15.1 C
Da Lat
Thứ Ba, 24 Tháng 3, 2026

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN

Triết Học Đường Phố - PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN
Trang chủ Blog Trang 100

“Tâm hồn đẹp” vs. “Tâm hồn phong cách”

1

Bước chân đầu tiên đặt vào đời, tôi đứng giữa xã hội loài người với những quy chuẩn phép tắc đạo đức. Không chỉ cha mẹ, nhà trường mà  cả những người xung quanh, họ luôn cố gắng nhồi nhét vào tâm trí tôi. Vì muốn là con người ưu việt giữa  đám đông, muốn được ngã vào sự yêu thương của tất cả mọi người, tôi để tất cả các chuẩn mực ấy thản nhiên yên nghỉ trong đời sống mình. Điều mà mọi người vẫn hay đặt tên bằng những từ ngữ hoa mỹ, ý chí về một con người sỡ hữu “vẻ đẹp tâm hồn.”

Cho đến một ngày tôi nhận ra mình chẳng khác gì một xác chết đã bị đánh cắp mất linh hồn. Cái giá để có một tâm hồn đẹp là vượt quá sức của một con người. Tôi chỉ đang cố gắng tạo ra một nơi trú ẩn để che giấu con thú nội tâm. Nó thực chất chỉ là công trình mà ý chí của xã hội đã cố xây dựng lên bằng những giá trị giả mạo.

Tôi không ở đây để sửa chữa hay phán xét những người muốn sỡ hữu tâm hồn đẹp là sai lầm hay đúng đắn. Tôi không đủ quyền năng để rao giảng những điều bậy bạ. Tất nhiên là so với việc vun đắp vẻ bề ngoài ngu ngốc để nó trở thành thước đo giá trị mỗi con người thì việc bồi bổ vẻ đẹp bên trong chính là một hành động thông minh. Nhưng một kẻ thông minh đích thực chắc chắn không thể là kẻ nhìn vào đám đông rồi sao chép nguyên bản.

Ý chí sở hữu một tâm hồn đẹp nung nấu trong lòng tôi, con người đức hạnh đạo đức là đối tượng duy nhất tôi muốn hướng đến. Nhưng xã hội đã làm gì để khiến tâm hồn choáng váng. Xã hội đã cố nhào nặn tôi trở thành một tâm hồn đẹp. Dạy tôi cách trở thành một con rối dưới bàn tay nhào nặn của xã hội. Để có một tâm hồn đẹp, tôi ngu ngốc tự động biến mình thành nô lệ. Đám đông từ lúc nào trở thành chủ nhân của tôi. Một khi đã được ưu ái ban tặng cho cái danh xưng người sở hữu tâm hồn đẹp, còn phải cần thêm rất nhiều thời gian nữa để bảo trì một cách tốt đẹp nhất, lâu dài nhất. Và tôi chắc chắn chỉ trong một thời gian ngắn thôi, bạn sẽ ngán ngẫm vì phải mang vác một tượng đài quá sức mình. Sau đó, bạn sẽ tự biến mình thành một tay kịch sĩ giỏi đóng kịch và giả bộ tinh tế mà thôi. Tất nhiên là cũng có lúc bạn cảm thấy hài lòng vì được  làm ánh sáng chói rọi giữa đám đông. Tôi chỉ khuyên bạn hãy nên cẩn thận trong hành động muốn trang hoàng lên tâm trí bằng những từ ngữ hoa mỹ ngợi ca.

Một tâm hồn đẹp thực chất chỉ là tâm hồn mà xã hội muốn. Trong khi học cách bước đến gần nó bạn sẽ lãng quên đi cách để được sống làm một con người. Hãy nhìn xem những gì mà tâm hồn đẹp đòi hỏi ở bạn. Tỏ ra vui vẻ hòa đồng với đám đông lố lăng, lúc nào cũng phải mỉm cười với trái tim rỉ máu đang khóc gào bên trong, nói lời cám ơn với vẻ bộ tịch chứa đựng sự biết ơn, xin lỗi luôn miệng với đằng sau những trái tim hời hợt chưa hề biết đến sự ăn năn hối lỗi. Chúng ta có thực sự cần đến một tâm hồn đẹp được tạo ra từ thứ vật liệu giả tạo?

Tâm hồn chỉ có thể phục sinh khi nó được tự do trở thành chủ nhân của chính nó. Xã hội  nhân loại cần trổ sinh những tâm hồn đẹp. Nhưng con người thực chất chỉ cần một tâm hồn không cần sống theo thời đại. Là một tâm hồn dũng cảm dám trình diễn mà không cần khán giả ngắm nhìn. Đó không phải là một tâm hồn lạnh lẽo băng giá như quỷ dữ. Đó là một tâm hồn dám nhìn sâu vào hố thẳm với niềm kiêu hãnh cao ngất trời. Tôi tạm gọi đó là tâm hồn phong cách.

Đối với một tâm hồn đẹp, con người cần trở thành một con người đạo đức. Nhưng đối với một tâm hồn phong cách, con người chỉ cần vứt bỏ đi những dư thừa để sống như một con người. Người có tâm hồn phong cách là người có bước chân nhẹ nhàng chạy nhảy thênh thang trên sình lầy, vẫn khiêu vũ phiêu bồng bằng tiếng hát của chính mình mà không cần có giai điệu bên ngoài cất lên.  Là người biết cách đứng thẳng trên đôi chân mình chứ không phải bằng sự nâng đỡ ca tụng của đám đông.

Một tâm hồn đẹp có thể là ngọn lửa đốt lên sự ấm áp cho những người xung quanh, khiến họ yêu mến bạn. Nhưng thực chất họ chỉ yêu bạn vì bạn thỏa mãn cái vị kỷ trong họ. Họ cần bạn phải rập khuôn vào những tiêu chuẩn họ đặt ra thì bạn mới có thể đặt chân vào tình yêu của họ. Chưa kể đó có thực sự là yêu thương?

Một tâm hồn phong cách là tâm hồn có những nét riêng biệt, có những nguyên tắc cơ bản riêng. Nó tạo nên sự khác biệt trong mọi ý nghĩ, mọi hành động của người đó. Nó không phải là cách bạn tô điểm trang trí lên đó những bộ cánh lòe loẹt sặc sỡ màu để người ngoài nhìn vào thỏa mãn thị hiếu của họ. Tâm hồn phong cách hiểu rằng dù cho nó có đang chen lấn giữa đám đông ồn ào nhốn nháo, nó cũng không bao giờ bị hòa lẫn. Luôn có cách để tìm ra.

Chúng ta không cần những đức hạnh làm dáng. Chúng ta không cần những khoe khoang ca tụng. Chúng ta cần được sống giống một con người, không bị xiềng xích bởi chuẩn mực. Chúng ta không thể sống bằng cái xã hội muốn. Chúng ta chỉ có thể sống bằng những cái chúng ta có thể.

Tôi là chủ nhân của tôi. Tôi không phải là một pho tượng đá để xã hội tùy ý điêu khắc theo ý họ. Đối với tôi, một tâm hồn đẹp từ lúc nào đã trở thành gu thời trang ăn khách của tối đại đa số đám đông.Chính vì thế mà một tâm hồn đẹp đối với tôi là điều quá cách xa thực tế. Tôi cần một tâm hồn phong cách.

Còn bạn?

*  *  *

Tác giả: Ni Chi

Photo: danielsampaioneto

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️http://bit.ly/2KTJCN2 

 

Khoa học thật sự có ý nghĩa gì?

0

Khi con thú nội tâm ẩn náu trong tâm trí loài người bắt đầu dấn thân vào con đường tìm kiếm nguồn cội của thế giới kỳ thú đẹp đẽ, chúng đã nhìn thấy quá nhiều sự tò mò đầy bí ẩn mà từ vạn cổ đến nay muôn đời vẫn luôn cưỡng bách chúng. Chúng cần một lời giải thích cho tất cả vạn sự. Phải chăng đó là bước chân đầu tiên  mang tên khoa học được khởi sinh?

Trong tôi cũng đã từng có một chốn nương thân cho con thú nội tâm ấy cư ngụ. Vì cũng đã từng khát khao trước sự quyến rũ mênh mông của thế giới. Tôi đứng bên cạnh một cây cao cổ thụ, chạm vào bề mặt xù xì của nó. Tôi đắm mình dưới một dòng sông, nếm thử mùi vị mát lành của làn nước trong. Tôi thả trôi mình mặc sức bồng bềnh đi hoang cùng làn mây. Có vì sao lấp lánh nào vừa rơi xuống ngã vào lòng trần gian để tôi ngu ngốc vội vã tìm kiếm trong rừng sâu. Hoàng hôn rơi vào giấc ngủ đánh thức khoảnh khắc bình minh lại bừng tỉnh. Ôi tâm hồn tôi tự do bước theo sự quyến rũ của sự sống vì muốn gợi mở những bí mật.

Ban đầu, rõ ràng tôi có thể chạm vào cuộc sống bằng tất cả giác quan của tôi. Nhưng khởi sinh nó bắt nguồn từ đâu? Dòng chảy nào đã mang ý niệm sự sống trôi dạt ra xa khỏi tầm hiểu biết của tôi. Ý chí tinh thần tự do muốn dẫn dắt tôi trở về nguồn cội sự sống. Chúng gọi mời tôi bằng những cái nhìn tràn đầy khát vọng. Và thế là tôi lên đường tiến vào những cuộc viễn chinh chẳng khác nào những nhà khoa học để khảo cổ và khám phá thế giới.

