy hỏi Tây là ổng có tội gì mà bị bắt? Đụng chạm nhân quyền sao đó! Tây cãi không lại lý của ổng, phải thả ổng ra. Ổng lại trèo lên cây dừa mà ngồi. Tây giận lắm, sai người đốn bỏ cây dừa của ổng. Mất cây dừa đó, ổng lại trèo lên cây dừa khác. Mèn ơi, ai trông thấy ổng trèo dừa mà hổng thương đứt ruột! Tây lại sai người đốn dừa nữa, ổng lại ngồi trên cây khác. Đốn hết dừa cù lao này, thì ổng sang qua cù lao kia. Bến Tre là xứ dừa mà. Không lẽ Tây đốn hết dừa của tỉnh? Thằng Tây đành chịu thua ổng luôn.
– Rồi ổng ăn gì?
– Ổng chỉ uống nước dừa, có khi ăn thêm vài trái chuối để sống. Vậy nên người ta mới kêu ổng là ông Đạo Dừa.
– Thời buổi lộn xộn, ổng ngồi hoài như vậy, không sợ nguy hiểm?
– Ổng hổng sợ. Mà dân cũng thương ổng, ngấm ngầm bảo vệ cho ổng.
– Ổng tịnh khẩu hoài, không mở miệng nói chuyện? Không thuyết pháp sao? Vậy làm sao truyền đạo?
– Ổng không nói. Chỉ viết ra trên giấy. Nói chuyện cũng bằng giấy tờ. Vậy mà đệ tử đông lắm. Ở khắp nơi, đâu cũng có. Cả ở Lục tỉnh, ở miền Trung nữa. Vì đạo của ông tốt một cái là thờ kính ông bà, tôn trọng lễ nghĩa và ăn ở hòa mục với mọi người.

Tôi chăm chú nhìn lên ngọn dừa khi phà chạy ngang mé cồn. Trên ngọn một cây dừa cao, một hình bóng người nhỏ thó, mặc áo vải vàng, ngồi thu lu trên một giạt bằng cây to, trông thấy bấp bênh lơ lửng. Trời trưa nắng như hun đốt, mắt nhìn lên lóe sao. Thế mà bóng người nọ vẫn ngồi xếp bằng an tọa, tịnh nhiên. Ông ngồi như thế đã mấy năm trời? Gương kiên nhẫn của ông thật đáng phục!

Tôi vì bận việc ở Bến Tre, đến xế chiều mới xuống phà trở sang tỉnh Mỹ Tho. Ông Đạo Dừa vẫn ngồi trên ngọn dừa nơi cồn đất nọ. Ngọn gió chiều thổi lộng lòng sông rộng. Cây dừa trông từ xa thấy chao đảo. Thế nhưng ông đạo vẫn ngồi bằng an, tâm tư vắng lặng vào cõi hư vô nào? Hay ông đang nghiền ngẫm một thế cờ hay để giải thoát cho đất nước, cho con người? Bên kia bờ tỉnh lỵ Mỹ Tho đang sáng choang ánh đèn phồn hoa, lại có tiếng ca nhạc từ đài phát thanh nào đó phát ra âm điệu xa vời quyến rũ, mê ly. Như tất cả giục giã con người đừng hoài phí tuổi xuân, cứ quyện hồn vào những hoan lạc, say sưa…

Tôi bất giác ngước nhìn hình bóng ông Đạo Dừa ngồi nơi hoang tịch nọ. Cái bóng dáng gầy còm của người trí thức ngậm câm tiếng nói ấy lại có một sức mạnh huyền vi rọi xuống lương tâm con người. Cảnh giác người đời đừng mê bả béo mồi thơm mà quên hờn mất nước!

Sau đó, tôi bị kẹt! Mãi lâu sau tôi mới lại có dịp về miệt Tiền Giang. Thỉnh thoảng tôi gặp trên đường những người đàn ông có, đàn bà có, già có, trẻ có, mặc quần áo bằng vải màu vàng hoặc màu già, áo thì là áo bà ba gài nút ở giữa hay là vạt miễng, có người để tóc dài chít khăn màu vàng. Những người ấy ăn nói lễ phép, từ tốn và thân thiện. Tôi hỏi ra mới biết đấy là đệ tử của ông Đạo Dừa. Ông Đạo chủ trương hòa đồng tôn giáo. Ông thờ các bậc sáng thế. Phật Thích Ca ông cũng trọng, Chúa Ki Tô ông cũng kính, cả đến Lão Tử ông cũng theo, Khổng Tử ông cũng học… Tất cả các vị có lòng từ bi, bác ái, yêu thương nhân loại, xả thân vì chúng sanh, ông đều phụng thờ.

Đó là tình thương yêu phải học tập, phải noi theo. Đệ tử của ông rải rác khắp nơi. Họ hành đạo và truyền đạo với lòng tin vững chắc, dù phải gặp rất nhiều khó khăn, cả những hiểm nguy. Vì trong cái thế giới nhiễu nhương, còn lắm người nhắm mắt chạy theo thế lực kim tiền, thì trái tim thương yêu của người thiện lương dù mở rộng mấy cũng ít có người cảm thông. Rồi sau đó, tôi lại gặp một số đệ tử của ông Đạo Dừa trong cảnh nhà tù! Hỏi đến Thầy họ, Thầy họ chắc cũng bị cầm giữ đâu đó. Họ vẫn không rời chiếc áo bà ba vạc miễng của họ. Sau lưng áo, họ vẽ hai chữ Tu Tù thật lớn. Họ lặng thinh, không nói gì. Ai muốn hiểu sao hiểu.

Có thể bảo là vì tu nên mới bị tù. Có thể có nghĩa ở tù vẫn cứ tu. Lại có nghĩa lấy việc ở tù làm công quả học thành đạo. Theo họ, họ bảo tu cho đất nước hòa bình, con người thương yêu con người hơn. Chỉ có tình thương yêu mới khai trừ họa chiến tranh. Chỉ có tình thương yêu, mới san sớt đồng đều, mới thông cảm nhau, không cần đấu tranh giai cấp!

Tôi hỏi người đệ tử của ông Đạo Dừa:
– Nghe nói Thầy anh muốn làm người hòa giải?
– Phải. Cậu Hai yêu nước thương dân, không nỡ nhìn triệu triệu thanh niên ở hai phía bị nướng thiêu trong nạn nồi da xáo thịt. Chiến tranh đã hơn ba mươi năm, dân chúng điêu linh, xã hội tàn hoại, đất nước nghèo khổ lắm rồi, sao người ta lại không chịu ngưng tay?
– Thấy anh tin là hai bên có thể ngồi lại với nhau?
– Cậu Hai tin ai cũng có lòng yêu nước thật sự. Lòng yêu nước đứng trên quyền lợi của bè cánh, đảng phái.
– Và Thầy anh tin “bác Hồ” sẽ từ bỏ đảng cộng sản? Hay đặt quyền lợi của đảng, của Nga Sô, của Trung cộng ra ngoài để cứu nước cứu dân?
– Nếu ông Hồ yêu nước, ông phải làm như vậy!
Tôi khẽ thở dài:
– Thầy anh chủ trương tốt, nhưng tình hình chính trị phức tạp lắm, lại thêm lòng dạ tham lam của con người, tham vọng của quốc tế… Không như việc Thầy anh nuôi con mèo chung với con chuột một lồng…
– Thú vật còn biết dung nhau, con người lại không thể sao? Việc nước nhà mình đã đến lúc mình phải tính với nhau, không cần đến anh Mỹ, anh Nga, anh Tàu chen vào nếu họ không có thiện chí giúp đỡ!
– Tôi sợ Thầy anh ôm mãi cái không tưởng ấy. Giá mà thành được như thế, người dân Việt nào lại không thích?

Về sau, tôi lại nghe tin ông Đạo Dừa trở về Cồn Phụng, tức là cái cồn đất ông trèo lên ngồi trên cây dừa mấy mươi năm về trước. Khi ấy cồn đã có đông dân cư tụ tập. Nhà ở khang trang. Dân tình dễ sống. Có văn hóa. Có tình người. Có trật tự. Có cả mấy người Mỹ tu ở đấy. Ai trông thấy tướng đi lênh khênh của họ trong bộ quần áo bà ba màu vàng may rộng khổ mà vẫn thấy túm bó, với đôi bàn chân đi đất rón rén của họ, đều phải che miệng cười. Nhưng là cái cười đầy thiện cảm, thân ái. Họ gặp ai cũng chắp tay cúi đầu, nói trọ trẹ:

– Chào ông! … Chào bà! … Chào anh! … Chào chị! … Mạnh giỏi!

Nơi Cồn Phụng còn treo một biểu ngữ to Bất Chiến Tự Nhiên Thành. Đó là một câu sấm xưa từ mấy trăm năm, mà người ta cho là trong bài sấm Trạng Trình, tiên đoán về hậu vận nước nhà. Nhưng không ai hiểu câu sấm ấy ứng vào thời kỳ nào? Sao không đánh nhau mà thành? Và cái thành ấy có lợi cho phe nào? Tôi thầm nghĩ ông Đạo Dừa đưa lên câu biểu ngữ để kêu gọi ngưng chiến.

Nơi bến cồn có đậu một chiếc tàu sắt mà ông Đạo Dừa cho trang trí theo mỹ thuật Việt Nam và đặt tên là thuyền Bát Nhã. Trên con thuyền rộng lớn ấy, nơi phía trước, ông bầy ra nhiều hàng ghế sắt cho du khách ngồi. Nhiều phái đoàn ngoại quốc đến phỏng vấn ông, thu băng, quay phim. Ông ngồi nơi chiếc ghế đặt phía trước, có hai đệ tử đứng hai bên. Chính hai đệ tử nọ trả lời những câu hỏi của khách, thỉnh thoảng ông mới biên vào giấy cho họ phát biểu thêm những chi tiết.

Tôi đến nhằm lúc hết giờ phỏng vấn, nhưng cũng được đệ tử của ông nói về chánh kiến của đạo. Ông nhận ra tôi, chỉ mỉm cười. Nụ cười hiền hòa và thân thiết. Ông vẫn không ngớt tay lẫy những hột bắp, để sau đó tự ông nấu lấy ăn. Trước kia ông chỉ uống nước dừa. Dạo sau này, vì làm việc nhiều, vì đệ tử khuyên lơn, ông mới ăn thêm buổi ngọ (buổi trưa) bằng bắp nấu. Tôi trông thấy ông gầy ốm quá, thân hình nhỏ thó, đôi tay khẳng khiu, mặt thỏn như trẻ nít, song đôi mắt tinh anh sáng rực khác thường. Các phóng viên truyền hình ngoại quốc không ngớt tỏ vẻ kinh ngạc và thán phục trước một ông già ốm tong teo như cây sậy mà lại có một mãnh lực chịu đựng kiên cường.

Tự ông làm ra thức ăn cho ông, tuy rằng đệ tử của ông rất đông. Nếu ông để cho họ phục dịch, chắc họ sung sướng lắm. Nhưng ông chủ trương có làm mới có ăn, ông phải tự tay làm lấy thức ăn cho ông. Nếu ông bị rủi ro nằm bệnh ngày nào, ngày đó ông nhịn đói. Không ai khuyên lơn, năn nỉ ông được một miếng nào. Tôi trông thấy những việc ông làm, lòng vơi bớt đi những thành kiến thắc mắc về ông.

Ông thật sự thể hiện tình thương yêu to lớn. Ông xót xa đau đớn khi thấy chiến tranh kéo dài, dân tộc điêu linh tang tóc, đất nước kiệt quệ tài nguyên, lẽ ra có thể làm dân giàu, nước mạnh! Nhưng giữa khi đôi bên say chiến, nhất quyết một được một thua, tiếng gọi hòa bình của ông chỉ là tiếng gào khản trong sa mạc! Rồi đây, Cồn Phụng của ông, nơi ông tạo được một xã hội kiểu mẫu nho nhỏ ấy có được yên? Thân phận của ông và bầy đệ tử rồi sẽ nổi trôi, chìm ngụp thế nào trong cảnh biến loạn tang thương của đất nước?

Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, cái ngày uất hận của người Việt tự do! Cộng sản đã thôn tính được miền Nam Việt Nam, và chỉ qua một thời gian ngắn đã làm cho toàn quốc đói rách và sa đọa hơn bao giờ hết! Tôi lại gặp ông Đạo Dừa trong ngục thất Cần Thơ. Đầu tiên, tôi trông thấy ông, cũng như tôi, bị liệt kê vào thành phần tối nguy hiểm và bị biệt giam. Tức là nhốt trong co-nét, thùng sắt to tướng đựng đồ viện trợ của Mỹ hồi xưa.

Mỗi người một co-nét. Nằm ngồi, ăn uống, ỉa đái — xin lỗi độc giả — cũng tại chỗ. Cửa co-nét đóng lại, mình một mình trong tối bưng, trơ trọi và… thối bung! Không trông thấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Không biết ngày tháng, thời khắc. Thỉnh thoảng mới được chúng mở cửa co-nét dọn dẹp vệ sinh. Ôi mừng ơi là mừng. Mừng trông thấy được ánh sáng. Trông thấy những vật cử động sao lạ mắt quá chừng! Mới biết rằng mình còn sống ở nhân gian!

Bọn cai tù, bọn cán bộ, đối xử rất tàn nhẫn. Chúng ngoài miệng nói khoan hồng mà lòng thâm như rắn độc. Vô cớ cũng chửi rủa hạ nhục. Chúng như thể rửa hờn giai cấp bằng trút lên đầu kẻ sa cơ, thất thế dưới tay chúng. Chúng oán ghét ông Đạo Dừa vô cùng. Chỉ có ổng thản nhiên và coi thường chúng. Chúng càng đọa đầy ông bao nhiêu, ông càng quyết liệt và quật cường bấy nhiêu. Quyết không chịu thua chúng. Và lắm lần hành hạ ông mãi không xong, chúng phải chịu thua ông. Ông phản đối chúng bằng cách gõ cái ca uống nước vào cửa co-nét… xèng xèng… xèng xèng… có khi cả ngày không ngớt tiếng…

Tên lính gác bực mình quát hỏi:
– Làm gì om sòm thế? Giờ này khuya rồi, làm thế ai ngủ được?
Tiếng nói chậm rãi và rắn rỏi của ông Đạo Dừa đưa ra sau cửa co-nét:
– Cậu ơi, tôi thương cậu lắm…
– Tôi chả cần ông thương!
– Có ai ngăn trở được tình thương? Cậu không cần tôi thương là quyền cậu. Còn tôi thương cậu là quyền tôi. Tôi thương cậu chỉ là một kẻ tay sai. Như thiên lôi, lính trên bảo đánh đâu là phải làm vậy thôi. Thương cậu chiến đấu mấy năm trời, vào sanh ra tử biết bao lần, rốt cuộc cũng chỉ là anh lính gác, thương cậu chức vụ bé nhỏ quá, không làm sao giải quyết nổi chuyện của tôi…
– Nhưng ông muốn gì?
– Thương cậu quá! Cậu không giải quyết nổi, hỏi làm gì. Cậu kêu người lớn hơn cậu lại cho tôi nói chuyện.
– Giờ này mấy đồng chí cán bộ ngủ cả rồi.
– Tôi thương cậu quá! Nhưng khỏi cần nói chuyện với cậu.

Ông Đạo Dừa lại gõ lanh canh… lanh canh… Gõ nhịp đều như tiếng mõ hồi một. Mấy người bạn tù gần đấy giật mình thức giấc, thì thầm bảo nhau:

– Cậu Hai lại tranh đấu nữa rồi Bọn quản giáo, cán bộ rồi đây khổ sở với cậu không ít!

Những người bị “học tập cải tạo” bất đắt dĩ ấy tuy phải làm lụng cực nhọc ban ngày, ban đêm cần giấc ngủ cho lại sức, song không phiền hà khi phải thức giấc vì tiếng khua lon của ông Đạo Dừa. Trái lại, họ rất thích cảnh ông Đạo Dừa chống báng lại bọn hung tàn giết người không gớm tay ấy. Chỉ có ông Đạo Dừa mới dám làm, mới không biết sợ, không khuất phục trước uy vũ. Ông gõ lon gọi mãi cho đến khi tên lính canh phải đi gọi tên cán bộ cai tù đến. Tên này quát tháo lên:

– Ông muốn gì ?

Giọng nói của ông Đạo Dừa từ trong co-nét đưa ra, mềm mỏng, ngọt ngào:

– Tôi thương chú cán bộ quá. Thương chú đang ngủ ngon giấc mà bị dựng dậy vì tôi. Nhưng đành phải gọi chú nửa đêm, nửa hôm như thế này là vì tôi bị… bỏ đói!

Bọn quản giáo, thường ngày hay sừng sộ, mắng chửi phạm nhân. Với ai dầu già lão, bạc phơ tóc trắng, chúng cũng gọi là anh, tức là tử tế lắm rồi. Song đặc biệt chúng lại gọi ông Đạo Dừa là ông.
Tên cán bộ bực tức bảo:

– Ai bỏ đói ông?
– Không bỏ đói tôi, sao không cho tôi uống nước dừa?
Tên cán bộ mở cửa co-nét, chỉ tay về ổ bánh mì và lon sữa:
– Không có nước dừa nhưng có bánh tây và sữa đây thôi!
– Tôi không ăn những thứ đó. Tôi chỉ uống nước dừa.

Ông trả lời rất quả quyết. Tên cán bộ cầm ổ bánh mì lên xem có bị cắn mất miếng nào hay chăng? Lại bưng lon sữa xem xét tỉ mỉ. Hắn nghi ông Đạo Dừa giả bộ không ăn, nhưng kỳ thật đã nhấp nháp chút ít rồi giả bộ làm khó. Nhưng ổ bánh mì vẫn y nguyên, cả lon sữa cũng vẫn còn đầy. Mùi bánh và mùi sữa đưa vào mũi hắn, thơm ngon đến nỗi hắn phải nuốt nước bọt đến đánh ực một cái trong cổ họng. Hắn ăn no đầy đủ thế mà thấy ổ bánh và sữa ngọt bùi, béo bổ phải thèm rỏ dãi, thế mà lão già ốm nhom kia lại có gan cóc tía, đã đói rã ruột, vẫn chẳng thèm rớ tới.
Gã dằn ổ bánh mì và lon sữa xuống nền sắt co-nét, sầm nét mặt bảo:

– Ngon bổ thế này mà ông chê. Chả có thứ khác đâu!
Ông Đạo Dừa vẫn ngọt ngào:
– Tôi thương chú cán bộ! Chú nhỏ chức quá, không giải quyết được vấn đề của tôi. Thương đã làm mất giấc ngủ của chú. Thôi chú về ngủ lại đi. Để tôi gọi cấp trên của chú. Tôi thương chú ít quyền quá!…

Và rồi ông lại gõ lanh canh… lanh canh… Gõ đến sáng vẫn không dứt tiếng. Tên trưởng trại phải đến gặp ông:

– Ông đòi hỏi chuyện ngoài luật lệ của nhà tù.
– Mấy chú bỗng dưng giam cầm tôi, giam cầm hàng ngàn người vô tội, có theo luật lệ nào không?
– Mấy người có nợ máu với nhân dân. Còn ông là tay sai của CIA.
– Chú có biết CIA là thế nào mà mở miệng ra là buộc tội cho mọi người. Ai làm sở Mỹ là CIA? Tiếp xúc với người Mỹ là CIA? Biết tiếng Ăng-lê cũng là CIA? Học thức một chút cũng CIA. Chỉ có bần cố nông mới không là CIA? Thế hồi Việt Minh còn ở chiến khu Việt Bắc, có Mỹ trợ lực cho cũng là CIA? Bác Hồ lúc ấy cũng CIA?
– Này ông đừng nói bậy mà khốn!… Cứ nói đến việc ông kêu đói. Tại ông chê thức ăn đặc biệt của nhà tù cho ông dùng….
– Ê, không phải à. Thức ăn đó Tín hữu của tôi gởi cho. Tôi thương chú Trưởng trại nói sai. Cố tình bóp méo sự thật. Tín hữu của tôi sợ tôi bị bỏ đói chết nên mới gởi vào cho dừa nước, bánh mì, sữa… Tôi không ăn bánh mì sữa, chỉ muốn nước dừa thôi. Tôi thương Trưởng trại không giải quyết nổi việc này, thì tôi gọi cấp Đảng ủy của quản giáo vậy!

Và ông lại gõ lanh canh… lanh canh…. Bọn cai tù nghiến răng căm tức lắm mà không làm gì đặng ông. Chúng không muốn ông bị chết đói để khỏi bị mang tiếng. Nhưng ông Đạo Dừa cũng biết như vậy, vẫn kiên trì mà sống. Như thể thi gan luôn cả đến cái chết. Trưởng trại và bọn quản giáo phải họp khẩn cấp. Dừa trái thì có sẵn do đệ tử của ông Đạo Dừa gởi vào, nhưng ai chặt cho ông uống? Lũ răng đen mã tấu chặt đầu người thì sành, nhưng chặt quả dừa đâu có biết! Chúng đâu dám phát dao cho ông. Nhỡ ông lấy dao rạch bụng tự tử thì sao? Bàn cãi mãi, chúng mới nẩy ý kiến tìm trong số tù gốc người Bến Tre ra chặt dừa cho ông. Chúng gọi anh NVA ra, bảo đem dừa đến cho ông uống. Anh này ngơ ngác, bảo:

– Tôi có biết chặt dừa đâu?
– Anh là dân Bến Tre mà không biết chặt dừa ư?
– Tôi chèo đò. Có vườn dừa đâu mà biết chặt.

Có anh TVT tình nguyện ra. Anh này trước có bán dừa, biết cách thức. Anh chỉ cần dựng đứng trái dừa, bổ ba nhát dao, chặt xéo nơi núm dừa thành tam giác, bật tung núm dừa ra, không một giọt nước sóng sánh ra ngoài. Anh bưng quả dừa đến bên ông Đạo. Tuy anh không phải là đệ tử, anh cũng cung kính bảo nhỏ:

– Cậu Hai uống đi để mà sống.
– Cám ơn em. Tụi này bạo phát, bạo tàn. Qua sẽ không sống đến ngày đó. Qua biết chúng quyết làm cho qua chết. Nhưng thể xác thời chết chứ tinh thần thời không!

Bọn Việt cộng hành hạ ông Đạo Dừa đủ cách. Chúng lôi ông ra để tắm rửa cho ông:

Ông ở dơ quá không chịu tắm rửa, không thay đổi quần áo, hôi hám kinh tởm quá. Lại chí rận, bọ chét cùng mình, lây bịnh nguy hiểm cho cả khám!

Chúng cầm vòi nước xịt vào ông. Nước xịt rất mạnh, làm ông té lăn lốc. Ông cố gắng bò dậy. Lại bị nước bắn tung người đi, lăn cuồng như bông vụ. Ông không hề rên rỉ, than van một tiếng. Vẫn gượng ngồi dậy, lại té lăn. Chúng cười ầm lên. Ông vẫn cương quyết không khuất phục. Bọn tù chúng tôi nhìn ông, xót thương biết mấy, và khâm phục ông không lời nào cho xiết. Ông bao giờ cũng ngẩng cao đầu không cúi luồn. Cả đời ông bị tù đầy cũng lắm, ông sợ gì lũ trẻ ranh muốn giết ông mà khỏi mang tiếng này! Chả bù trong khám, biết bao kẻ xưa kia giầu sang danh giá, oai quyền hống hách, bây giờ khúm núm sợ sệt trước lũ cán bộ ngu dốt:

– Dạ bẩm thưa cán bộ, em lỡ lầm, lần sau không dám. Xin cán bộ rộng lòng tha thứ một phen.

Một điều dạ thưa, vâng bẩm, khúm núm, sợ sệt, như muốn thun người nhỏ bớt đi. Uốn lưng khòm cong lại, cầu an, tắc trách, thủ phận mình, quên đồng bạn. Lại còn một hạng khác, ti bỉ hơn, cam làm ăng-ten cho thù. Phản bạn, bội tình đồng ngũ, nghĩa bạn bè, để được một lời hứa sẽ cứu xét cho về sớm, hoặc được một vài ân huệ cỏn con… Ôi, điếm nhục!