Rồi tôi nhận ra đó mãi mãi chỉ là thế giới của riêng tôi. Bởi tôi chưa từng đặt chân ra khỏi ao làng. Trong khi đó họ truyền đạt vào tôi những kiến thức vĩ mô mang tầm vũ trụ. Nhưng thử hỏi tôi biết gì về nó khi tôi thậm chí còn chưa từng trông thấy. Tôi chỉ biết về chúng qua những gì người ta miêu tả, trong sách vở tạp chí. Cấu tạo các hạt nguyên tử hình thành vật chất. Người ta bắn vào đầu tôi vô số những hạt điện tử quay quanh hướng về hạt nhân. Hãy vểnh tai lên mà nghe khoa học kể chuyện về sao kim, sao thổ, sao mộc, nhưng tôi đã bao giờ trông thấy chúng ngoại trừ vài ba cái mô hình trong thư viện của trường học? Họ nói về mặt trăng mặt trời khi chúng chỉ xuất hiện trước mặt tôi chẳng khác nào một lòng đỏ trứng gà treo lơ lửng trên bầu trời.  Họ nhồi nhét vào đầu tôi những quả bom tàng hình rồi đóng đinh cột chặt tôi vào chúng. Họ bảo đây chính là tất cả sự lý giải cho những nghi vấn tôi đang đi tìm. Nhưng liệu quả bom ấy có phát nổ vào một ngày tận thế?

Tôi đứng ở vạch xuất phát cùng con số không, lao lực hụt hơi và thậm chí đánh rơi tất cả thời gian chỉ để nhận ra mình chỉ đang trở về điểm khởi đầu. Tôi đi từ cái không biết này sang một cái không biết khác và khiến cho trái tim tôi bối rối, rõ ràng bản chất  của thế giới này sẽ vĩnh viễn nằm lại dưới cái bóng của một ẩn dụ.

Tôi không thể phủi đầu khoa học khi thực tế đã đóng dấu điểm chỉ công nhận vai trò của nó. Vật lý học nắm đầu thế giới vật chất. Sinh học đi sâu vào mổ xẻ bí mật sự sống. Vũ trụ ra đời thế nào, con người tiến hóa ra sao. Cấu tạo vật chất vô cơ và hữu cơ. Cả thế giới truyền tai nhau những lý giải từ thế hệ này sang thế kia chẳng khác nào những bản sao chép được in ra rồi truyền tay nhau, giống những mẫu quảng cáo tờ rơi vung vãi ngoài vỉa hè. Nhưng thực chất chúng là gì?

Khoa học thật ra chỉ là một kẻ đánh lừa con người bằng cách liệt kê những hiện tượng, khoa học cung cấp cho tôi cả một kho tàng vĩ đại lý lẽ giải thích. Nhưng đến sau cùng tôi vẫn chẳng thể nào thấu hiểu bản chất thế giới. Tôi biết tôi quá ngu đần để hiểu hết về chúng, vậy liệu có phải người ta chỉ khai sinh ra khoa học để thuộc về những kẻ thông minh. Nói vậy có nghĩa tất cả những đứa ngu dốt như tôi mãi mãi sẽ không bao giờ tường tận được sự sống thực chất là gì?

Tôi quay trở lại dưới một tán cây để có thể sờ chạm chân thật vào thế giới như lúc tôi chưa bắt đầu lên đường tìm kiếm bản chất của chúng. Tôi ngồi xuống, cố tình để khoa học dẫn dắt tâm trí tôi nhưng tôi vẫn không ngừng đắn đo lựa chọn giữa một bên là sự sờ chạm chân thật nhưng tôi hoàn toàn đui mù về bản chất bên trong và một bên là những lý giải chặt chẽ logic nhưng bản thân chúng lại không có gì chắc chắn.

Bao nhiêu bài hùng biện và khoa học gia lần lượt ra đời chỉ để chứng minh đây là chân lý. Lý trí mù quáng của tôi có thể đặt trọn niềm tin vào những thiên tài đó. Nhưng tôi có thể hạnh phúc không khi tôi không phải là người đào bới thấy chúng. Tôi chỉ đang cố xiềng xích tâm trí tôi phải tập chấp nhận chúng.

Sự thật là tâm trí tôi vĩnh viễn phải mắc kẹt trong mớ hỗn độn đã bị giới hạn lại bởi những điều tôi không bao giờ lý giải được. Tôi đã lên đường dấn thân vào chuyến phiêu lưu này. Vũ trụ khôn lường vẫn xoay vần xung quanh tâm trí tôi, đúng hơn là tôi đang xoay quanh nó. Nhưng tôi biết mình sẽ mãi bước đi giữa nó như bước đi giữa sa mạc mênh mông. Mãi mãi bước đi không tìm ra lối thoát.

Tôi biết khoa học vĩ đại. Tôi có thể học thuộc lòng và tập chấp nhận tất cả những gì chúng mang lại. Tuy nhiên, tôi không muốn tự lừa dối bản thân mình. Chúng còn xa lạ hơn cả hòn đá dưới chân tôi. Chúng thực sự chẳng có ý nghĩa gì. Chí ít là đối với riêng tôi.

Tác giả: Ni Chi

Minh họa: Tama66

📌 Mời Triết Học Đường Phố và các tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️http://bit.ly/2KTJCN2 

 

 

Ta thống trị mọi hỷ nộ ái ố của mình

0

Cuộc sống phức tạp quá, còn con người thì đa sầu đa cảm. Nhiều khi muốn một cuộc đời bình dị thôi, nhưng chỉ sống hoài với một thứ cảm xúc thì thật tẻ nhạt. Con người có quá tham lam chăng khi luôn đòi hỏi những điều tốt đẹp? Không, ai cũng như thế, cũng khát khao và mong muốn mọi sự thuận lợi và êm đềm như dòng chảy róc rách bên bờ suối.

Tuy nhiên, có những lời nói nói ra trong lúc tức giận luôn vậy, vô tâm, tức tối, khiến người khác khó chịu mà một cách đương nhiên khi ấy, ta đã vô tình trao cơ hội cho cái bản chất xấu xa ngự trị con tim mình. Để rồi từ đó, xúc phạm một tấm lòng dù có sai nhưng thử hỏi cuộc đời có ai không mắc sai lầm bao giờ, nhạt nhòa đi một mối quan hệ, phơi trần cho thiên hạ mặt khác của mình và hơn hết, để lại tổn thương nơi người khác.

Kì lạ thay, con người lại hay để bụng mọi hành động và xử sự trong lúc người khác đang tức giận. Có chăng khi ấy, người ta chót lỡ đụng đến lòng tự trọng của ta, để lại ở ta một khoảng trời nặng nề, những nỗi buồn trống rỗng, sự tha thứ cũng khó mà cho đi.

Vậy đấy, chỉ một giây phút bốc đồng thôi cũng đủ làm đổ vỡ những hình tượng ta gầy công gây dựng trước giờ. Tìm khắp trong nhân gian, có loại thuốc nào khiến chúng ta vẫn bình tĩnh, điềm nhiên cư xử như mọi khi trong lúc tức giận nhất? Nếu có, hãy bán cho tôi một liều.

Trong mọi trường hợp, não chỉ hoạt động 10% công suất của nó. Trong lúc tức giận, con số ít ỏi trong 10% ấy lại bị che lấp, con người trở nên mù quáng, đưa ra những phản xạ lại càng dại dột hơn. Cách ta hành động, nói năng khi ấy là cả vấn đề.

Vậy nên, trái tim của ta có đủ tinh tế, lương thiện để im lặng trong giây phút ấy, chờ đợi cơn nguôi ngoai lớn dần, chiếm lĩnh thể xác và tâm hồn  rồi mới giải quyết sao cho thỏa đáng nhất. Nếu đủ thì thật hạnh phúc, ta là người đi trước nhiều người.

Còn không, đã lỡ vung ra những điều sai trái thì không sao, con người vốn đã thẳng thắn như vậy, có chút cọc cằn nhưng với bản chất thiện lương luôn đấu tranh để phần người chiến thắng phần con, ta hoàn toàn có thể khắc phục. Hãy ngồi lại, giành cho bản thân sự tĩnh lặng, những khoảng trống không để lấp đầy mà để lắng nghe chính mình, suy ngẫm, đúc kết và sửa chữa. Và đừng ngại ngần nói lời xin lỗi, thật chân thành. Vì nông nỗi vốn dĩ là điều không thể né tránh, là một phần của tuổi mới lớn cũng như mọi lứa tuổi, kể cả khi ta có trưởng thành đến đâu. Tôi tin chắc ngọn lửa của mọi tranh cãi, bất hòa, khó chịu sẽ lụi tàn dần trong bóng đêm và vĩnh biệt trần thế và “Khi ấy, một người đàn ông sẽ ra đời…”

Cảm xúc là thứ tình cảm mong manh, dễ bị lung lay dưới sự bộn bề, vội vã của cuộc sống. Thế nhưng những cảm xúc ấy cũng chỉ là hữu hạn, đủ lượng thì chất ắt sẽ thay đổi. Đến một giới hạn nào đó, ta có thể “tức nước vỡ bờ” nhưng cũng có thể kiểm soát nó.

Hãy kiểm soát nó và thấy bản thân đủ bản lĩnh và tinh tường để sống chậm, sống sâu, hòa nhã và an nhiên.

Tác giả: Rin

Featured image: Couleur

📌 Mời Triết Học Đường Phố và tác giả một ly cafe ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố, bài viết nổi bật sẽ có nhuận bút/tip. ➡️http://bit.ly/2KTJCN2 

Tại sao Jean-Paul Sartre từ chối giải Nobel văn học?

0

(2361 chữ, 9 phút đọc)

Jean-Paul Sartre, nhà văn, nhà viết kịch, nhà triết học Pháp nổi danh nhất thế giới từng cố tình quay lưng đánh rơi giải Nobel văn học năm 1964, từng dựng lên làn sóng chấn động tốn không ít giấy bút của các nhà phê bình và ký giả trên toàn thế giới. Một dấu chấm hỏi lớn đặt ra cho hành động kỳ quặc với nghi vấn liệu đó có phải là sự khinh bỉ của một nhà đạo đức quý tộc hay đó chỉ là một chiêu trò kinh tởm của một kẻ đi buôn trong sự toan tính khéo léo. Người nhận giải xưa nay chẳng thiếu, nhưng kẻ khinh bỉ muốn chối từ lại chẳng có mấy người. Ai mới nổi tiếng vĩ đại hơn?

Jean-Paul Sartre, một triết gia hiện sinh, tư tưởng vô thần thống trị trên con đường tìm kiếm ánh sáng tự do. Tự do trong ý chí của Sartre đơn thuần chỉ là tự do lựa chọn. Mỗi con người cô độc tự tạo ra thế giới của gã, hoàn toàn chịu trách nhiệm cá nhân, tự khai sinh ra những lề lối phép tắc, tự tạo quan tòa phán xử và đưa ra án phạt cho chính gã. Sartre không tin vào sự hiện diện của Thượng Đế với hỏa ngục cùng những hình phạt nếu con người sống sa đọa buông thả và làm bạn với ác quỷ. Đối với ông, thế giới của con người được tạo ra bằng chính những vật liệu bắt nguồn từ hành vi ý chí của gã. Một gã bất lương hèn mọn cũng có thể ngay lập tức thánh hóa thành người hùng nếu ý chí của gã có nguyện vọng. Cuộc đời mỗi người là một ngôi nhà đã có sẵn những vật dụng đầy đủ và cần thiết, cấp bách chỉ diễn ra khi chủ nhà ngu ngốc cố tình mở cửa chào đón tên trộm hiên ngang bước vào.

Một kẻ tự do như Sartre không chỉ khước từ một giải Nobel mà còn lãnh cảm phủ nhận mọi liên hệ với đạo đức gia đình xã hội. Bất kể ai dù sinh ra trong một quốc gia, tôn giáo nào cũng có thể đạp đổ chúng để đi theo tiếng gọi con người, được sống trọn vẹn nỗi cay đắng tủi khổ cho đến hạnh phúc vui sướng, dù cho đó là đêm tối ghẻ lạnh với tuyết trắng băng giá, dù cho nỗi cô đơn thường trực vẫn đeo bám không chịu rời xa. Đời sống mãi lênh đênh trôi dạt không một chốn dừng chân, sống mù mờ đuôi điếc không có lấy một điểm tựa. Đó vẫn sẽ là một đời sống xứng đáng để dấn thân.

Ông không chịu bất động tư tưởng trong một hình dáng. Bao giờ cũng cần những sự thay đổi để bắt kịp với ánh sáng tự do. Chính vì thế mà ông không muốn người ta đóng đinh ông vào cây thập tự Nobel. Ông không muốn người ta xây dựng cho ông một tượng đài rồi khắc vào bia đá cái tên Jean-Paul Sartre. Ông sợ rằng cuộc đời mình sẽ mãi vĩnh viễn bị pho tượng ấy đè nặng.

Đối với ông, tự do phải là một cuộc sống không phụ thuộc. Chúng ta không thể tự do trong những ràng buộc, trong mối quan hệ, cuộc sống bị chi phối bởi những thứ bên ngoài mà không phải là thế giới bên trong.

Giả dụ con người không thể lập gia đình với ý chí cuộc sống hôn nhân sau đó vẫn ung dung tự tại khi trên vai giờ đây đã cồng kềnh hơn với những đứa con và gánh nặng cuộc sống. Một người đàn ông độc thân cùng một người đàn ông đã lập gia đình. Điều đó chằng khác nào một Sartre nhà văn và một Sartre là nhà văn đoạt giải Nobel.

Theo quan điểm riêng tôi, quyết định từ chối giải chỉ là câu trả lời cho ý chí trung thành với tự do, không muốn xã hội biến mình thành con lạc đà quỳ gối tự nguyện để người ta chất đầy lưng mình rồi kéo lê qua những sa mạc khô cằn không lối giải thoát. Xã hội loài người, nơi ý chí đám đông đã cất công tạo dựng mãi không thể biến đời sống ông thành sa mạc. Họ không thể dùng những giá trị xa lạ để đánh lừa ông. Vậy nên có những kẻ ngu xuẩn đã tự dựng lên lời lẽ bêu rếu trước quyết định cao đại đáng kính.

Tất nhiên đây chỉ là một vài dòng cảm nhận cá nhân riêng tư của tôi khi đọc xong lá thư. Bài viết với mục đích sau cùng cũng chỉ muốn độc giả có cơ hội đọc qua lá thư từ chối giải Nobel của Jean-Paul Sartre (1964) mà tôi rất tâm đắc.

Tôi rất tiếc là sự việc đã thành ra như một vụ bê bối: giải thưởng được trao và tôi từ chối. Nguyên nhân chỉ là do tôi đã không được cho biết ngay khi việc này đang chuẩn bị. Khi tôi đọc thấy trong tờ Le Figaro văn học (Le Figaro littéraire) ra ngày 15/10/1964, dưới ngòi bút một phóng viên Thụy Điển của bản báo, rằng sự lựa chọn của Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ nhằm vào tôi, nhưng việc này vẫn chưa được quyết định, tôi đã nghĩ là bằng cách viết một bức thư cho Viện Hàn lâm và gửi đi vào ngày hôm sau thì tôi sẽ có thể dừng lại được việc này và người ta sẽ thôi nói đến nó.

Khi đó tôi không biết rằng giải Nobel được trao không cần hỏi ý kiến của người được giải nên nghĩ là vẫn còn kịp thời ngăn nó lại. Nhưng rồi tôi hiểu một khi Viện Hàn lâm Thụy Điển đã đưa ra sự lựa chọn thì nó không thể rút lại nữa.

Những lý do tôi từ chối giải thưởng không liên quan đến Viện Hàn lâm Thụy Điển, đến bản thân giải Nobel, như tôi đã nói trong thư gửi Viện Hàn lâm. Tôi đã nêu lên trong đó hai loại lý do: lý do cá nhân và lý do khách quan.

Những lý do cá nhân là như sau: sự từ chối của tôi không phải là hành động bốc đồng, tôi luôn khước từ mọi sự biệt đãi chính thức. Sau chiến tranh, năm 1945, khi người ta định trao cho tôi Bắc đẩu Bội tinh tôi đã từ chối, mặc dù tôi có những bạn bè trong chính phủ. Cũng vậy, tôi không bao giờ muốn vào Collège de France (Pháp quốc Học viện), như một số bạn bè gợi ý.

Thái độ này của tôi dựa trên quan niệm của tôi về lao động nghề văn. Một nhà văn có các quan điểm chính trị, xã hội hay văn học chỉ cần phải hành động với phương tiện của hắn, tức là lời viết ra. Tất cả những sự biệt đãi mà hắn có thể nhận sẽ gây cho độc giả một áp lực mà tôi cho là không đáng mong muốn. Tôi ký Jean-Paul Sartre hay tôi ký Jean-Paul Sartre người được giải Nobel là hoàn toàn khác nhau.

Nhà văn chấp nhận một sự biệt đãi như vậy là cũng đã nhập vào hội đoàn hay thiết chế đã vinh danh hắn: thiện cảm của tôi đối với quân du kích Venezuela chỉ liên quan đến tôi, trong khi nếu người được giải Nobel Jean-Paul Sartre ủng hộ phong trào kháng chiến ở Venezuela thì hắn sẽ kéo theo mình cả giải thưởng Nobel như một thiết chế.

Như vậy nhà văn cần phải từ chối việc biến mình thành một thiết chế, ngay cả nếu điều này diễn ra dưới những hình thức vinh dự nhất như trong trường hợp này.

Thái độ này hoàn toàn rõ ràng là của tôi và không hề có ý phê phán những người đã được trao giải. Tôi kính trọng và khâm phục nhiều người được giải mà tôi hân hạnh quen biết.

Những lý do khách quan để tôi phản đối là như sau:

Cuộc chiến đấu duy nhất hiện nay có thể diễn ra trên mặt trận văn hóa là cuộc chiến đấu cho sự cùng tồn tại hòa bình giữa hai nền văn hóa, Đông và Tây. Tôi không muốn nói rằng như thế là cần phải có sự bắt tay của chúng. Tôi biết rõ rằng sự đụng độ giữa hai nền văn hóa tất yếu sẽ có hình thức xung đột, nhưng nó nên diễn ra giữa những con người và giữa những nền văn hóa mà không có sự can thiệp của các thiết chế tổ chức.

Tôi cảm nhận sâu sắc sự đối lập giữa hai nền văn hóa: tôi chính là sản phẩm của sự đối lập ấy. Thiện cảm của tôi hiển nhiên là dành cho phe xã hội chủ nghĩa và cái gọi là khối Đông, nhưng tôi sinh ra và được học hành trong một gia đình tư sản và nền văn hóa tư sản. Điều này cho phép tôi cộng tác với tất cả những người muốn xích gần hai nền văn hóa. Nhưng tôi hy vọng, tất nhiên, “bên tốt nhất sẽ thắng”, tức là chủ nghĩa xã hội.