Tôi nhìn gương can cường của ông mà lại xấu hổ cho mình. Mới bị tù đầy vài bận thôi mà tôi tưởng rằng hãnh diện lắm. Tù Pháp thuộc tôi có ở. Tù Nhật Bổn tôi cũng đã nếm mùi. Rồi lại tù Việt Minh vào năm 1945, lại còn hai năm vướng mắc trong nhà tù của chế độ trước vì chống nạn độc tài tham nhũng nữa! Nay lại vào khám Cần Thơ, bị liệt vào thành phần biệt giam nguy hiểm, biết chừng nào được ra? So với các bậc cách mạng xả thân tranh đấu thời trước, tôi nào có ăn nhằm gì?

Trừ lúc ở tù Việt cộng những năm ấy ra, cảnh ngồi tù Nhật Bổn là đáng nhớ nhất. Năm ấy 1942, tôi bị Hiến binh Nhật bắt giam ở “Chambre de Commerce” ở bến sông Sài gòn, sau này là Thượng Nghị Viện của chế độ trước. Vì tội rải truyền đơn chống thực dân, cả Pháp lẫn Nhật, mà bọn Hiến binh nghi tôi là gián điệp Trùng Khánh. Chúng giam vào phòng Thương Mại ấy, hai bên là chỗ giam người có song gỗ chắn trước mặt, chừa một lối đi ở giữa.

Mỗi sáng, 7 giờ, tụi Nhật cho chúng tôi đem thùng vệ sinh ra đổ xong lại bưng vào căn phòng giam hẹp của mình. Chúng bắt ngồi xếp bằng, thẳng lưng lên, tay để nơi đầu gối, không được nhúc nhích. Sáng ngồi tới 12 giờ trưa, được nghỉ ngơi cơm nước. Cơm thì được phát một chén gạo Thái Lan dẻo như nếp, có nêm tí muối. Chiều 2 giờ ngồi đến 6 giờ mới được nghỉ ngơi, cơm nước như khi trưa. Tối lại phải ngồi từ 7 giờ đến 9 giờ mới có quyền nằm xuống. Khi ngồi, phải ngồi yên như pho tượng. Nếu mỏi mệt khom lưng, nghiêng quẹo người, hay lệch đầu qua bên là bị một côn gỗ gõ đánh cốp trên đầu như bị sét đánh, tá hỏa tam tinh!

Đó là thằng đội Trâu, thân hình trùng trục như con trâu nước, đầu vấn khăn lông trắng, dưới bẹn thắt cái khố, đi qua lại nơi khoảng đường giữa, vai vác cây gậy gỗ tròn và nặng. Nó thường đập chẩy máu đầu tội nhân. Đấy là chỉ trừng phạt sơ sài về tội ngồi không thẳng thắn thôi. Còn khi bọn Nhật tra khảo để lấy lời cung khai thì thật kinh khủng rởn cả tóc gáy. Cứ hai thằng Nhật thân hình như hộ pháp quần một phạm nhân; vật, ném, tung, hứng… nạn nhân của chúng như quả bóng rổ! Thường thì có máu đổ, nạn nhân chết giấc năm ba phen mới tạm được buông tha cho về khám. Khi ấy tôi còn trẻ, háo động, làm sao ngồi yên tĩnh như thế từ giờ này sang giờ khác được. Nên cũng đã nếm mùi côn gỗ bao nhiêu phen.

Một hôm tôi trông thấy có một con gián bò ở kẹt song gỗ. Tôi mừng như bắt được vàng. Có được một sự sống động dưới mắt. Trông nó chạy tới chạy lui, cũng đỡ buồn trong cảnh hoang lương, tịch mịch. Dầu rằng khít bên đó cũng có nhiều bạn đồng cảnh, nhiều pho tượng sống! Tôi khi ấy chưa biết trầm tĩnh, nhẫn nhục của người luyện công tĩnh tọa. Dẫu có nén lắm, lòng vẫn xôn xao không định.

Đến nay, trông thấy ông Đạo Dừa nhẫn nại, trầm tĩnh và xem thường bạo tàn, vũ lực của chúng, tôi mới thấy đó làm gương cho mình. Quyết không ủy mị, buồn rầu, khổ đau, rên rỉ dưới bạo tàn. Ông Đạo Dừa bị xịt nước ướt loi ngoi, nằm im trong vũng nước lênh láng, da thâm tím lại. Nhưng một lát sau ông lại lồm cồm bò dậy. Lại ngồi xếp bằng ngay ngắn, ngẩng cao đầu. Trông thấy hình dáng gầy gò, ốm nhom của ông, da bọc trơ xương như cái xác ướp khô mà đôi mắt vẫn linh động, vẫn ảnh hiện tình nhân đạo, vị tha bao la…
Ông thường chống đối bọn Việt cộng:

– Các anh mà cách mạng cái gì? Cách mạng gì không biết thương dân, yêu nước, cam làm tay sai ngoại bang. Cách mạng gì mà giam cầm hàng triệu người vô tội? Làm hằng triệu người tán gia bại sản, tan nát gia đình? Làm cho sáu mươi triệu đồng bào phải rách rưới đói nghèo, không trông thấy ánh sáng hy vọng nào, một tương lai tốt đẹp nào. Thiên đường hứa hẹn của cộng sản các anh là hố thẳm muôn đời chôn vùi dân tộc!

Bọn chúng giam nhốt ông vào chuồng chó. Đó là một nơi nhỏ hẹp bên vòng rào, có mái thiếc che thấp, có giây chì gai bao quanh. Trước kia nơi đó nhốt chó nên có danh từ chuồng chó. Ban ngày nắng rọi xuống mái thiếc nung nóng như lò lửa. Đêm đêm về, gió khuya lạnh buốt như cắt da. Đến chó ở đấy còn chịu không nổi huống chi con người. Nhưng ông Đạo Dừa vẫn bền bỉ chịu đựng. Mềm dẻo như cây sậy giữa phong ba. Dầu cho cuồng phong, nghịch khí đến đâu, cây sậy tạm thời phải cong, phải ngả nghiêng, oằn oại trước bạo lực đàn áp hung tàn, nhưng không đổ gẫy!

Bọn Cộng sản chỉ muốn ông Đạo Dừa khuất phục chúng, thốt ra lời hứa hẹn với chúng không tranh đấu nữa, không chống đối nữa. Chúng chẳng những buông tha ông, còn cho ông những ơn huệ đặc biệt, hậu hĩ hơn người. Xưa kia, Pháp không mua nổi ông, Nhật không dụ dỗ ông nổi, Việt cộng nào đáng gì để ông nghe theo!

Cuối năm đó tôi bị chuyển trại. Khi đi ngang qua chỗ ông ngồi, tôi khẽ cúi đầu như chuyển lời nói qua tâm tưởng với ông:

– Cậu Hai ráng gượng sống…

Ông mỉm cười nhân hậu. Nụ cười ngậm ngùi vĩnh biệt!

Mấy năm sau, tôi được trả tự do. Không tội gì, mà mất tự do rồi được trả!  Và sau ba chuyến vượt biên cam go, tôi thoát ra được nơi vùng trời tự do. Nhờ vẫn đeo đuổi chí hướng phục quốc, tôi lê một giò qua nhiều nơi Âu, Mỹ, cả Á Châu. Khi đến địa phương nào có trồng cây dừa, tôi bất giác nhìn lên ngọn cây, liên tưởng đến ông Đạo Dừa. Hình bóng của người chiến sĩ cách mạng Nguyễn Thành Nam hiện ra mờ ảo trước mắt tôi. Gầy gò ốm yếu, tưởng chừng gió thổi cũng bay như ông, ngờ đâu lại có lòng sắt đá kinh người! Tôi nghe như văng vẳng bên tai những lời nhỏ nhẹ của ông:

– Tôi thương mấy chú lắm, mấy chú Việt Cộng ơi. Mấy chú ngu dại lắm. Mấy chú không biết bạo tàn, bạo diệt! Chỉ có nhân nghĩa mới trường tồn!

Năm 1988, tôi gặp một người bạn mới vượt biên sang, bảo rằng ông Đạo Dừa đã tịch! Tôi bỗng nhiên cay xè mắt, đôi giòng lệ tiếc thương chan hòa… Cộng sản Việt Nam phạm rất nhiều lỗi lầm đối với Quốc gia, Dân tộc, trong đó có sự giết hại nhà chí sĩ hiếm có Nguyễn Thành Nam. Ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam là người trí thức cuối cùng đã hạ mình xuống tin tưởng vào thiện chí của Việt Cộng, dẫu sao cũng có lòng xúc động trước cảnh huynh đệ tương tàn… Nhưng ông đã mang mối thất vọng đấy xuống tuyền đài …


 

Đến hôm nay, trong cộng đồng người Việt hải ngoại, có một thiểu số trí thức thơ ngây cụ hoặc hoạt đầu, đang toan luồn lưng, cụp gối hòa hợp, hòa giải với Cộng Sản Việt Nam bá quyền và ngoan cố. Các vị ấy có biết chăng đang vô tình nối giáo cho giặc? Cùng a tòng vào tội phản dân, hại nước? Xin hãy xem gương chiến đấu can cường của ông Đạo Dừa Nguyễn Thành Nam và vô số chiến sĩ cách mạng đã bị Việt cộng hãm hại chết, để làm đài soi lại lương tâm mình!

Kẻ hèn này, cùng đồng bào trong và ngoài nước, rất mong được vậy lắm thay!

 

Hoàng Ngọc Giao
* Viết theo lời kể của Joseph Cao ở Paris để tặng những chiến sĩ can trường của đất nước.

Cảm xúc mùa xuân

Featured Image: Toan Quach

 

“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa…”

– Nguyễn Du

Đất nước đã vào Xuân. Trời đất giao hòa, lòng người mênh mang…Đông qua Xuân tới, con tạo xoay vần, thời gian như bóng cây qua cửa sổ… Trước ngưỡng cửa của Mùa Xuân mới, tâm hồn ta lại lâng lâng, xao xuyến đến kỳ lạ; đôi lúc là nỗi lòng bâng khuâng, tiếc nuối vì thời gian trôi nhanh quá, mới đó mà một năm đã qua rồi…

Ai trong chúng ta chắc cũng từng đặt câu hỏi: sống là gì? Và mỗi người lại có câu trả lời cho riêng mình. Tuy vậy, để trả lời câu hỏi này lại không đơn giản chút nào. Khi đã “va đập” (chữ của Nguyễn Trần Bạt) cuộc sống chút ít, khi đã có chút vốn sống nho nhỏ thì tôi đã hiểu được một phần rằng sống là đấu tranh, là sự trải nghiệm. Sự trải nghiệm có thể là vui hay buồn, nhỏ bé hay lớn lao… nhưng con người thường luôn hướng tới những trải nghiệm mới, những trải nghiệm lớn lao.

Chính vì “không bao giờ dừng bước trước những trải nghiệm đỉnh cao” (Sony); “Hãy vượt qua chính mình để làm chủ thế giới ” (Archimeses)… nên xã hội loài người mới luôn phát triển. Một năm qua đi, tức là mỗi người chúng ta đã có cơ hội trải nghiệm cuộc sống một năm. Những trải nghiệm đó dù vui hay buồn, dù bình yên hay bão tố thì cũng “xin cám ơn đời, cám ơn người đã cho tôi cuộc sống này” (lời một bài hát của Trịnh Công Sơn)…

Một năm hay 365 ngày là một đơn vị thời gian. Một năm qua đi thế là chúng ta đã tiêu mất một năm Sự Sống và tiến gần đến Cái Chết cũng một năm. Cái Chết – là sự kỳ diệu nhất của tạo hóa – theo thiên tài sáng tạo Steve Jobs. Bởi theo Ông, tất cả sẽ bị tan biến trước Cái Chết. Chính vì có Cái Chết nên mọi sự già cỗi, trì trệ sẽ được thay mới bằng sự tươi mới, khoáng đạt… Cái Chết giúp xã hội loài người phát triển, đó chính là Creative Destructive – Sự hủy diệt tích cực! Có lẽ với suy nghĩ đó của bậc thiên tài nên ông đã luôn sống với phương châm: hôm nay là ngày cuối cùng trong đời mình, luôn nghĩ và làm những việc lớn lao, luôn Think Diffirent, bởi thế ông đã tạo ra giá trị nhân loại mang tên Apple, và ông đã góp phần cho thế giới này tốt đẹp hơn.

Dù chưa hiểu sâu sắc được như thế ý nghĩa của Cái Chết, chưa tu luyện đến mức thượng thừa để sống như “hôm nay là ngày cuối cùng trong đời” nhưng tôi cũng hiểu được phần nào rằng thời gian trôi nhanh không hẳn chỉ là sự khắc nghiệt mà nó còn có ý nghĩa tuyệt vời: “Chính thời gian trôi nhanh – hay là sự khắc nghiệt của thời gian” nên chúng ta mới thấy ý nghĩa của nó! Bông hoa hồng thật đẹp nhưng nó sớm tàn phai nên nó càng đẹp, bởi nếu bông hoa hồng mãi không tàn thì ta nhìn mãi vẻ đẹp của nó ta cũng thấy nhàm. Vì sự sống là hữu hạn mà thời gian lại trôi nhanh nên ta mới quý cuộc sống này. Chính điều đó nên: thời gian trôi nhanh chính là điều tuyệt diệu nhất của SỰ SỐNG!

Đã thế Sự Sống là hữu hạn nhưng đôi khi lại rất mong manh. Xin chia sẻ một câu chuyện nhỏ (với tôi là chuyện lớn) với mọi người. Vì mưu sinh, nên giao thừa vừa rồi với tôi không phải là chuyện quây quần bên người thân, bạn bè hay hái lộc cầu may mà là chuyện cơm áo gạo tiền, là chuyện kiếm sống.

Khoảng 3 giờ sáng Mồng Một Tết công việc mới xong. Về phòng trọ tắm rửa, vào mạng xem không khí đón xuân đến 5 giờ sáng mới về quê. Chắc ít người đi trên đường lúc 5 giờ sáng Mồng Một Tết bởi lúc đó mọi người đang ngon giấc hoặc chuẩn bị mâm cơm cúng Tổ tiên nên lúc này đường không một bóng người. Trên đường quốc lộ thênh thang gần sáng Mồng Một Tết như là chỉ có mình tôi. Hoà trong cái se lạnh của Mùa Đông, sự kỳ diệu của Mùa Xuân là sự cô đơn lẻ loi của mình trong trời đất bao la mà một năm chỉ có cơ hội trải nghiệm một lần vào đêm Mồng Một Tết làm cảm xúc của tôi thật khó tả. Một mình thênh thang trên đường quốc lộ mà ngày thường luôn kẹt cứng người và xe…

Rồi đến lối rẽ sang đường. Dù theo thói quen là quan sát mỗi khi qua đường nhưng vì đi đường chẳng gặp ai nên tôi có phần chủ quan, quan sát một chút rồi sang ngay! Khi vừa sang đến bên kia đường thì có một xe hơi vớ tốc độ hơn 100km/h lao tới. Ớn lạnh sống lưng bởi chỉ cần chậm hay nhanh 5 giây là tôi… đi rồi.

Vẫn biết Cái Chết là điều bình thường nhưng nếu chẳng may mình chết lúc đó thì cũng như bao người khác trước khi chết sẽ tiếc nuối lắm lắm những trải nghiệm mới đang chờ họ nếu họ sống, tôi còn thêm niềm tiếc nuối là chưa cống hiến được gì cho cuộc sống này, chưa góp phần nhỏ bé của mình để cho cuộc sống này tốt đẹp hơn. Sự tiếc nuối này mới là lớn lao nhất. Chắc lúc đó mà chết thì tôi sẽ không nhắm mắt được. Rất may cho tôi là vẫn còn sống!

Hàng ngày tôi vẫn luôn thấy cuộc sống thật đẹp dù cuộc sống đôi khi rất khó khăn vất vả. Qua sự việc với mình vào rạng sáng Mồng Một vừa qua thì tôi còn thấy Sự Sống còn thật mong manh nữa. Tôi thêm trân trọng từng giây cuộc sống và tôi lại càng thấy cuộc sống thật đẹp.

“Xin cám ơn đời, cám ơn ai đã cho tôi cuộc sống này…” Tôi sẽ từng giây từng phút “tu luyện“ để ngày một trưởng thành hơn, để đến lúc sẽ hiểu thât sâu sắc và sống như “hôm nay là ngày cuối cùng trong cuộc đời“. Để rồi sẽ cháy hết mình vì “sống đúng nghĩa là cháy hết mình”! Để rồi vào thời điểm này của những năm sau, sau sau… nữa tôi sẽ vẫn thốt lên rằng: Xuân đã sang diệu kỳ. Để rồi đến khi từ giã cõi đời này dù qua bao bể dâu vẫn được như Bố Già Vito Corleone (trong Bố Già của Mario Puzzo): môi vẫn nở nụ cười và vẫn thốt lên được rằng: CUỘC ĐỜI THẬT ĐẸP…

Pham AQ
Hà Nội, Mùa Xuân 2015

4 trái chuối giá 50.000 VND

 

Tôi vừa mua 4 trái chuối ở một cửa hàng tiện lợi của Nhật với giá 266 yên (246 yên + 8% thuế tiêu thụ). Nếu tính tỉ giá 1 yên = 180 đồng thì 4 trái chuối này có giá 47.880 đồng. Tôi nhắc lại: đây là giá của 4 trái chuối, 4 trái chứ không phải 4 nải! Ở Việt Nam, với số tiền đó bạn có thể ăn bao nhiêu chuối?

Trước khi bạn đem vật giá ra so sánh, trước khi bạn bàn đến chi phí vận chuyển các thứ thì cho phép tôi nói thêm: 4 trái chuối đó có xuất xứ từ Peru, Nhật Bản không có chuối! Và đây là lần đầu tôi ăn chuối Peru ở Nhật, bình thường thì tôi vẫn ăn chuối Philippines với giá 136 yên (24.480 đồng) cho 4 trái, nhưng hôm nay chuối Phi hết hàng. Đọc đến đây có lẽ bạn cũng nghĩ được điều mà tôi đã nghĩ: Tại sao lại là chuối Peru và Philippines mà không phải là Việt Nam? Tại sao?

Có lẽ bạn chưa biết rằng nông sản nội địa của Nhật chưa bao giờ đáp ứng đủ nhu cầu cho người dân nước này. Cho nên họ buộc phải nhập thêm nông sản từ khắp nơi trên thế giới về để bổ sung nguồn cung. Vậy nông sản Việt chiếm bao nhiêu % thị phần?

Nếu bạn hỏi tôi thì tôi xin thành thật trả lời rằng: Tôi không biết! Tôi không phải một nhà thống kê kinh tế nên tôi không trả lời câu hỏi đó cho bạn được. Nhưng không khó để dẫn chứng cho các bạn mường tượng qua những thông tin báo chí đã đăng.

Vào tháng 6 năm 2014 nông dân tỉnh Bắc Giang đem bán tháo vải ra đầy đường. Dự báo với sản lượng vải 140.000 tấn, trong đó, tiêu thụ nội địa khoảng 60%, xuất khẩu 40% (Trung Quốc chiếm khoảng 95% sản lượng xuất khẩu.). Trong khi đó thị trường Nhật không có lấy 1 kg vải Việt Nam nào được nhập. Bộ Khoa học đã xuất khẩu 10 tấn vải ngay trong tháng 7 năm 2014 để làm mẫu cho Nhật Bản kiểm định, người ta bắt đầu mơ về cái giá 16$/5 quả vải ở thị trường này. [1]

Thêm một thông tin khác: theo ông Hoàng Trung, Phó Cục trưởng Cục BVTV thì “Vải ở Mỹ thì tôi không rõ lắm, nhưng ở Nhật, 3 quả vải trị giá 1 USD. Hay như nhãn của Thái Lan XK sang Mỹ, tôi thấy họ bán khoảng 30-40 USD/hộp 5kg. Như vậy so với Việt Nam thì cao hơn rất nhiều lần. Tôi nghĩ nếu XK sang Mỹ thì cũng sẽ có giá cao như vậy thôi.” [2]

*Nếu bạn nào thắc mắc sao lại có 2 cái giá: 3 quả/1$ và 5 quả/16$ ở cùng thị trường thì xin mời bạn tìm hiểu về tương quan giữa giá vốn – giá bán và lượng hàng hóa, quan hệ cung cầu.

[youtube https://www.youtube.com/watch?v=m9ePheZ2aos]

Câu hỏi dành cho bạn ở đây: Tại sao lại phải là các cơ quan nhà nước đem nông sản đi giới thiệu, kiểm định ở các nước mà không phải là các doanh nghiệp tư nhân? Liệu cơ quan nhà nước có bao quát hết các mặt hàng nông sản không? Liệu cơ quan nhà nước có thể giới thiệu nông sản Việt đến tất cả các nước không?

Còn rất nhiều vụ bán đổ bán tháo, thậm chí là vứt cho gia súc làm thức ăn. Còn rất nhiều vụ đốt bỏ, chặt bỏ, đổ bỏ khác mà tôi không nêu ra. Đơn giản vì tôi không chắc các loại nông sản đó có thể tiêu thụ được ở Nhật hay một quốc gia nào đó hay không.

Đến đây mời bạn trả lời các câu hỏi sau:

  1. Ai là người quyết định số phận của nông dân? Là doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thương lái nội địa hay người tiêu dùng?
  2. Ai là người quyết định số phận doanh nghiệp và thương lái? Là người tiêu dùng hay là chính sách xuất nhập khẩu, các quy định về chất lượng sản phẩm trong thị trường nội đia, các khâu vận chuyển, kiểm duyệt sản phẩm?
  3. Ai là người quyết định chính sách xuất nhập khẩu, các quy định về chất lượng sản phẩm trong thị trường nội địa, các khâu vận chuyển, kiểm duyệt sản phẩm? Là người tiêu dùng hay các cơ quan nhà nước?
  4. Ai là người quyết định bổ nhiệm, tuyển dụng các cán bộ làm việc trong các cơ quan nhà nước liên quan đến các vấn đề trên? Là người tiêu dùng, nông dân hay là một Đảng phải chính trị nào?
  5. Ai là người quyết định sức khỏe của người tiêu dùng khi tiêu thụ nông sản? Là nông dân, các cơ quan nhà nước hay một Đảng phái chính trị?

*** Nếu bạn không trả lời được các câu hỏi trên thì xin theo dõi tiếp những bài viết của chúng tôi trong thời gian tới. Kinh tế học có thể trả lời những câu hỏi trên và nhiều câu hỏi nữa.

Gửi các Zombie và độc giả của Triết Học Đường Phố

Các bạn nằm trong số ít giới trẻ Việt Nam hiện nay quan tâm đến tình hình đất nước, chịu đầu tư suy nghĩ để tìm ra một con đường đưa đất nước này đi lên. Đó thực là một điều đáng quý.

Tuy nhiên, hẳn các bạn cũng đồng ý với tôi, khát vọng và nhiệt huyết muốn thay đổi không thôi chưa đủ. Muốn đưa đất nước tiến lên, các bạn còn cần phải có tri thức.

Trong đó, tôi trộm nghĩ tri thức về kinh tế học nằm trong những thứ tri thức quan trọng nhất.

Bởi vì sao? Vì phải hiểu kinh tế học thì mới đề ra được những chính sách tốt. Chính sách không tốt thì người tài sẽ bỏ đi, tài nguyên sẽ bị phí phạm, sản xuất sẽ không phát triển được. Mà chính sách tốt thì kinh tế vững.

Chúng ta muốn không bị phụ thuộc vào Trung Quốc, muốn xây nhiều trường học, bệnh viện, muốn xóa bỏ hủ tục. Nếu kinh tế nước ta giàu mạnh thì có phải làm những điều đó dễ hơn biết bao nhiêu?