Chính vì thế tôi không thể chấp nhận một sự biệt đãi nào do các thiết chế văn hóa bậc cao, cả ở Đông lẫn Tây, trao cho, ngay cả khi tôi hiểu rõ sự tồn tại của chúng. Dù cho thiện cảm của tôi là ở về phía chủ nghĩa xã hội, tôi cũng không thể chấp nhận giải thưởng Lenin chẳng hạn, nếu có người muốn trao nó cho tôi. Tôi biết rõ bản thân giải Nobel không phải là một giải thưởng văn học của khối Tây, nhưng theo cách người ta làm như vậy thì sẽ có thể đưa đến những sự kiện mà các thành viên của Viện Hàn lâm Thụy Điển không quyết định được.

Do đó, trong tình hình hiện nay, giải Nobel về khách quan hiện ra như một sự biệt đãi dành cho các nhà văn phía Tây hoặc những người nổi loạn ở phía Đông. Người ta đã không trao nó cho chẳng hạn Neruda, một trong những nhà thơ lớn nhất ở Nam Mỹ. Người ta cũng không bao giờ nghiêm túc nói đến Louis Aragon, một người rất đáng được nhận giải. Cũng đáng tiếc là người ta đã trao giải cho Pasternak trước khi trao nó cho Sholokhov và tác phẩm Xô-Viết duy nhất được trao lại in ở nước ngoài và bị cấm ở nước mình. Sự cân bằng này cũng có thể được xác lập theo cách tương tự nhưng theo hướng ngược lại. Trong cuộc chiến tranh Algeria, khi chúng tôi ký “Tuyên bố 121”, tôi sẽ chấp nhận giải thưởng với lòng biết ơn bởi vì đó không chỉ là vinh danh cho riêng mình tôi, mà còn cho nền tự do mà chúng tôi đấu tranh. Nhưng điều này đã không diễn ra và chỉ sau khi kết thúc cuộc chiến người ta mới trao cho tôi giải thưởng. Trong lời vinh danh của Viện Hàn lâm Thụy Điển có nói đến tự do: đó là một từ có nhiều cách hiểu. Ở phía Tây, người ta hiểu chỉ là tự do nói chung: đối với tôi, tôi nghe từ tự do có nghĩa cụ thể hơn, nó ở trong quyền có nhiều hơn một đôi giày và được ăn khi đói. Tôi cảm thấy từ chối giải thưởng ít nguy hiểm hơn là nhận nó. Nếu tôi nhận, tôi sẽ bị gán cho cái mà tôi gọi là “thu hồi một cách khách quan.” Tôi đọc bài trên báo Figaro littéraire thấy nói “quá khứ chính trị gây tranh cãi của tôi sẽ không gây hại cho tôi.” Tôi biết bài báo đó không thể hiện ý kiến của Viện Hàn lâm, nhưng nó cho thấy rõ ràng trong phái tả người ta hiểu sự chấp nhận của tôi theo nghĩa nào. Tôi coi “quá khứ chính trị gây tranh cãi” này vẫn còn hiệu lực như trước đây, ngay cả nếu tôi có sẵn sàng thừa nhận trong nhóm đồng chí của mình một số sai lầm ở quá khứ. Như thế không phải là tôi muốn nói rằng giải Nobel là một giải thưởng “tư sản”, nhưng đó là cách diễn giải theo lối tư sản mà những giới tôi biết rõ sẽ nhất định đưa ra.

Cuối cùng tôi muốn nói đến vấn đề tiền bạc: Viện Hàn lâm Thụy Điển đã đặt một gánh nặng lên vai những người được giải khi kèm theo sự tôn vinh một số tiền lớn và vấn đề này đã làm tôi khó nghĩ. Hoặc là nhận giải và dùng số tiền nhận được ủng hộ cho những tổ chức hoặc phong trào mà hoạt động được coi là quan trọng: phần tôi, tôi nghĩ đến Ủy ban Apartheid ở London. Hoặc là từ chối giải vì những nguyên tắc chung và như thế là tước đi của phong trào này một sự ủng hộ nó đang cần. Nhưng tôi tin rằng đây là một vấn đề giả. Tôi lẽ tất nhiên từ chối 250,000 couron bởi vì tôi không muốn bị ràng buộc tổ chức ở cả Đông và Tây. Nhưng đồng thời cũng không thể đòi hỏi để vì 250,000 couron mà từ bỏ những nguyên tắc không chỉ là của anh mà còn được tất cả các đồng chí của anh chia sẻ.

Tất cả những điều này đã làm cho việc nhận giải hay từ chối giải trở nên nặng nề đối với tôi mà tôi buộc phải đưa ra.

Tôi muốn kết thúc lời tuyên bố này bằng sự bày tỏ thiện cảm đối với công chúng Thụy Điển.

JEAN-PAUL SARTRE (1964)

Tác giả: Ni Chi

Ảnh minh hoạ: Bess-Hamiti

📌 Ủng hộ tác giả và Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2 

 

[Review] Người bất tử – Bộ phim Việt đáng được khâm phục với kịch bản mới lạ

0

(925 chữ, 4 phút đọc)

Người bất tử có lẽ là bộ phim đầu tiên của Việt Nam tôi xem có kỹ xảo, hình ảnh tốt đến thế. Kịch bản bộ phim này cũng mới lạ và khó khăn so với trình độ làm phim của Việt Nam hiện nay. Có thể bộ phim đã làm nhiều người thất vọng vì tình tiết quá chậm và dài dòng nhưng tôi tôn trọng những người làm phim đã dám bước đến những phim với thể loại khó như vậy.

Thị hiếu khán giả Việt thích những phim mì ăn liền – phim chủ yếu để giải trí, cười cho đã, khóc cho đã rồi vài tháng sau quên luôn cả nội dung. Vậy nên những người làm phim không dám làm những bộ phim cần suy nghĩ quá nhiều. Họ sợ lỗ, sợ khán giả không chấp nhận. Vậy nên việc quyết định làm bộ phim này khiến tôi thực sự khâm phục. Tôi biết để làm ra một phim hay không chỉ cần kịch bản và diễn viên diễn tốt, mà cần rất nhiều khâu và tiền bạc.

Diễn viên thủ vai cậu Hùng đóng rất hợp nhưng Jun Vũ có vẻ mặt non và hiện đại quá nên hơi không phù hợp với vai diễn. Tôi không thích những tình tiết ma quái nhưng phim làm về tâm linh nên không tránh khỏi. Nếu phim nghiêng về khoa học chắc tôi sẽ thích hơn.

Một số triết lý trong phim cũng đáng để ngẫm nghĩ. Hình ảnh trong mỗi con người chúng ta đều có hai mặt thiện – ác, quan trọng chúng ta có chế ngự và cân bằng được nó hay không đó là cả một quá trình luyện tập. Cậu Hùng là người tốt nhưng mỗi lần con quỷ trong người nổi dậy lại làm cậu mất hết lý trí. Nó đại diện cho cái tôi, bản ngã, sự ích kỷ. Và cho dù mất cả trăm năm thì cậu cũng không thể chiến thắng được nó. Thế giới này đầy rẫy khổ đau cũng chính vì những tham vọng của loài người không bao giờ chấm dứt.

Bên cạnh đó còn có triết lý Phật giáo về nghiệp báo, gieo nhân nào gặt quả đó, không ai có thể thoát được kiếp luân hồi. Duyên nợ đều đã được sắp đặt, tại lúc đó, thời điểm đó chúng ta sẽ gặp người đó, cảnh đó, vật đó hoặc mất đi cái gì đó. Vậy nên hãy đón nhận nó như một điều hiển nhiên thì lòng sẽ bớt nặng nề, đau khổ hơn. Như cách cậu Hùng gặp Duyên, Hùng nhận ra Duyên tiền kiếp chính là Liên, chính là nghiệp đã quay lại trả nhưng Hùng vẫn đón nhận. Hùng không sợ hãi, đau khổ mà Hùng chấp nhận.

Lại một triết lý nữa về hiện tại. Trong phim có cảnh Hùng nói rằng cả đời Hùng sống mãi mà chẳng có nghĩa lý gì. Chỉ có lúc này, lúc bên Duyên, khi tình yêu hiện hữu mới chính là sự sống. Hùng trân trọng hiện tại nên mỗi khoảnh khắc ở bên Duyên anh đều làm mọi thứ cho cô. Con người chúng ta cũng vậy, chúng ta mải nghĩ về tương lai, về những kế hoạch và dự định của bản thân mà chưa bao giờ gọi điện hỏi thăm ba mẹ hay chạy về nhà ôm họ vào lòng. Chưa bao giờ chúng ta ngồi xuống cảm nhận tiếng chim hót, tiếng mái tôn nổ lách tách mà lúc nào đầu óc cũng suy nghĩ đến những chuyện xa xăm.

Việc bạn sống bao lâu không bằng trong khoảng thời gian sống bạn đã sống như thế nào. Có nhiều người già sợ chết không dám đi đâu, ở nhà loanh quanh vì muốn sống tiếp nhưng cuộc sống tẻ nhạt, buồn chán. Nhiều người làm mãi, làm suốt vì sợ sau này già rồi không biết làm gì ra tiền. Nhưng đáng vẫn là người chết ngay tại lúc này cũng được, họ không còn sợ cái chết nữa, cái họ sợ là sống không ra gì.