Nếu không hiểu biết về kinh tế học, thì sẽ không thể biết được và không thể tranh luận một cách nghiêm túc được chính sách nào tốt, chính sách nào kém. Và cần nhiều người như các bạn quan tâm và có ý kiến đúng đắn về các chính sách, thì xã hội dân chủ mới hoạt động được hết hiệu quả, đất nước mới tiến bộ được.

Vậy thì bây giờ học kinh tế bằng cách nào? Cái này mỗi người một ý, nhưng theo tôi thì các bạn nên bắt đầu từ các trường phái Neoclassical và Keynesian. Không hẳn là các trường phái này ưu việt nhất, nhưng cả thế giới này đang học và dùng chúng, do đó chúng ta cần phải biết và hiểu chúng.

(*Ghi chú: THĐP không đi theo 2 trường phái kinh tế này, mà đi theo hướng của trường phái kinh tế Áo, Austrian Economics, muốn tìm hiểu thêm thì tìm đọc Ludwig von Mises, Keynesian economics được giảng dạy đại trà là vì nó thiên về chủ nghĩa nhà nước, còn Austrian economics thì thiên về chủ nghĩa tự do.)

Nếu không hiểu các trường phái này thì chúng ta sẽ không nói cùng một thứ ngôn ngữ với đa số các nhà kinh tế học hiện hành.

Có lẽ ai cũng ngại việc bắt tay vào tìm hiểu một bộ môn mới từ con số không. Vì thế tôi xin giới thiệu với các bạn một sê-ri video Kinh Tế nhập môn của các bạn Kinh Tế Không Kinh Thế. Các video này khá nhẹ nhàng, không quá cầu kỳ, có thể giúp người xem bổ sung những khái niệm cơ bản nhất về kinh tế. Các bạn xem sẽ thấy kinh tế không khó hiểu như các “chuyên gia” vẫn thường dọa chúng ta để giữ cho người dân không muốn tìm hiểu về kinh tế và bóc trần những sai sót của họ.

Nếu mỗi ngày bạn dành ra 30 phút để tìm hiểu về kinh tế, tham gia thảo luận, nhìn nhận các vấn đề thì bạn sẽ nhanh chóng tích lũy được kiến thức kinh tế và nhìn ra các vấn đề.

 

Zetal

 

Link các bài báo có nội dung được nêu trong bài:

  • [1] http://cafef.vn/nong-thuy-san/vai-thieu-bac-giang-va-giac-mo-16-usd5-qua-2014060916141849017.chn
  • http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/hang-hoa/10-tan-vai-thieu-luc-ngan-se-xuat-sang-nhat-ban-3011150.html
  • [2] http://nongnghiep.vn/vai-thieu-sang-my-se-con-gian-nan-post132429.html

41 câu nói của Tổng Thống Mỹ George W. Bush

Featured image: Papba.org

 

Lời giới thiệu

George W. Bush, vị tổng thống 43 của nước Mỹ là một trong những tổng thống thời chiến tranh của Mỹ. Chính sách ngoại giao và quân sự của ông ta đã biến đổi nước Mỹ từ sự cố 911. Mời các bạn đọc để hiểu thêm về vị tổng thống này.


 

1. Nước Mỹ sẽ không bao giờ bỏ chạy. Và chúng ta sẽ luôn mang ơn tự do đã sinh ra những người con anh dũng.

2. Nước Mỹ chưa bao giờ đoàn kết bởi dòng máu, nơi sinh hay địa lý. Chúng ta được kết nối bởi những lý tưởng cao quý hơn.

3. Sự trao quyền trong hòa bình là một điều hiếm có trong lịch sử, nhưng là điều thường xuyên ở nước ta. Với một lời tuyên thệ đơn giản, chúng ta giữ gìn truyền thống và xây dựng một cuộc bắt đầu mới.

4. Thượng Đế không đứng bên phía của một quốc gia nào, nhưng chúng ta biết rằng Thượng Đế luôn đứng bên phía công lý.

5. Là người Mỹ, chúng ta muốn hòa bình — chúng ta làm việc siêng năng và hy sinh cho hòa bình. Nhưng sẽ không có hòa bình nếu an ninh của chúng ta được dựa vào sự quyết định của một nhà độc tài ác độc. Tôi sẽ không bao giờ giao mạng sống của một người Mỹ nào vào niềm tin với Saddam Hussein.

6. Tôi tin rằng tự do là điều tất cả con người đều cần.

7. Dù chúng ta đem địch thủ tới công lý hay công lý tới địch thủ, công lý sẽ được thực hiện.

8. Chúng ta sẽ không mệt mỏi, chúng ta sẽ không nản chí và chúng ta sẽ không thất bại. Hòa bình và tự do sẽ chiến thắng.

9. Sự lan rộng của tự do là lối dẫn đến một thế giới an toàn và thịnh vượng hơn.

10. Sự khát khao cho tự do nằm ở trong tất cả con người. Và sự khát khao đó sẽ không bị kìm hãm bởi những nhà tù, những luật truy nã hoặc cảnh sát chìm. Qua từng giao đoạn, tự do sẽ tìm lối đi.

11. Chúng ta biết rằng các nhà độc tài sẽ nhanh chóng chọn bạo lực, trong khi đó các nước tự do sẽ giải quyết các vấn đề trong hòa bình.

12. Nước Mỹ chưa bao giờ là một đế chế. Chúng ta có thể là một cường quốc vĩ đại nhất trong lịch sử có cơ hội và đã từ chối – để chọn sự cao thượng thay vì quyền lực và công lý thay vì vinh quang.

13. Tự do kinh tế tạo nên nền tảng cho tự do.

14. Người Mỹ là một dân tộc tự do, họ biết rằng tự do là một quyền lợi của tất cả con người và là tương lai cho các quốc gia. Sự tự do mà chúng ta tự hào không phải là một món quà của Mỹ ban cho thế giới, nó là một món quà của Thượng Đế cho nhân loại.

15. Tôi tin rằng Thượng Đế đã gieo mầm trong mỗi con người sự khát khao để sống trong sự do. Và khi sự khát khao đó bị đe dọa bởi độc tài, nó sẽ nổi dậy.

16. Sự lãnh đạo đối với tôi có nghĩa là trách nhiệm, danh dự, tổ quốc. Nó nghĩa là đức tính và biết lắng nghe.

17. Hành động của chúng ta trong thập niên này sẽ có những hậu quả cho thế kỷ này. Nếu nước Mỹ yếu đuối và không dứt khoát, thế giới sẽ trôi dần vào thãm họa. Điều đó sẽ không xảy ra dưới sự lãnh đạo của tôi.

18. Một trong những khoảnh khắc mà tôi tự hào nhất là khi tôi đã không bán mình để đổi lấy sự hâm mộ.

19. Tôi muốn được mọi người nhớ tới là một người có những mục đích ưu tiên và sẵn sàng sống vì những điều đó.

20. Sự khủng hoảng tài chính không nên được dùng để làm viện cớ tăng thuế, thuế chỉ sẽ làm suy giảm khả năng phục hồi của nền kinh tế chúng ta.

21. Tôi sẽ không chỉ trích người kế vị của tôi (tống thống Obama). Lịch sử sẽ làm điều đó.

22. Hôm nay, tự do đã bị tấn công bởi một nhóm người hèn hạ giấu mặt, và tự do sẽ được bảo vệ.

23. Bất cứ chính phủ nào ủng hộ, bảo vệ hay chứa chấp các tổ chức khủng bố cũng phạm tội khủng bố.

24. Nước Mỹ là một quốc gia với một mệnh lệnh – và mệnh lệnh đó đến từ những tín ngưỡng căn bản nhất. Chúng ta không có khát vọng để thống trị, cũng không có khát vọng để trở thành một đế chế. Mục đích của chúng ta là hòa bình và dân chủ.

25. Nhân dân Afghanistan đang xây dựng một đất nước tự do, và tự hào và chung sức chống lại khủng bố – và nước Mỹ rất vinh dự khi có một đồng minh như thế.

26. Nước Mỹ và đồng minh rất quyết tâm: Chúng ta không chịu sống trong cái bóng của nguy hiểm.

27. Sự sử dụng khôn ngoan nhất của sức mạnh Mỹ là để thúc đẩy tự do.

28. Những giá trị của nước Mỹ xứng đáng để chúng ta chết để bảo vệ.

29. Một người dân đang ở nơi Trung Tâm Thương Mại Thế Giới sau khi bị tấn công: “Tôi không nghe ông được.” Tổng Thống Bush: “Tôi có thể nghe được bạn, cả thế thới có thể nghe được bạn, và những người đã tấn công tòa nhà này sắp tới sẽ nghe thấy tất cả chúng ta.”

30. Chính phủ không tạo ra sự thịnh vượng. Vai trò tối cao của chính phủ là tạo ra một môi trường để mọi người chấp nhận rủi ro và tạo công ăn việc làm.

31. Bất cứ nơi đâu mà tự do đang quấy trộn, chế độ độc tài sẽ lo sợ.

32. Tôi biết chắc rằng giới tư sản sẽ là người kéo đất nước khỏi sự khủng hoảng kinh tế này. Tôi tin các bạn sẽ dùng tiền của các bạn tốt hơn chính phủ dùng tiền của các bạn.

33. Tôi thấu hiểu mọi người trong nước không hoàn toàn đồng ý với những quyết định của tôi. Và tôi đã có những quyết định khó khăn, nhưng mọi người đều biết lập trường của tôi là gì.

34. Chế độ độc tài đã sụp đổ, Iraq đã được tự do.

35. Tôi không tin các nhà làm luật nên quyết định thay cho người dân Mỹ.

36. Mục đích tất yếu của chính sách kinh tế của tôi là giảm thuế cho những ai đã đóng thuế.

37. Thế kỷ này sẽ là thế kỷ của tự do.

38. Những lý tưởng và lợi ích đã dẫn Mỹ giúp đỡ Nhật Bản để biến thất bại thành dân chủ cũng là lý do tương tự để Mỹ tham gia vào Afghanistan và Iraq.

39. Chiến lược phòng thủ mà đã không cho phép người dân Nam Hàn sống dưới chế độ độc tài đã giúp biến họ trở thành một con hổ Châu Á. Đó là một mô hình cho các nước đang phát triển trên thế giới.

40. Ba thập niên sau, có một cuộc tranh luận về nguyên nhân gì đã dẫn nước Mỹ tham chiến vào Việt Nam và cách thức chúng ta đã rút quân. Cho dù định kiến của bạn là gì, một trong những di sản của Việt Nam khi Mỹ rút quân đã được trả giá bởi hàng triệu người trong khổ cực và đem cho chúng ta những ngôn từ mới như thuyền nhân, trại cải tạo và những cánh đồng xác chết.

41. Tôi nhớ gì nhất từ khi không còn là tổng thống nữa? Tôi nhớ những lần tôi chào các quân nhân và làm Chỉ Huy Trưởng của quân lực tuyệt vời nhất thế giới.

 

Dịch: Ku Búa
Review: LX

20 câu nói của Stalin, một trong những thần tượng của Hồ Chí Minh

Featured image: biography.com

 

1. Một cái chết là một bi kịch, một triệu cái chết là một con số.

2. Những người đi bầu chẳng quyết định được gì. Những người đếm phiếu bầu mới có quyền quyết định.

3. Ý tưởng còn lợi hại hơn cả súng đạn. Chúng ta không cho nhân dân sở hữu súng, tại tao chúng ta lại cho phép họ sở hữu ý tưởng?

4. Giáo dục là một loại vũ khí, tầm ảnh hưởng của nó lệ thuộc vào người cầm nó trong tay và người nó nhắm tới.

5. Lịch sử đã chứng minh rằng chẳng có quân lực nào là bất bại cả.

6. Anh hùng không làm nên lịch sử, lịch sử mới làm nên anh hùng.

7. Tôi chỉ tin vào một thứ, sức mạnh của lòng quyết tâm của con người.

8. Cái chết là giải pháp cho mọi vấn đề. Không còn ai thì cũng không còn vấn đề.

9. Quyền lực chính đáng duy nhất đến từ khẩu súng.

10. Trong quân đội Xô Viết, binh sĩ cần nhiều độ can đảm để lùi bước hơn là tiến bước.

11. Khi chúng ta treo cổ bọn tư bản, họ sẽ bán cho chúng ta sợi dây để chúng ta dùng.

12. Truyền thông in ấn là vũ khí lợi hại nhất của Cộng Sản.

13. Nhà văn là một kỹ sư của linh hồn con người.

14. Chủ nghĩa Marx không đơn thuần là một lý thuyết xã hội, nó là một cái nhìn cho thế giới, một hệ thống triết lý, sự logic của một xã hội vô sản.

15. Bạn hay nói về một chủ nghĩa xã hội chủng tộc. Cái đó không tồn tại. Không có chủ nghĩa xã hội cho riêng dân tộc Nga, Anh, Pháp, Đức, Ý, cũng như Tàu. Chỉ có một chủ nghĩa xã hội của Marx và Lenin mà thôi.

16. Tôi không tin tưởng bất cứ ai, kể cả chính bản thân tôi.

17. Nước Mỹ như một cơ thể khỏe mạnh và sự chống đối của nó có thể chia ra 3 phần: lòng yêu nước, đạo đức và tâm linh. Nếu chúng ta có thể hạ thấp 3 cái đó, nước Mỹ sẽ sụp đổ từ bên trong.

18. Lòng ân huệ là một căn bệnh của những con chó.

19. Tôi ra lệnh cho các binh sĩ của quân đội Hồng Quân Soviet: “Không lùi một bước nào nữa.” (Lệnh của Stalin năm 1942 khi quân đội Đức đến gần Moscow).

20. Thượng đế là ai? Ông ấy đứng về phe nào? Tôi biết ác quỷ Satan đang đứng cùng phía với chúng ta, ông ta là một người cộng sản tốt bụng.

 

Dịch: Ku Búa

Thành công và thất bại là hệ quả của một lối sống

Featured image: mAy 369

 

Bài viết này chỉ là quan điểm cá nhân của tôi, chỉ mang tính chất kham thảo. Nếu bạn cảm thấy hài lòng với lối sống của bạn thì cứ tiếp tục sống như cách bạn đã từng sống.


 

Một lần nọ, trong giờ học Pháp Luật, thầy giáo tôi đã từng hỏi là “Long nè! Theo em thì em nghĩ sao về Thất Bại và Thành Công?”

Tôi trả lời: “Thưa Thầy! Thất Bại có 2 dạng: dạng thứ nhất là làm nhưng chưa ra đúng kết quả và dạng thứ hai là lười biếng chẳng làm gì cả. Nhưng cá nhân em nghĩ là Thất Bại chính là dạng thứ hai, còn dạng một là chỉ chưa thành công thôi.”

Thầy giáo hỏi: “Vậy Thành Công là gì?”

Tôi trả lời: “Thành Công là đạt được những kết quả và mục tiêu mà mình muốn, và mục tiêu lớn nhất của đời em là “kiếm 1 tháng 1 tỷ đồng Việt Nam”, như vậy là em đã thấy mình thành công rồi.”

Thầy giáo tiếp tục hỏi, “Vậy em nghĩ em đã thành công chưa? và nếu vậy thì em đạt được bao nhiêu phần trăm trên con đường đó?”

Tôi trả lời: Em đang trên con đường Thành Công và em nghĩ Thất Bại là một phần của Thành Công, vì người Thành Công nhất là người Thất Bại nhiều nhất, thật ra lúc đó đây là vấn đề mà tôi chưa tôi nghĩ đến trong khi tôi đang tìm kiếm thành công. Lúc đó tôi cảm giác mình đang bị một vấn đề gì đó. Hầu hết mọi người đều biết về 2 từ “Thành Công và Thất Bại”. Nhưng khi nói rằng họ đã thành công chưa thì đa phần câu trà lời hơi mập mờ, vì đôi khi họ chẳng biết họ muốn cái gì thì làm sao thành công mà cho dù họ biết họ muốn cái gì nhưng họ nằm lưng lửng giữ thất bại và thành công thì làm sao mà định nghĩa được. Nên tôi đã trả lời rằng, chỉ có lúc họ chết thì những việc mà đã làm mới có thể đánh giá là Thất Bại hay Thành Công, vì chưa chắc kẻ Thất Bại là Thất Bại cả đời, kẻ Thành Công là Thành Công là Thành Công cả đời.

Thầy tôi trả lời rằng: “Thất Bại chính là đứng yên mặc cho thời gian đi qua mà không phát triển gì cả?”

Sau khi nghe xong câu trả lời này tôi thấy nó đúng nhưng theo quan sát của tôi có người làm cả đời mà toàn gặp thất bại nhưng chưa bao giờ mãn nguyện những gì họ có, không biết cái đó có gọi là Thành Công không? Hay mục tiêu của họ là lên Giám Đốc và khi họ đã ở vị trí đó thì Đùng 1 cái, họ bị sa thải vì quá già hoặc một ai đó thế họ. Như vậy có thể chứng minh rằng nếu dùng những mục tiêu làm mốc “Thành Công” và khi đạt được nó cũng không ổn lắm.

Xã hội này theo quan điểm đám đông là “Thành Công” thì phải đi xe hơi, nhà Lầu, dùng cả tiền tỷ, có mối quan hệ rồng, tài năng .v.v…..Theo quan sát của tôi thì những đặc điểm đó gần đúng với “Thành Công” nhưng chưa hẳn là chính xác. Vậy nếu mất tất cả những thứ đó họ là ai, chẳng lẽ là “Thất Bại”.

Tôi cảm giác từ Thất Bại và Thành Công đôi lúc là “Yes hoặc No” như câu hỏi” Bạn là Nam hay Nữ”. Nó hơi bị rập khuôn và khó mà hiểu sâu được cái cốt lõi của “Thành Công” và “Thất Bại”.

Ngoài ra Thành Công và Thất Bại nó còn phụ thuộc vào quan điểm và mục tiêu của từng người nên khó đánh giá được.

Tôi đã từng nghe qua nhiều sách nói, và cá nhân tôi quan sát và suy nghĩ, những cuốn sách đó nó thường dạy chúng ta thay đổi từ bên trong như thay đổi tư duy, giá trị sống, bảng cam kết giá trị cá nhân hay cho chúng ta sơ về những thói quen thành công .v.v… và ngoài đời tôi quen cũng vài người khá Thành Công và tôi quan sát thấy, tùy vào mức độ và nghề nghiệp của họ nhưng cái cách suy nghĩ và giải quyết vấn đề tương đối giống nhau đều dựa trên những tư duy, kinh nghiệm và niềm tin của bản thân.

Sau này khi tôi biết đến 1 câu nói :

“Gieo suy nghĩ, gặt hành động; Gieo hành động, gặt thói quen; Gieo thói quen, gặt tính cách; Gieo tính cách, gặt số phận.”

Lúc này tôi suy nghĩ rất nhiều, thì Thành Công và Thất Bại nó có sự quyết định từ bên trong Nội Tâm của mọi người chứ không phải bên ngoài, bên ngoài chỉ là phản ánh thực tế cuộc sống, tôi càng ngẫm càng thấy thú vị vì mỗi người chúng ta có cuộc sống ngày hôm nay là do bên trong Nội Tâm của chúng ta và chúng ta được môi trường bên ngoài đút nên cái Nội Tâm bên trong của chúng ta chứ thật sự chúng ta không muốn nó như vậy cả, vì đâu phải ai cũng muốn sống cuộc đời nghèo khổ, tầm thường và thất bại đâu.

Điều tôi học từ sách và qua thực tế cá nhân tôi thấy nó gần chính xác 70%, ngoài ta có rất nhiều người cho rằng để Thành Công cần: Đam mê, chăm chỉ, Tích cực, Không sợ Thất Bại, Kiên Trì, … những yếu tố đó thường nằm bên trong con người chứ không phải là bên ngoài, vì đâu có ai nói anh muốn thành công thì anh phải đẹp trai hay môi trường đó nó phải hợp với anh thì anh mới Thành Công.

Jim Rohn từng nói một câu rất hay “Ngoài thị trường họ trả lương cho bạn vì khả năng của bạn trong một khoảng thời gian chứ không phải là thời gian bạn bỏ ra.” Nếu thời gian là tiền bạc thì họ phải đưa cho bạn tiền bạc khi bạn chẳng làm gì cả, điều này có nghĩa là 10 hay 20 năm nữa công việc bạn làm thì mức lương 10 USD thì vẫn luôn là giá trị đó cho dù có tăng lên đi nữa, và thời gian có trôi qua thì thời gian vẫn vậy, khó khăn, trở ngại, các mối quan hệ cũng y chang chẳng có gì thay đổi cả, nhưng nếu bạn phát triễn bản thân thì mọi thứ sẽ thay đổi còn nếu không thì cuộc sống bạn vẫn vậy.

Lúc này tôi bắt đầu giác ngộ và liên hệ bản thân chính mình điều này hoàn toàn đúng. Tôi quyết định thay đổi vào lúc 21 tuổi và tôi đă trãi nghiệm qua những thứ mà trước đây tôi chưa từng trãi nghiệm và dường như tôi có những thứ mà trước đây tôi chưa từng có và tôi hiểu hơn về bản thân mình hơn, nhưng thật ra so với 3 năm trước tôi vẫn vậy chưa có sự thay đổi gì lớn cả, chỉ có suy nghĩ và tư duy bắt đầu biến chuyển nhưng vẫn chưa thể nào gọi là Thành Công vì chưa có Thành Tựu gì lớn cả và dường như lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi tương lai và Thành Công luôn mặc cảm là “mình vô dụng, không làm được cái gì lớn cả, người ta bằng mình là Giám Đốc, doanh nhân mua được nhả cửa có ghệ đẹp, đi du lịch khắp nơi mà mình vẫn còn dậm chân tại chỗ…”

Sau khi dùng phương pháp 360 độ ghi lại toàn bộ suy nghĩ và hành động của tôi trong 1 ngày và trong vòng 3 tháng, tôi phát hiện rằng TƯ DUY tôi CÓ THAY ĐỔI nhưng về HÀNH ĐỘNG thì KHÔNG và Thói Quen càng không nữa. Tôi luôn tìm kiếm những thứ bên ngoài để giải quyết triệt để cái thứ bên trong như tôi đã tìm trong 5 năm và không hề có cái thứ đó. Tôi đã bắt đầu trở thành kẻ phụ thuộc vào thứ bên ngoài chứ không còn là kẻ quyết định từ bên trong Nội Tâm nữa, tôi phát hiện ta tôi từng “Sợ Hại, Nghi ngờ, Trì Hoãn, Lười Biếng, Tiêu Cực,…và hay thay đổi” đây là những yếu tố của kẻ Thất Bại. Như vậy đã quá tõ ràng về việc tại sao Tôi Thất Bại, tất cả là do lối sống của tôi. Tôi để phần con của mình quyết định chứ không phải là phần người quyết định trong một chuỗi những hành động hằng ngày mà từ đó sinh ra Thất Bại, từ những cái Thất Bại rất nhỏ trong những việc nhỏ làm không tốt rồi tích dần thành cái lớn.

Từ đó tôi nghiệm ra rằng 2 từ Thất Bại và Thành Công giống như 2 từ Bệnh Tật và Khỏe Mạnh. Đó là từ chỉ hệ quả của một lối sống , chứ không phải là kết quả. Chẳng hạn bạn siêng năng, chăm chỉ, tích cực, đam mê…nói chung là Lối Sống Tích Cực bạn sẽ có những hệ quả của Thành Công và nó thể hiện qua những dấu hiệu như: Bạn Tài Năng Hơn, Kiếm Được Nhiều Tiền Hơn, Có nhiều bạn hơn, có nhiều khách hàng hơn, mua được nhiều thứ hơn…. như vậy nhà lầu hay xe hơi chỉ là những hệ quả của 1 lối sống Thành Công còn nếu bạn sống theo kiểu : nhậu nhẹt, lười biếng, tham chơi, ….lối sống tiêu cực thì sẽ có những hệ quả của Thất Bại và thể hiện qua những tín hiệu như: thất bại trong công việc, bị sa thãi, bị mọi người ghét, bất tài, gặp nhiều khó khăn… đó là hệ quả của 1 lối sống Thất Bại.