Tình tiết mấy ông Tây cố gắng điều tra về sự bất tử theo tôi nghĩ nó cũng muốn nói đến khoa học và tâm linh. Khoa học sẽ không thể lý giải được tâm linh vì chạm đến đúng cái ngưỡng đấy thì mọi việc đã không còn logic của khoa học nữa.

Bộ phim cũng nhắn nhủ, cảnh tỉnh cho những người lạm dụng bùa ngải chuộc lợi cho bản thân. Cái kết có vẻ làm mọi người khó hiểu nhưng nó cũng là một thông điệp rằng luân hồi không dứt và sẽ cứ tiếp tục nối mãi.

Tình tiết phim thì lúc đầu hay và gay cấn nhưng đến đoạn giữa thì tôi bị buồn ngủ vì phân cảnh dài lê thê mà còn quá chậm. Tôi nghĩ phim làm tăng nhịp độ thì sẽ hay hơn.

Về âm nhạc thì không có gì để chê, tôi bị ám ảnh và nghiện luôn nhạc phim. Sau đó mới biết cô ca sĩ Bùi Lan Hương này chuyên hát thể loại ma mị như vậy. Thêm một nghệ sĩ khiến tôi phải tôn trọng trong thời đại âm nhạc gần như là rác này.

Tôi vẫn mong phim ảnh Việt sẽ đi theo con đường làm phim thể loại này và khai thác thêm những kịch bản mới lạ thì mới có cơ hội tiến xa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Tác giả: Bà Năm

Ảnh minh hoạ: Poster phim Người bất tử

📌 Ủng hộ tác giả và Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2 

Xóa bỏ bức tường vô hình trong gia đình

0

(655 chữ, 3 phút đọc)

Có bao giờ bạn tự hỏi: “Tại sao mẹ không nghe mình nói, mẹ bảo thủ cố chấp?” Và bạn tưởng rằng là do mẹ già, mẹ không sống cùng thời chúng ta nên mẹ cổ hủ. Bạn với mẹ luôn bất đồng quan điểm và bạn luôn cho mình là đúng, mẹ là sai nhưng không biết giải quyết như thế nào? Bạn chọn cách ít nói chuyện với mẹ lại, tránh tiếp xúc với mẹ là cách giải quyết tốt nhất?

Nhưng bạn có bao giờ ngồi xuống và nghĩ nghiêm túc về việc đó? Tôi đã từng rất bất đồng quan điểm với mẹ. Mẹ tôi sống theo kiểu mấy bà già độc ác ấy, kiểu cả xã hội phải e dè và luôn tính toán lời lỗ vì mẹ là người làm ăn. Nhưng tôi lại hoàn toàn trái ngược, tôi không thích nắm trùm thiên hạ bởi tôi nghĩ mình không đủ khả năng, cũng chẳng có tham vọng. Vậy nên tôi quyết định sống kiểu của tôi nhưng mẹ tôi chẳng hề cấm cản khắt khe bởi vì tôi cũng tôn trọng cuộc sống của mẹ. Tôi nghĩ mình đáng lẽ cũng sẽ giống những đứa con khác, ghét mẹ của mình vì mẹ cứ sống theo kiểu đấy và lúc nào cũng bắt mẹ phải sống giống mình.

Mẹ của bạn tôi thì luôn luôn đứng phía bên kia chiến tuyến với nó. Bởi nó cứ về nhà là luôn mồm nói: “Sao mẹ cứ lau nhà hoài, một ngày lau một lần là được mà cứ quét lau suốt.” Việc gì nó không đồng tình nó cũng nói: “Sao mẹ cứ phải đi lo chuyện bao đồng nhà ai có việc gì cũng giúp trong khi nhà mình không lo.” Nó than vãn với tôi là mẹ nó rất bám chấp. Và nó không hề biết giữa nó với mẹ đã tạo ra một bức tường vô hình. Trong gia đình bạn, bạn cứ thử nhìn xem, có phải sẽ có người cùng phe với bạn và người thì luôn canh chừng để phản đối bạn. Bởi vì mỗi ngày chúng ta cứ xây cho nó cao lên, cao hơn nữa và cuối cùng là chúng ta không thể nhìn thấy nhau nữa. Trong đầu luôn nghĩ đến việc làm sao để bảo vệ ý kiến của mình và phản đối người kia.

Việc chúng ta phải làm khi nhận ra điều đó không phải là tránh né mà là hoá giải. Việc hoá giải là việc của chúng ta, những người hiểu được vấn đề. Thay vì cứ luôn chê trách: “Sao mẹ cứ thế này thế kia.” Tại sao chúng ta không thay bằng: “Mẹ làm vậy rất tốt nhưng mẹ cần nghỉ ngơi.” “Bữa nay nhà mình gọn gàng quá mẹ.” Từ từ đập vỡ bức tường đó. Không phải chuyện ngày một ngày hai nhưng nếu muốn hàn gắn ta phải kiên nhẫn. Vì ta đâu muốn những người thân yêu cũng chia bè phái với ta.

Vài tháng vài năm sau thấy mẹ mình chuyển sang cùng phe với mình thì lúc ấy nói: “Mẹ ơi, mẹ đừng đi lo việc nhà người ta nữa. Bữa nay thấy da mẹ hơi nhăn để con mua kem dưỡng cho mẹ.” thì mẹ cũng sẽ nghe ngay.

Quan trọng nhất trước khi đập vỡ bức tường vô hình ấy, chúng ta phải đập bỏ cái tôi của mình. Cái tôi cao, lúc nào cũng cho mình là đúng thì không thể làm được việc gì. Bạn tôi muốn giải quyết chuyện của mẹ nó với nó nhưng chính nó lại là người trách móc mẹ nó bám chấp thì nó lại vô tình trở thành người phán xét. Hãy vì tình yêu lớn thì nên hạ cái tôi nhỏ lại bạn nhé.

Tác giả: Bà Năm

Ảnh minh hoạ: SimsalabimSabrina

📌 Ủng hộ tác giả và Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2 

Fight Club – Đập vỡ các giới hạn để tìm ra sức sống mới

4

thđp review

(1614 chữ, 6.5 phút đọc)

Fight Club ra đời năm 1999, bên cạnh việc được đánh giá cao về mặt nội dung với nhiều lời thoại triết lý, các hình ảnh biểu tượng sâu sắc và nội dung kích thích tư duy thì nó cũng nhận về không ít những lời chỉ trích gay gắt về tính bạo lực và khả năng khuyến khích các thanh niên trẻ thành lập các câu lạc bộ đánh nhau hệt như trong phim. Nếu chỉ nhìn bề nổi thì Fight Club hiện ra với nội dung về những người đàn ông tìm kiếm sức mạnh của chính mình trên sàn đấu, truy cầu mục đích sống khi đối diện với đau đớn và cái chết. Trong thời đại hòa bình với chủ nghĩa tiêu thụ lên ngôi cùng sự an toàn, tẻ nhạt trong đời sống, người nam dần mất đi cảm giác về chính bản thân mình và ý nghĩa cuộc đời. Cộng thêm sự cạnh tranh của nữ giới, sức mạnh/giá trị của người đàn ông ngày càng đi xuống.

“How much can you know about yourself, if you’ve never been in a fight?” – Tyler Durden

💎 5 giai đoạn trên đạo lộ đến Nam Tính Thiêng Liêng

Fight Club là một sàn đấu dưới căn hầm của một quán rượu dành cho đám mày râu, ở đó họ được sử dụng tối đa sức mạnh cơ bắp và tinh thần cho những cuộc đấm đá vật lộn đến kiệt sức. Không tranh cãi, vũ khí hay thù hận, những người đàn ông lao vào một trận đấu để thách thức giới hạn và tìm lại chính mình.

Người tạo ra Fight Club là một gã không tên (tác giả chỉ gọi là “người kể chuyện”) và một gã khác mang tên Tyler Durden, cả hai vô tình gặp trên một chuyến bay. Hai người họ đã trở thành thủ lĩnh của rất nhiều đàn ông trên nước Mỹ trong cuộc hành trình tìm lại giá trị, sự tự tin. Đồng thời họ cũng lập ra một đội quân thế giới ngầm nổi loạn với hàng loạt kế hoạch phá hoại thành tựu của đất nước, đặc biệt liên quan đến ngành kinh tế. Theo tôi, nhân vật chính không có tên là một sự hàm ý rằng hắn đã quên mất chính bản thân mình hoặc hắn có thể là bất kỳ người nào trong số chúng ta, hoặc cả hai.

Xuyên suốt bộ phim, hình tượng của tính nam được xuất hiện nhiều lần: Cơ bắp, dương vật, sự kỷ luật, sự bạo lực và nổi loạn. Sự mỉa mai về sức sức mạnh của đàn ông được nhấn mạnh trong sự xuất hiện hội ung thư tinh hoàn và những lời đe dọa “cắt bi.” Ngoài ra sự đối lập giữa Fight Club với các câu lạc bộ ung thư cũng là điểm đáng chú ý. Một nơi, đàn ông tìm thấy sức mạnh của chính mình bằng việc chiến đấu với một người khác; còn một nơi, họ tìm thấy niềm an ủi cho bản thân khi chứng kiến nỗi bất hạnh của kẻ khác.

Fight Club đã lột tả rất trần trụi sự suy thoái, tàn tạ của con người đắm chìm trong thế giới vật chất mà lãng quên tâm hồn trong hình ảnh nhân vật chính (Edward Norton thủ vai) với gương mặt đờ đẫn vô cảm, đôi mắt thâm quầng nhìn về khoảng không trống rỗng phía trước cùng những bước đi uể oải thẫn thờ. Chính sự mệt mỏi trong tinh thần đã kéo tới sự kiệt quệ của thể xác.

Đây không phải là một bộ phim dễ nuốt vì mọi thứ trở nên phức tạp khi nó hé mở ra mối quan hệ giữa người kể chuyện và Tyler Durden (Brad Pitt thủ vai). Nội dung về đàn ông lắng xuống để những ý nghĩa về cuộc đấu tranh giữa con người thực và con người giả tạo, giữa ý thức và vô thức được lên ngôi. Câu chuyện từ thế giới vật lý nay chuyển sang thế giới tinh thần (tâm linh).

Ngay từ ban đầu, người kể chuyện là một kẻ mắc chứng mất ngủ và ở trong tình trạng mơ màng nửa thức nửa mê. Căn bệnh này có nguyên nhân từ đời sống nhàm chán, rập khuôn máy móc, đầy đủ tiện nghi nhưng xa rời đam mê và mục đích sống. Và trong trạng thái vô thức, người kể chuyện đã tự thay đổi cuộc sống của chính mình bằng cách hủy hoại tất cả và làm những điều chưa từng làm trước đó. Tuy nhiên, vấn đề ở đây đó là dù một kẻ sống ngoan ngoãn như một con cừu hay nổi loạn như sư tử mà vẫn trong trạng thái vô thức về những gì mình làm thì hai điều đó có gì khác nhau đối với hắn hay không? Bộ phim thành công ở việc đã khéo léo đưa vào nội dung về sự thức tỉnh của người kể chuyện để hắn có thể nhìn thấy được cả hai thái cực mình đã vô thức trải qua. Và chỉ khi nào có ý thức thì hắn mới thực sự có tự do (khỏi thế giới vật chất và thế giới mơ ước tưởng tượng.)

“If you wake up at a different time, in a different place, could you wake up as a different person?”

Song song với việc nói về quá trình thức tỉnh của người kể chuyện, bộ phim cũng chỉ ra tận mặt những góc tối của xã hội cuồng loạn vì đồng tiền thông qua những câu thoại trần trụi, gay gắt, thậm chí ngông cuồng của nhân vật Tyler Durden. Càng ngày, con người càng bị truyền thông dắt mũi và sống một cuộc đời ảo tưởng về chính bản thân mình và thế giới. Họ ngày đêm vun đắp, truy đuổi những ước mơ xa hoa phù phiếm để cuối cùng chỉ chuốc về đau khổ và thất vọng. Sự tư hữu của con người với tài sản vật chất hay với bất kỳ ý tưởng nào chỉ khiến họ trở thành nô lệ của chúng.

 “Advertising has us chasing cars and clothes, working jobs we hate so we can buy shit we don’t need.” – Tyler Durden

Trong phim, Tyler Durden hiện ra là nhân vật sống hết mình cho hiện tại, dù nó có đau đớn và kinh hoàng đến cỡ nào. Hiện tại là thứ duy nhất có thật và nếu phải vứt bỏ đi ý tưởng đẹp đẽ nhất về Chúa để sống hiện tại ấy thì hắn cũng sẵn sàng. Có thể nói, tác giả xây dựng hình tượng Tyler Durden khiến nhiều người thèm khát và ngưỡng mộ khi hắn mang một sức sống cuộn trào và sự chú tâm sâu sắc dành cho cuộc đời.

Tính bạo lực thể hiện trong Fight Club với các cảnh đánh đấm bê bết máu, mặt mũi nát bươm thảm hại có thể gây hiểu lầm đây là bộ phim vô trách nhiệm tiêm nhiễm sự tàn bạo vào tâm trí khán giả. Còn theo tôi thì sự trần trụi, dữ dội trong cách thể hiện sức mạnh thể chất/cơ bắp giúp tăng cảm giác “thật” về sự đau đớn thể xác, từ đó người xem đồng cảm sâu sắc hơn với những xung động mãnh liệt trong các hành động của nhân vật. Máu là hình ảnh đại diện cho sức sống. Cảnh đánh nhau tung tóe máu như một sự hàm ý về việc đập vỡ các giới hạn của chính mình để tìm ra nguồn sống sinh động ẩn giấu phía sau.

Những người đàn ông trong phim tìm thấy khoái cảm trong sự đau đớn thể xác. Nỗi đau khiến họ kết nối sâu sắc hơn với cơ thể của chính mình. Khi ấy, họ cảm thấy mình được sống – đây là một niềm hạnh phúc to lớn nhưng dễ bị bỏ qua trong sự tất bật vội vàng của cuộc sống hàng ngày.

Bộ phim dung chứa rất nhiều cảnh tượng về sự tan nát, hủy diệt, hủy hoại, phá hoại như một hàm ý về sự đập vỡ đi các giới hạn trong tư tưởng về chính bản thân mình để có thể kiến tạo nên một con người tự do theo ý muốn. Ở đây, sự phát triển không nằm trong sự gây dựng mà nằm trong sự sụp đổ.

“It’s only after we’ve lost everything that we’re free to do anything.” – Tyler Durden

Về mặt hình thức, kỹ xảo điện ảnh của phim Fight Club được đầu tư rất công phu khiến khán giả được thỏa mãn con mắt, ví dụ cảnh mở đầu của bộ phim biểu diễn xung động sợ hãi của người kể chuyện qua các sợi dây thần kinh, sau đó là các cảnh quay biểu diễn ảo giác của người kể chuyện khi anh ta ở trong trạng thái mất ngủ, hay cảnh sụp đổ của các tòa nhà tài chính khổng lồ.

Tóm lại, Fight Club là một tác phẩm điện ảnh không thể bỏ qua. Sự khó nuốt và kén người xem của nó là một thách thức và một nét quyến rũ riêng. 8.8/10 là điểm dành cho bộ phim này.

“We’re the middle children of history, man. No purpose or place. We have no Great War. No Great Depression. Our great war is a spiritual war. Our great depression is our lives. We’ve all been raised on television to believe that one day we’d all be millionaires, and movie gods, and rock stars, but we won’t. And we’re slowly learning that fact. And we’re very, very pissed off.” – Tyler Durden

Tác giả: Vũ Thanh Hòa

Ảnh minh họa: Sadie Pices

Niết bàn có vô thường không?

2

Để trả lời câu hỏi này trước tiên chúng ta hãy xem xét sơ qua những kiến thức cơ bản về niết bàn để giúp những người chưa từng tiếp xúc có thể dễ dàng nắm bắt hơn.

Niết bàn―phiên âm theo tiếng Anh là Nirvana, tiếng Pali: nibbāna (निब्बान), tiếng Phạn, nirvāṇa (निर्वाण) (trong Phạn ngữ thì chữ ‘b’ và ‘v’ hay được phát âm lẫn lộn nhau, giống như trong tiếng Việt người Bắc phát âm chữ ‘l’ và ‘n’ lẫn lộn)―có thể được xem là mục tiêu cuối cùng của Phật giáo. Thuật ngữ niết bàn mô tả một trạng thái giải thoát, tự do, không còn khổ đau và luân hồi (luân hồi là một vòng lặp vô tận của sự sinh ra và chết đi), không còn khổ đau có nghĩa là tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến, chẳng hạn như tất cả những thứ khiến bạn đang đau khổ thì đối với một người đã đạt được niết bàn họ sẽ thấy bình thường như không có gì xảy ra, họ có thể châm lửa tự thiêu sống chính mình nhưng vẫn ngồi im bình chân như vại như Thích Quảng Đức.

Theo những gì tôi đã nghiên cứu và học được, chữ niết bàn hiểu theo nghĩa đen có nghĩa là dập tắt, đã được dập tắt, extinguished. Dập tắt ngọn đèn dầu được pha trộn từ 3 thành phần mà trước giờ người Việt vẫn gọi là tham, sân, si (ngôn ngữ hiện đại gọi là: tham lam, giận dữ, vô minh). Tham lam và giận dữ thì ai cũng đã biết. Ham muốn đạt được niết bàn cũng là một trở ngại dẫn tới niết bàn. Vô minh (Avidyā) trong Phật giáo có nghĩa là sự thiếu hiểu biết về bản chất thật sự của thực tại, cụ thể là triết lý về sự vô thường và vô ngã. Vô minh được cho là nguồn gốc của đau khổ (dukkha), là mấu chốt đầu tiên của quá trình luân hồi bất tận.

Niết bàn cũng có thể được hiểu qua ví dụ lucid dreaming: khi một người có thể ý thức được họ đang mơ, biết rằng đây chỉ là một giấc mơ, không phải là sự thật, thực tại, mà chỉ là ảo ảnh, ảo giác. Giả sử như một người lucid dream đang giao hợp kết cấu với một người đẹp bốc lửa nóng chảy, đang bị một con chó rượt đuổi, trúng số độc đắc, bị người khác hãm hại, mơ mình là một người giàu sang phú quý thành đạt, là một người nghèo đói khố rách áo ôm, là một tù nhân, một tên tội đồ, một vị thánh nhân v.v.. Người đã biết được niết bàn cũng thấy thế giới này suy cho cùng cũng chẳng khác gì một giấc mơ. Mọi thứ chỉ là những sự phóng chiếu, như trong rạp phim người ta phóng chiếu một thước phim lên một bức màn trắng trống rỗng và bạn ngồi dưới nhâm nhi bắp rang với ly Coca-Cola thưởng thức. Họ hiểu biết tất cả chỉ là một ảo giác và không bị vướng mắc hay cuốn trôi vào thế giới ảo tưởng đó nữa.