Đôi khi chúng ta cứ suy nghĩ mãi “làm sao để thành công” và luôn đi tìm những cách bên ngoài nhưng thật chất chúng ta chưa hiểu rõ bản thân của mình, vì vấn đề không nằm bên ngoài mà nằm bên trong, và nó thể hiện rõ ràng ở lối sống của chúng ta, chỉ có chúng ta thật sự hiểu được cách chúng ta sống như thế nào để Thành Công và Thất Bại thôi, chứ không thể nào tìm người nào đó hay bất cứ vị diễn giả nào giải quyết được, cho dù Tony Robbins Diễn giả giỏi nhất thế giới hay Quách Tuấn Khanh vị diễn giả giỏi nhất Việt Nam, hay Phật Thích Ca hay Chúa Jesus đi chăng nữa, cũng chẳng thay đổi được đâu, chỉ khi chúng ta thật sự muốn thì mới có câu trả lời.

Đối với tôi, Lối Sống Quyết Định Thành Công hay Thất Bại và Thành Công hay Thất Bại chỉ là những hệ quả và nó thể hiện dưới vài dạng tín hiệu chứ nó không phải là cái đích thật sự, cái thật sự chính là phải thay đổi cái Lối Sống của chúng ta, để làm điều đó chúng ta phải là song song giữa việc thay đổi tư duy và hành động bên ngoài và khiến nó trỡ thành một lối sống, chứ không thể nào chỉ có 1 phía được. Do vậy Thành Công và Thất Bại chỉ là hệ quả của một lối sống thôi, và không có đúng hay sai, tốt hay xấu, chỉ có khác về kết quả thôi.

 

Tăng Kim Long

Chút tình Bolero

Thưở nhỏ, tôi sống ở một xóm ngoại ô nghèo quanh co miền Tây. Bên hàng xóm duy nhất có một nhà có dàn VCD và loa thùng lúc nào cũng mở nhạc tưng bừng. Hàng năm, vào giờ này là cả xóm được nghe những bài ca xuân xưa bất tử như Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa, Mùa Xuân Đó Có Em, Ước Nguyện Đầu Xuân, Mùa Xuân Lá Khô… Tết nào tôi cũng nhớ những lời ca cũ rất quen:

Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa
Một chiều xuân em đã hẹn hò
Đưa hương theo làn gió…” 

Những bài hát nghe tự thời nào cứ gặp đúng cảnh, đúng tình là bật ngay lên trong trí nhớ. Những bài hát buồn buồn ấy là nhạc bolero.

Rồi lớn lên ra thành phố học – những buổi chiều ở nhà trọ vắng quạnh – cứ mỗi lần nhìn ra ven đường gặp hoàng hôn nắng nhạt, khói đốt đồng bay lên từ cuối chân trời, những bài hát cứ y như đem đến tận cõi lòng tôi, làm sống thật trước mắt người trai trẻ mùi rơm rạ mới gặt, gió mát và từng tốp trẻ con thong thả trên lưng trâu tỏa về thôn xóm. Trong cái yên lặng riêng mình, tôi lại nghe vẳng lên trong trí nhớ:

“Tình nồng thắm xuyên qua bao mái tranh…
Ngọt ngào dâng hương mái tóc xanh
Những tình mặn mà là những tình đơn sơ
Quê tôi vẫn đẹp đẹp mấy tình ngây thơ…”

Hình ảnh miền quê xa ngát, êm đềm, đó là cái đọng lại, cái quý nhất tìm thấy sau khi nghe nhạc, nhạc bolero. Vâng, cũng là nhạc bolero!

Ai đó hãy khoan vội chê rằng bolero là giòng nhạc “sến” “bình dân” “nghèo”. Ừ thì nghèo, có sao! Khái niệm đó ta nên hiểu theo nghĩa khác, chỗ khác, giành cho những cái khác nhạc bolero. Bolero là giai điệu, giòng nhạc mộc mạc và gợi cảm trong phần hồn của mỗi con người. Nói như một hôm nào đó, một kẻ thị thành tạm rời xa khói bụi ồn ào, về ngả lưng nằm dài trên cỏ ở một nơi nào đó (như bài Vó Ngựa Trên Đồi Cỏ Non), mặc cho lũ cào cào, châu chấu đua nhau nhảy lóc tóc lên tóc, lên người, chui cả vào ngực áo – hay nhảy ùm xuống giòng kinh mát rượi, thả nổi mà nhìn mây trôi qua hai hàng dừa nước ven bờ (Bến Duyên Lành).

Khi ấy, cái con người thành thị kia đã được bỏ lại cùng đống quần áo, giầy dép, đồng hồ, mắt kính, smartphone trên bờ đất, chỉ còn lại niềm rung động êm ả giữa trời nước hiền lành. Rồi khi trở về, bỗng dưng lòng ta sẽ cảm thấy yêu thêm một chút màu khói nhạt lững lơ trên mái rạ, yêu thêm một chút bông hoa súng nhỏ nở lặng lẽ trên mặt hồ êm. Cái tình quê đơn sơ, như vậy, đã thêm một chút trong lòng. Bấy giờ, ta vẫn có thể yên tâm ngồi nghe nhạc Taylor Swift, Hilary Duff, hay Michael Jackson, yên tâm chiêm ngưỡng những ngôi sao màn bạc thế giới. Có hề gì!

Tôi viết tản mạn và không trích thêm, không “tiến dẫn” một bài bolero nào nữa, vì chăng nhạc bolero hay có quá nhiều!? Những bài hát ấy lặng lẽ có chỗ đứng riêng trong tâm hồn mỗi người Việt Nam, nó không cần được “tiến dẫn”, nó bất tử vì nó có cái chung của đời và cái riêng của thơ ca. Yêu những bài hát ấy, chính là ta yêu một cách nói riêng hiền lành và tự nhiên của con người.

“Mai sau dù có bao giờ…” Giả dụ như cái miền quê nghèo khó của chúng ta sẽ được như nhiều người mong ước, có ánh đèn đô thị, có xe hơi, nhà lầu, có quán bar, vũ trường v.v… Và giả dụ như thứ quê ca tình tự quê nhà có khi nào bị xem như không còn hợp thời trang, không hiện đại… thì tôi vẫn cứ mang theo trong trí nhớ riêng mình cái chiều làng quê say sưa trong tiếng ca, người làng quê yêu bông lúa thiết tha, những mẹ già ngồi trông trẻ đùa xóm dưới, rung rung môi cười như thưở còn đôi mươi.

 

Hồ Nhất Duy

Hành trình của kẻ dịch chuyển

Featured Image: Werner Kunz

 

Cuộc đời là một hành trình hay là một đích đến. Nếu thử qua một lần đi phượt, bạn sẽ cảm nhận rõ hơn câu trả lời cho chính mình. Khoan nói về sở thích hay đam mê đi khám phá đây đó, chỉ nói về cách bạn đi đến một địa điểm nào đó đôi khi thể hiện quan điểm sống của bạn.

Cuộc sống hầu hết mọi người đều có kế hoạch, dù ngắn hạn hay dài hạn, dù sơ sài hay kỹ lưỡng, những chí ít sẽ đều có một sự mường tượng trong tâm trí mình.

Nếu bạn thực hiện một hành trình mà cụ thể không biết mình sẽ đi đến đâu, bạn sẽ đi như thế nào. Chờ cho đến khi xác định được điểm đến rõ ràng hay tiếp tục chuyến đi với tâm lý thoải mái nhất, nhẩn nha ngắm cảnh, tận hưởng từng quãng đường với biết bao điều thú vị. Hoặc cũng có lẽ bạn sẽ không bao giờ xuất phát, bạn sợ sự mông lung phía trước, sợ sự xao nhãng trên đường đi, sợ những thứ bí ẩn đang chờ đợi mà bạn không thể nắm bắt.

Ngược lại, một hành trình với kế hoạch chi tiết về điểm đến, thời gian liệu có khiến bạn an tâm hơn. Xác lập mục tiêu, tập trung vào trọng điểm, ước lượng khả năng và cố gắng nhanh nhất có thể. Tuy nhiên, có vẻ đây giống như là một cuộc đua hơn là một chuyến phượt.

Theo tôi, cái thú vị của những lữ khách là việc “dịch chuyển” chứ không phải là chuyện “đi đến”. Với 2 quan điểm khác nhau, cách thực hiện hành trình sẽ khác nhau. Người “dịch chuyển” đi chầm chậm và tận hưởng mọi thứ trên hành trình, quan sát mọi thứ diễn ra với con mắt tò mò và nụ cười mãn nguyện vì đơn giản, với họ, việc “dịch chuyển” đã là một phần thưởng rồi. Đối lập lại, người “đi đến” sẽ tăng tốc hết mức vì với họ, mục tiêu là quan trọng nhất, mọi thứ khác chỉ là thứ yếu, nếu không chạm được nơi cần đến xem như chuyến đi là thất bại.

Tôi tự cười một mình khi nghĩ lại chuyến đi phượt gần đây với một nhóm bạn, mặc dù đã nói rõ là chuyến đi không có lịch trình cụ thể nhưng sau một hồi lòng vòng dưới trời oi bức, có người liền phàn nàn về cái ý tưởng ngu ngốc ấy. Tôi không trách họ vì đơn giản họ là người “đi đến”, họ cần một cái gì thật cụ thể và rõ ràng để nhắm đến. Nếu không biết sẽ đi đâu, họ sẽ không thể thoải mái tận hưởng những gì đang hiện diện trước mắt và với họ, chuyến đi như vậy nên kết thúc càng nhanh càng tốt.

Tôi thường đi chậm, ngay cả khi đã biết rõ điểm đến. Một là tôi có thể suy tưởng, hai là tôi có thể chậm chạp nhìn ngắm những điều đang trôi đi trước mắt, luôn lạ lẫm, luôn mới mẻ và nhiều ý nghĩa. Trộm nghĩa, dường như đó là cách tôi đang thực hiện hành trình cuộc đời mình: chậm chạp, nhẩn nha, tận hưởng, ít quan tâm đến đích đến vì đường nào nó cũng tới, không vội vã, không khẩn trương…

Liệu điều đó có đúng đắn, liệu tôi có vô trách nhiệm với cuộc đời của mình hay không, tôi giống một kẻ lang thang hơn là một tay đua chuyện nghiệp mỗi ngày lại rèn luyện bản lĩnh của mình để đến đích nhanh hơn. Chuyện gì sẽ xảy ra khi họ đến đích, nó khiến họ thỏa mãn hay không, thỏa mãn vì điều gì: ta có tài, ta chinh phục, ta tập trung, ta vượt lên, ta đạt được… Và nếu giả sử cái đích đến không như trong tưởng tượng, chuyến đi có thể quay ngược lại không?

Gần đây tôi có một vụ kinh doanh nhỏ với một kế hoạch khá tỉ mỉ. Kết quả kinh doanh không như ý muốn vì mục tiêu đã không đạt được. Nhưng lạ là tôi không thấy buồn bã hay nản lòng đơn giản là vì tôi đã được tưởng thưởng những điều tuyệt vời trong suốt thời gian thực hiện công việc đó. Chỉ có một điều vương vấn là tôi không biết liệu tôi có thể mở công ty kinh doanh với cái lối suy nghĩ như thế hay không.

Để chuyến hành trình được trọn vẹn, lời khuyên cho người “đi đến”: hay sẵn sàng tâm lý rằng, dù đích đến có như thế nào, bạn cũng sẽ tận hưởng nó mà không hối tiếc gì.

Lời khuyên cho người “dịch chuyển”: bạn vẫn chẳng cần lên kế hoạch hay xác định mục tiêu gì cả, tuy nhiên, phải nhớ là lúc đó bạn nên đi một mình. Đừng bắt ép người khác lang thang tư tưởng như bạn, vì nếu đã là “lang thang” thì không thể nào có điểm chung cho ít nhất hai người. Muốn tiếp tục dịch chuyển, cả hai phải có một “điểm đến”.