Có một bài hát thiếu nhi trong tiếng Anh nhiều người biết có lời rằng,

“Row, row, row your boat
Gently down the stream
Merrily, merrily, merrily, merrily
Life is but a dream.” (Đời không là gì khác ngoài một giấc mơ.)

Nhắc tới cho vui thôi, không phải với mục đích chứng minh gì.

Niết bàn không phải là một địa điểm nơi một người có thể đi tới. Niết bàn không bị chi phối bởi vô thường (anicca), không thể đảo ngược, “undo”, không thể mất đi. Nhiều người nghĩ quy luật vô thường áp dụng cho tất cả mọi thứ, không có ngoại lệ, nhưng nhận định này chưa hoàn toàn chính xác, toàn diện. Vô thường chỉ áp dụng cho mọi thứ ở thế giới hiện tượng, được cấu tạo, được hình thành (sankhara), có điều kiện, conditioned. Niết bàn là vô điều kiện, unconditioned.

“There is, monks, an unborn, unbecome, unmade, unconditioned. If, monks there were not that unborn, unbecome, unmade, unconditioned, you could not know an escape here from the born, become, made, and conditioned. But because there is an unborn, unbecome, unmade, unconditioned, therefore you do know an escape from the born, become, made, and conditioned.” ― Phật Thích Ca, Udāna 8.3

(Bản Việt dịch) “Này các Tỷ-kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thì ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi.” (Hòa thượng Thích Minh Châu dịch)

Ví dụ như những trẻ em phương Tây khi còn nhỏ được nghe kể và tin rằng có một ông già Noel bụng to mặc áo đỏ râu tóc bạc phơ cưỡi tuần lộc bay trên trời vào đêm Giáng Sinh để phát quà cho các em nhỏ, sau này lớn lên biết được sự thật là không có một ông già nào như vậy. Hiểu biết ấy sẽ không bao giờ mất đi, một khi đã nhận biết chứng ngộ được sự thật, đã loại trừ được vô minh, thì sự thật đó sẽ không mất đi, một người sẽ không quay trở lại với thế giới ảo tưởng mê lầm nữa.

Có một sự khác biệt trong cách hiểu giữa hai trường phái Đại Thừa và Thượng tọa bộ (Theravada) (nhiều người vẫn gọi là Tiểu thừa). Theo Thượng Tọa bộ, niết bàn có tự tính (svabhava), vô điều kiện, là một thế giới nằm ngoài thế giới có điều kiện. Nhưng theo Đại Thừa, đặc biệt là Trung quán tông, bản chất của niết bàn là tính không và không có tự tính, như mọi thứ khác. Nói cách khác, theo Đại thừa, niết bàn là vĩnh cửu bởi vì nó không tồn tại, Chögyam Trungpa nói rằng nó “hoàn toàn không thể bị phá hủy bởi vì nó không tồn tại.” “Không tồn tại” ở đây được hiểu theo cách hiểu tính không. Theo Đại thừa, niết bàn cũng chính là luân hồi, nirvana is samsara, bởi bản chất của cả hai đều là tính không. Niết bàn nằm trong thế giới luân hồi, bạn không thể từ bỏ thế giới luân hồi để tìm kiếm niết bàn. Ngoài ra nó còn liên quan và có thể giải thích bằng chân lý bất nhị (nhất nguyên), oneness, non-duality. Ấn giáo đề cập đến chân lý này sâu rộng hơn Phật giáo. Để thấu hiểu rõ hơn về vấn đề này thì cần một bài viết chi tiết khác.

Trở lại với câu hỏi của tiêu đề, hãy tiếp tục đào sâu hơn. Loài người chúng ta có một thói quen cố hữu đó là kết nối ngôn ngữ với thực tại, không phải lúc nào hành động này cũng dẫn đến kết quả đúng. Cái gì có một cái tên, chúng ta gắn vào nó một thực tại. Niết bàn cũng là một cái tên, và chúng ta nghĩ rằng nó là một “thứ” gì đó. Niết bàn nói về một hiện tượng khi mọi danh sắc biến mất, được dập tắt.

Ví dụ một trường hợp cụ thể là một căn phòng trống, không có người và đồ vật, lúc đó bạn có thể nói rằng đây là một căn phòng trống rỗng. Có người nói, “sự trống rỗng ở đâu hãy chỉ cho tôi xem.” Câu nói này là vô nghĩa, vô lý. Bởi vì trống rỗng không phải là một thứ đồ vật gì đó, nó chỉ là một tính từ miêu tả sự không có gì. Tương tự như thế, khi bạn hoàn toàn kết nối được với “không gian” trống rỗng―từ nó mọi thứ khác phát sinh, “sắc tức thị không, không tức thị sắc” (Bát nhã tâm kinh)―hiểu biết đó là vĩnh cửu, nó không phải là một “thứ” gì đó có thể được cấu tạo ra, đặt điều kiện, hay bị phá huỷ.

Tóm lại niết bàn không bị sự chi phối của vô thường.  Tâm thức là một thực thể một khi đã được mở rộng sẽ không bao giờ có thể trở lại với chiều kích ban đầu của nó.

*  *  *

Tác giả: Prana

Featured image: Mikegi

📌 Ủng hộ tác giả và Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2 

 

Bình tĩnh mà sống

2

(850 chữ, 3.5 phút đọc)

Cuộc sống này vẫn luôn là một ẩn ngữ, ý nghĩa đó sẽ mãi được cất giấu trong tất cả sự vô thường: Thân xác, tâm hồn, tiền bạc vật chất, thời gian. Tất cả khiến ta quay vần xung quanh nó, hiến dâng cuộc đời mình nhưng lại chỉ luôn thấy một bàn tay độc ác sẽ thiêu trụi đi tất cả.

Thân xác sẽ vỡ tung thành tro bụi trần gian bởi sinh lão bệnh tử. Thời gian vẫn nương theo gió thoảng mây bay bởi mỗi giây mỗi phút trôi qua, sự già nua được cảm nhận rõ nét trong cử chỉ hình dáng tâm trí và ngay thậm chí cả linh hồn. Tâm hồn nuôi dưỡng đứa trẻ trong ta khôn lớn, vội in dấu bước chân đầu tiên vùng vẫy ngoài biển khơi để sớm quay trở về ôm đất xa trời. Đã sống trong thân phận một kẻ khố rách áo ôm, cũng đã có lúc ăn ngon mặc đẹp ở nhà bóng mát, nhưng rồi cuộc đời lên voi xuống chó biết bao lần ngủ lang thang bơ vơ ngoài vỉa hè. Đau đớn trong khoảnh khắc người mình yêu thương quay lưng cố tình đánh rơi nỗi tuyệt vọng cho ta nhặt được.

Chúng ta sẽ sợ hãi, sẽ kêu la như chưa từng kêu la như thế. Mọi thứ sẽ chỉ như một chiếc bóng lướt nhanh ngang cuộc đời, khiến trái tim ta ngạt thở trong nỗi buồn sầu mộng. Ta tiếc nuối thứ ánh sáng chiếu rọi mà ta đã trông thấy, sợ hãi những điều ta yêu quý sẽ lần lượt bước chân vào buổi hoàng hôn dằng dặc. Chúng ta chỉ muốn nâng niu gìn giữ ánh sáng soi chiếu diệu vợi lẫn hiện tại và cả tương lai. Ôi làm sao có thể chịu nỗi cảnh tượng thành phố rộng lớn đồ sộ ngay lập tức biến thành xác chết với đống tro tàn. Nhưng có một chân lý không bao giờ thay đổi, đó là “sự đổi thay.”

Chính vì thế đừng cố biến mình thành một kẻ canh thức gác đền cho các ngôi mộ, bởi mọi thứ ta có hôm nay sẽ là xác chết khi ánh dương ngày mai lóe rạng. Chúng ta không thể mang vác một xác chết bước qua ngày kia, bởi nó sẽ trở nên ung thối và hôi thiu. Ngừng ảo tưởng sẽ hít thở được mùi vị của vĩnh cửu, bởi chẳng có gì là bất diệt. Mọi thứ rồi sẽ nằm lại như một cái thây ma, bị phủi lên đầy những lớp bụi bặm.

Biết được thế thì phải luôn trong tư thế chủ động giương cao tinh thần đón chào cơn cuồng phong, tiếng gầm gừ, rít gió. Phải biết cười cợt và khinh bỉ tất cả những điều tốt đẹp nhất bạn đang có, cười cợt cả những kẻ đang sống thân phận kẻ canh gác đêm. Bởi sự u mê của họ dù có cố gắng đến đâu cũng thua một tên trộm lén lút. Tất cả rồi sẽ bị đánh cắp, không trừ một ai.

Không có kẻ tiên tri nào có thể đảm bảo mọi sự vững vàng. Nhưng không phải vì thế mà phó mặc bất cần. Sống thì phải một lần được ngắm nhìn những ngôi sao lấp lánh, thấy được vẻ đẹp lộng lẫy tinh khôi của đêm tối. Đừng để sự e dè cẩn trọng vồ chụp bám riết ta. Sự sụp đổ hôm nay chính là nền tảng cho một cuộc cách mạng mới ngày mai. Một sự tuyệt vời khác sẽ lại được hồi sinh trong hình dáng mới lạ và tươi tắn. Quan trọng là đôi mắt chúng ta có đủ tinh anh để nhìn ra không.

Thay vì ngồi ủ rũ cho tất cả những thứ đã sụp đổ tan tác, hãy nhìn vào tên nô lệ vừa được giải thoát như là một phương tiện để vượt qua. Chúng ta có thể bị rối loạn, bị xô đẩy, bật khóc nức nở như một đứa trẻ rồi trở lại làm một đứa trẻ. Sẽ lại bắt đầu tập đi, tập nói, vấp ngã rồi đứng lên. Hãy vượt thắng sự già nua của tâm hồn để trở về trong tâm hồn một đứa trẻ thơ, sẽ lại nhìn cuộc đời bằng những màu sắc rực rỡ. Chẳng phải chúng ta đã bắt đầu từ con số không tròn trĩnh đấy sao?

Chúng ta khởi sinh từ nguồn cội, theo dòng nước cuốn xa, chảy ra biển lớn rồi vỡ tan giữa đại dương mênh mông. Tôi đã học được rằng chẳng có gì là vĩnh cửu. Sinh, trụ, hoại, diệt là một vòng tuần hoàn của tất cả sự vật hiện hữu.

Vậy nên tất cả những gì tốt đẹp nhất hôm nay đều có thể sụp đổ ngay ngày mai. Nhưng chính vì lẽ ấy mà đau đớn tuyệt vọng này rồi cũng sẽ đến lúc vẫy tay chào tạm biệt ta.

Nên cứ thế thôi! Bình tĩnh mà sống!

Tác giả: Ni Chi

Ảnh minh hoạ: Bess-Hamiti

📌 Ủng hộ tác giả và Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố ➡️ http://bit.ly/2KTJCN2 

[THĐP Review] Sức mạnh của hiện tại (The Power of Now), Eckhart Tolle – Chìa khóa mở cánh cửa đến sự bình yên

1

thđp review

(1204 chữ, 5 phút đọc)

Tác giả Eckhart Tolle được nhà sách Watkins Books xem là người có ảnh hưởng nhất thế giới về tâm linh. Năm 2008, một bài viết của The New York Times đã gọi Tolle là tác giả về tâm linh nổi tiếng nhất nước Mỹ.

Cuốn Sức mạnh của hiện tại là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông. Tính đến năm 2009 riêng tại Bắc Mỹ, số lượng tiêu thụ được ước tính là 3 triệu bản và đã được dịch ra 33 ngôn ngữ. Cuốn sách gồm cả thảy 10 chương là tập hợp những câu hỏi truy cầu chân lý của mọi người và lời giải đáp của Eckhart Tolle dành cho họ.

Nội dung của cuốn sách nhấn mạnh nhiều lần vào tầm quan trọng của việc an trú trong hiện tại, sự hư ảo của thời gian và ý nghĩa của sự vâng phục (surrender) đối với sự thức tỉnh của một người. Đây là các nội dung tâm linh không còn xa lạ với nhiều người trên thế giới nhưng chúng được Eckhart Tolle diễn đạt một cách rất linh động và đa dạng nên tạo ra sự mới mẻ và sức cuốn hút riêng. Bài nói của ông có sự kết hợp của nhiều lời dạy ở các tôn giáo lớn (Phật Giáo, Ấn Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo) hay với những trích dẫn từ những nhân vật kiệt xuất trong lịch sử như Đức Phật, Jesus, Lão Tử, Einstein, Nietzsche, Meisten Eckhart, v.v…

Các thuật ngữ Eckhart Tolle trình bày rất đơn giản, phổ thông, dễ tiếp cận được tới nhiều người. Có thể nói, cuốn sách Sức mạnh của hiện tại mang một văn phong hiện đại, cởi mở, thoáng đạt mà không kém phần sắc sảo. Người đọc có thể tiếp cận được với câu trả lời theo nhiều cách khác nhau từ các minh họa đa dạng của Eckhart Tolle. Một vấn đề được tiếp cận ở nhiều mặt với nhiều cách diễn đạt khác nhau khiến cho nó được giải quyết một cách chặt chẽ và triệt để. Chưa kể điều này còn khiến việc tiếp cận câu trả lời không trở thành một sự lặp lại nhàm chán với độc giả, giúp họ tránh rơi vào hiệu ứng bị “nhờn thuốc.”

Có những người đã lên đường tìm kiếm chân lý, sự bình an nội tâm nhưng họ vẫn luẩn quẩn ở trong tâm trí mà không hề tiếp xúc trực tiếp được với cuộc sống trong hiện tại. Và khi càng nuôi lớn bản ngã bằng việc lún sâu vào ảo tưởng quá khứ – tương lai, người đó càng kiến tạo thêm nhiều những nỗi đau khổ, bất an cho cuộc đời mình. Cuốn sách như một người chỉ đường, giúp độc giả nhận ra sự thật bị che phủ sau tấm màn vô minh của tâm trí. Bằng sự thông suốt và giản dị trong cách diễn đạt, Eckhart Tolle cho ta thấy được cuộc sống chỉ diễn ra ngay bây giờ và lúc này, còn mọi khoảnh khắc đã qua hay chưa tới đều là ảo ảnh. Khi nhận biết được đâu là thực, đâu là ảo, một người mới có khả năng sống bình thản và tận hưởng.

Những nội dung được diễn đạt trong cuốn sách mang một sức mạnh rất lớn có thể áp dụng được vào đa dạng hoàn cảnh. Nếu một người đã có những trải nghiệm về khổ đau, thời gian hay bản ngã thì có thể tiếp xúc và cảm nhận cuốn sách một cách sâu sắc để từ đó họ có thể chuyển hóa nội tâm tận gốc rễ. Có một số nội dung vượt lên trên sự suy luận của tư duy, không thể hiểu được nếu tiếp cận bằng tâm trí hay bằng suy nghĩ. Chúng chỉ có thể được hiểu bằng trải nghiệm trực tiếp, bằng sự cảm nhận. Nói cách khác, cuốn sách này thách thức và phá vỡ các tư duy, khái niệm. Vậy nên cuốn Sức mạnh của hiện tại không thích hợp cho những ai chưa sẵn sàng cởi mở đầu óc mình. Nếu ông Eckhart Tolle bảo rằng “Bạn không phải là tâm trí bạn”, “Những khổ đau trong cuộc sống đều do bạn tự gây ra cho mình”, “Không hề có quá khứ hay tương lai” “Bạn chỉ có thể giác ngộ ngay bây giờ” v.v… Vậy bạn có dám nghe, dám tin vào những điều đó không nếu bạn chưa có sự trải nghiệm?

Eckhart Tolle nói lặp lại nhiều lần chìa khóa duy nhất giúp một người giải thoát khỏi tâm trí đó là an trú trong hiện tại. Dù người ta có đặt câu hỏi đủ loại, đủ kiểu thì cuối cùng câu trả lời vẫn dẫn về hiện tại. Đây như một lời nhắc, lời nhấn mạnh của tác giả để kéo mọi người trải nghiệm cái Bây giờ. Một người có thể thực hành lời dạy của Eckhart Tolle vào bất kỳ khoảnh khắc nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Tóm lại, đây là một trong những cuốn sách tâm linh đáng đọc trong vô vàn sách vở diễn đạt về sự an trú trong hiện tại và sự quy phục. Đặc biệt khi theo dõi kênh youtube của Eckhart Tolle, ta có thể dễ dàng cảm nhận được sự thanh thản, bình yên toát ra từ thần thái, giọng điệu và cử chỉ của ông. Không chỉ những lời giảng mang lại sự chỉ dẫn, ngay sự hiện diện của ông cũng trở thành tấm gương để người khác học hỏi và noi theo.

Một số phát biểu đáng chú ý trong cuốn sách:

“Nguyên nhân chính của bất hạnh không bao giờ là hoàn cảnh, mà là suy nghĩ của bạn về hoàn cảnh ấy.”

“Giống như chó thích gặm xương, tâm trí thích gặm nhấm vấn đề của chính nó.”

“Thời gian không quý giá chút nào, bởi vì nó là ảo tưởng. Những gì bạn cảm nhận là quý giá không phải là thời gian mà là một điểm nằm ngoài thời gian: cái Bây giờ. Nó mới là điều thực sự quý giá. Bạn càng tập trung vào thời gian – quá khứ và tương lai, bạn càng bỏ lỡ cái Bây giờ, điều quý giá nhất.”

“Hầu hết, mọi người đều yêu thương cái bi kịch cuộc đời của riêng họ. Diễn biến trong quá khứ của họ được xem là chính bản thân họ, hình thành cái tự ngã hư ngụy điều động cuộc sống của họ. Toàn bộ cảm nhận về cái tôi của họ đều được đầu tư vào cái bi kịch đó. Ngay cả nỗ lực – thường không thành công – tìm kiếm một lời đáp, một giải pháp, hay tìm cách chữa lành mọi đau khổ cũng trở thành một phần của bi kịch đó. Điều mà họ sợ hãi và phản kháng nhiều nhất chính là hồi kết thúc tấn bi kịch của họ. Bao lâu họ vẫn còn là tâm trí của họ, thì điều mà họ sợ hãi và phản kháng nhiều nhất chính là sự tỉnh thức của riêng họ.”

Tác giả: Vũ Thanh Hòa

Ảnh minh họa: downloadsach

📌 Ủng hộ tác giả và Triết Học Đường Phố ➡️http://bit.ly/donateTHDP

📌 Tham gia viết bài cùng Triết Học Đường Phố ➡️http://bit.ly/2KTJCN2