 

AVKH

Quan điểm trên thế giới về cấm đoán ma túy: Phỏng vấn Mark Thorntom

Featured image: goldenratio

 

Mark Thornton, Nghiên cứu viên cao cấp của Viện Mises, vừa đến Anh để tham gia một cuộc thảo luận do Oxford University tổ chức.


 

Viện Mises: Tại sao ông lại được mời tham gia thảo luận tại Oxford?

Mark Thornton:  Những cuộc tranh luận ở Oxford (Oxford Union) hầu như có thể mời bất cứ người nào mà họ muốn tranh luận, trong đó các vị tổng thống, thủ tướng, Mẹ Theresa, Đức Đạt Lai Lạt Ma, và thậm chí cả Julian Assange nữa, vì vậy tôi lấy làm vinh dự khi được họ mời. Tôi đã gặp một số nhà nghiên cứu ở Oxford Union và ở Đại học Oxford, những người đã biết công trình của tôi về cuộc chiến chống ma túy và ở Viện Mises. Mỗi bên tranh luận thông thường gồm nhà nghiên cứu làm công việc dẫn chương trình và ba chuyên gia. Các cuộc tranh luận được tiến hành tương tự như ở Viện Thứ Dân và đã được tiến hành từ năm 1823.

Viện Mises: Sợi chỉ đó xuyên suốt trong luận cứ của ông là gì và được đón nhận như thế nào? Bên ủng hộ cuộc chiến chống lại ma túy biện hộ thế nào?

Mark Thornton: Câu nói đùa mở màn của tôi đã được đón nhận một cách tốt đẹp và luận cứ của tôi cũng được đón nhận một cách tốt đẹp. Luận cứ của tôi là cuộc chiến chống ma túy chẳng mang lại lợi ích gì, chỉ tốn tiền và những hậu quả tiêu cực ngoài ý muốn. Bao gồm tội ác do những người nghiện ma túy gây ra, bạo lực do những người buôn bán ma túy thực hiện, nạn hối lộ và tham nhũng và hiệu lực của thuốc gia tăng đến mức có thể gây chết người. Tôi đã trình bày với họ lí thuyết về phương pháp kết nối những điểm này lại với nhau và câu chuyện về cách kết nối những điểm này. Sau đó tôi đã trình bày mười lợi ích của việc hợp pháp hóa các loại ma túy phù hợp với ba tiêu chí: làm cho chúng ta an toàn hơn, làm cho chúng ta khỏe mạnh hơn và cải thiện phúc lợi của con người. Tôi kết thúc bài thuyết trình của mình với bốn ví dụ về những việc sẽ xảy ra khi luật về ma túy đã được tự do hóa. Một ví dụ là thí nghiệm, người nghiện heroin được cấp những liều heroin an toàn về dược. Kết quả là tội phạm giảm đáng kể, số người có việc làm gia tăng và những người tìm cách chữa bệnh cũng gia tăng. Một ví dụ khác là chính sách đổi kim tiêm. Những nước áp dụng chính sách trao đổi kim tiêm một cách tự do (cấp kim tiêm miễn phí) có tỉ lệ người bị mắc HIV/AIDS và những bệnh lây qua đường tiêm chích rất thấp còn những nước thi hành chính sách rất nghiêm ngặt đối với kim tiêm (chỉ bán theo toa) có tỉ lệ lây nhiễm rất cao. Người nghe phản ứng rất nhiệt tình.

Ba chuyên gia bên phía ủng hộ cuộc chiến chống ma túy đưa ra luận cứ sau đây. Chuyên gia thứ nhất nói rằng không có cuộc chiến chống ma túy nào hết và người ta chưa thực sự tiến hành cấm đoán. Luận cứ của chuyên gia thứ hai là ma túy là xấu – chỉ thế thôi! Bà này từng là một người nghiện ma túy và tiết lộ rằng khi còn trẻ bà muốn xăm một lá cần sa lên mu bàn tay, nhưng người xăm hình từ chối vì lúc đó bà chưa đủ 18 tuổi. Điều này làm bà nghĩ rằng các doanh nghiệp sẽ bán cocaine cho những đứa trẻ 14 tuổi nếu nó được hợp pháp hóa? Chuyên gia cuối cùng khẳng định rằng nếu chúng ta hợp pháp hóa ma túy thì cuối cùng hầu như tất cả mọi người đều sẽ trở thành những con nghiện nặng. Như bạn thấy đấy, luận cứ của phía bên kia chủ yếu là thông tin sai lạc và chiến thuật dựa trên sự sợ hãi.

Viện Mises:  Chúng ta biết rằng ở nhiều tiểu bang ở Mĩ, đặc biệt là ở Colorado và Washington, những nỗ lực nhằm hợp pháp hóa ma túy đã có tiến bộ đáng kể. Ở Anh quốc, người ta có quan điểm như thế nào về những tiến bộ như thế?

Mark Thornton: Tất cả những mà người tôi nói chuyện về chính sách ma túy đều biết sự tiến bộ ở Colorado và Washington và một số người đã hỏi tôi về chuyện đó. Ấn tượng chung của tôi là mọi người hy vọng rằng Mĩ đã phá vỡ thái độ bài trừ ma túy cứng rắn của nước này. Nói chung, ý kiến của người dân ở Vương quốc Anh và châu Âu cũng dường như đang hướng về chính sách ma túy tự do hoá nhiều hơn nữa. Điều này không nhất thiết kéo theo việc hợp pháp hoá hoàn toàn ma túy, mà là chính sách coi những loại ma túy mạnh là những vấn đề y tế chứ không phải là vấn đề thực thi pháp luật, và cần sa được quy định tương tự rượu và thuốc lá.

Viện Mises:   Thông qua các phương tiện truyền thông và văn hóa đại chúng tất cả chúng ta có một hình ảnh nhất định về cuộc chiến chống ma túy ở Mĩ, với các băng đảng, những kẻ buôn lậu ma túy và những người vận chuyển ma túy. Cuộc chiến chống ma túy ở châu Âu có gì khác không hay cũng giống như ở đây, không ít thì nhiều?

Mark Thornton: Cũng giống như Hoa Kỳ, châu Âu là khu vực tiêu thụ ma túy bất hợp pháp lớn, chứ không phải là khu vực sản xuất, với luật phòng chống ma túy tương tự như ở đây. Nam Mĩ cũng sản xuất nhiều ma túy, nhập lậu vào châu Âu. Đương nhiên là vấn đề rất giống nhau. Giống nhau một phần còn là do những hiệp ước quốc tế buộc các nước phải tuân thủ những tiêu chuẩn pháp lí nhất định đối với các loại ma túy bất hợp pháp. Vì vậy mà họ cũng có những kẻ buôn lậu, những băng nhóm bán lẻ ma túy, tội phạm có tổ chức, hối lộ và tham nhũng .v..v. Có một số trường hợp ngoại lệ mà ta thấy rõ như cửa hàng cà phê cần sa ở Hà Lan. Cũng có một số thí nghiệm đáng chú ý, ví dụ như phi hình sự hóa tất cả các loại ma túy ở Bồ Đào Nha. Sẽ không sai khi nói rằng cải cách của Bồ Đào Nha là hành động tuyệt vọng, nhưng nên nhớ rằng Hoa Kỳ cũng tuyệt vọng như thế khi chúng ta bãi bỏ luật cấm rượu trong lúc cuộc Đại suy thoái rơi vào tình trạng nặng nề nhất.

Viện Mises: Cuộc đấu tranh chống lại cuộc chiến chống ma túy đã trở thành phong trào toàn cầu hay nỗ lực mới thu được thành công ở vài quốc gia?

Mark Thornton: Cả hai. Nỗ lực mới thu được thành công ở vài quốc gia; nhưng tôi nghĩ rằng đã có một phong trào mang tính ý thức hệ trên toàn thế giới nhằm ủng hộ cho những đạo luật tự do hơn về ma túy. Ở châu Âu và ở cả Tây Bán cầu, cán cân nghiênh về những đạo luật tự do hơn về ma túy đang bắt đầu trở nên rõ ràng. Cần sa dùng trong y khoa và hợp pháp hóa cần sa tiêu khiển được nhiều nước trong các nước đã phát triển chấp nhận. Người dân Mexico, người dân các nước Trung Mĩ và các nước sản xuất ma túy ở Nam Mĩ đã bị cuộc chiến chống ma túy làm cho khốn khổ và đang rất cần một giải pháp. Dường như những chiến thắng chỉ là lẻ tẻ và biệt lập, nhưng tôi tin rằng khi lịch sử nhìn lại quá khứ gần đây và tương lai trước mắt của chúng ta nó sẽ dán cho giai đoạn này cái nhãn “Sự cáo chung của cuộc chiến chống ma túy”, tương tự như chúng dán nhãn “Sự cáo chung của chiến tranh lạnh” và “Sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản” vậy.  Chí ít thì đấy cũng là hy vọng của tôi.

Viện Mises:  Khi chúng ta nghĩ về ma túy bất hợp pháp, chúng ta thường hiểu là cocaine, thuốc phiện và cần sa. Nhưng càng ngày người ta càng chú ý hơn đến những loại thuốc bán theo toa. Đây có phải cũng là vấn đề đang nổi lên ở các nước khác không?

Mark Thornton: Người ta đã dự đoán được vấn đề này, như tôi đã chỉ ra trong cuốn sách của mình: Kinh tế học về cấm đoán. Khi cuộc chiến chống ma túy tiến triển với lực lượng thực thi mạnh mẽ hơn và hình phạt nặng nề hơn thì thị trường chợ đen phản ứng bằng những loại ma túy mạnh hơn, hiệu quả hơn và nguy hiểm hơn. Khi tôi viết vào những năm 1980, quá trình là cần sa có hiệu lực ngày càng cao hơn, rồi chuyển sang cocaine, ma túy đá và heroin. Kể từ đó ma túy tổng hợp, thuốc lắc, thuốc phiện bán theo toa đã được thêm vào hỗn hợp. Gần đây hơn, người ta còn phát minh ra những loại ma túy hóa học mới, hợp pháp về mặt kỹ thuật. Tôi tự hỏi nếu những người đang chiến đấu với ma túy hiện nay có một cái nút có thể đưa chúng ta trở lại thời kì trước khi có sự can thiệp của chính phủ vào ma túy và đến nơi mà người ta hút thuốc phiện có hiệu lực thấp và thuốc phiện bán ngay bên lề xã hội và uống Coca-Cola (loại có chứa cocaine chứ không phải caffeine), họ có bấm cái nút đó hay không?

Ở Mĩ, các loại thuốc giảm đau có chứa thuốc phiện như OxyContin (oxycondone) và Vicodin mỗi năm giết chết hàng ngàn người. Các con nghiện đều có quan niệm sai lầm rằng đấy là những chất thay thế an toàn cho heroin. Việc sử dụng loại thuốc này cũng đã lan sang châu Âu và những nơi khác và đã có người chết.

 

Nguồn
Dịch: Phạm Nguyên Trường

Những ngày cùng tuổi

Featured image:  Alex_Leo

 

Đã định viết bài thơ đón xuân
mùa đông đóng băng
giấc mơ cài khóa
em không về sau trận lá rụng mùa
chừng như xuân vừa qua đó
parabol chiều cong ảo giác
biến thiên nỗi buồn cực đại
những ngày cùng tuổi lô nhô

Đã định viết câu thơ ngợi ca xuân
nụ non chối từ tách mầm nứt hạt
xác thối động tình
nụ non bưng mặt khóc
câu thơ sơ sinh đã tử nạn trong chiếc bong bóng bay tít trên cao
những ngày cùng tuổi không về

Đã định viết khúc biệt từ xuân
nhưng hình như xuân đã qua lâu rồi
khi mưa chưa kịp tới
những ngày cùng tuổi dắt díu nhau lưu vong
ngày xuân ngập trong cơn mù nhiệt đới
không nắng không mưa
buồn như ngày lá chết
tôi ngồi bên thềm ủ rủ đợi bóng
những ngày cùng tuổi đã qua.

26.2.15
Phương Uy